https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/issue/feed Tạp chí Y học Việt Nam 2026-10-06T14:59:12+07:00 Tạp chí Y học Việt Nam toasoan@tapchiyhocvietnam.vn Open Journal Systems <p><strong>1. T&ecirc;n cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o in (b&aacute;o in, tạp ch&iacute; in):</strong></p> <p><strong>Tổng hội Y học Việt Nam</strong></p> <p><strong>Địa chỉ:</strong> 68A B&agrave; Triệu, Phường Cửa Nam, Th&agrave;nh phố H&agrave; Nội</p> <p><strong>Điện thoại:</strong> 024 39431866&nbsp;</p> <p><strong>2. T&ocirc;n chỉ, mục đ&iacute;ch:</strong></p> <p>- Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng; ch&iacute;nh s&aacute;ch, ph&aacute;p luật của Nh&agrave; nước về y học;</p> <p>- Phổ biến những th&agrave;nh tựu khoa học, c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu, kiến thức khoa học trong nước v&agrave; quốc tế về nghiệp vụ y tế.</p> <p><strong>3. Đối tượng phục vụ: </strong>Hội vi&ecirc;n Tổng hội Y học Việt Nam, c&aacute;c c&aacute;n bộ y tế, sinh vi&ecirc;n y, dược v&agrave; bạn đọc quan t&acirc;m.</p> <p><strong>4. Thể thức xuất bản: </strong>Ấn phẩm in</p> <p><strong>5. Ấn phẩm ch&iacute;nh:</strong></p> <p>- T&ecirc;n gọi: Tạp ch&iacute; Y học Việt Nam.</p> <p>- Ng&ocirc;n ngữ thể hiện: Tiếng Việt, tiếng Anh.</p> <p>- Kỳ hạn xuất bản: 03 kỳ/th&aacute;ng tiếng Việt v&agrave; 02 kỳ/năm tiếng Anh.</p> <p>- Thời gian ph&aacute;t h&agrave;nh: Ng&agrave;y 15&amp;30 h&agrave;ng th&aacute;ng;</p> <p>- Khu&ocirc;n khổ: 19cmx27cm;</p> <p>- Số trang: 380 trang kỳ tiếng Việt v&agrave; 180 trang kỳ tiếng Anh.</p> <p>&nbsp;</p> https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19022 ĐỒNG THUẬN ĐA CHUYÊN KHOA TRONG QUẢN LÝ NGƯỜI BỆNH BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH ĐỒNG MẮC BỆNH TIM MẠCH 2026-10-04T13:05:58+07:00 Ngô Quý Châu tapchiyhocvietnam@gmail.com Huỳnh Văn Minh tapchiyhocvietnam@gmail.com Chu Thị Hạnh hanhct@tamanhhospital.vn Vũ Văn Giáp tapchiyhocvietnam@gmail.com Phan Thu Phương tapchiyhocvietnam@gmail.com Vũ Văn Thành tapchiyhocvietnam@gmail.com Lê Thị Tuyết Lan tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Văn Thọ tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Ngọc Phương Thư tapchiyhocvietnam@gmail.com Lê Thị Thu Hương tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Mạnh Hùng tapchiyhocvietnam@gmail.com Văn Đức Hạnh tapchiyhocvietnam@gmail.com Hoàng Anh Đức tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh lý hô hấp mạn tính phổ biến, thường đồng mắc với nhiều bệnh ngoài phổi, trong đó bệnh tim mạch ở người bệnh BPTNMT có thể chưa được nhận diện đầy đủ do triệu chứng của hai bệnh chồng lấp và ảnh hưởng lẫn nhau. Sự hiện diện đồng thời của hai bệnh làm gia tăng triệu chứng, giảm chất lượng cuộc sống, tăng nguy cơ nhập viện và tử vong. Tuy nhiên, bệnh tim mạch ở người bệnh BPTNMT thường bị bỏ sót do sự chồng lấp về biểu hiện lâm sàng. Chính vì vậy Hội Hô Hấp Việt Nam phối hợp với Hội Tim mạch Việt Nam xây dựng bản “Đồng thuận đa chuyên khoa trong quản lý người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc bệnh tim mạch” dựa trên các bằng chứng khoa học của các hướng dẫn, các nghiên cứu trong nước và quốc tế cập nhật nhất. Bản đồng thuận này gồm 5 chương và 4 phụ lục và 65 tài liệu tham khảo, đã được ban hành vào tháng 3/2026, các quý độc giả có thể tham khảo toàn văn tài liệu này trên trang web: https://hoihohapvietnam.org và https://vnha.org.vn. Trong khuôn khổ của 1 bài báo chúng tôi xin được giới thiệu rất tóm tắt về bản đồng thuận này theo từng mục tương ứng với từng chương của tài liệu. Nội dung: BPTNMT và bệnh tim mạch có mối liên hệ hai chiều thông qua nhiều cơ chế bệnh sinh chung như hút thuốc lá, lão hóa, viêm toàn thân, stress oxy hóa, rối loạn chức năng nội mô, thiếu oxy máu, rối loạn thần kinh tự chủ và căng phồng phổi. Đợt cấp BPTNMT là yếu tố thúc đẩy mạnh các biến cố tim mạch cấp tính như nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp và tử vong tim mạch. Việc chẩn đoán cần dựa trên đánh giá nguy cơ, nhận diện triệu chứng gợi ý và phối hợp các phương tiện thăm dò phù hợp. Quản lý người bệnh cần có sự phối hợp giữa chuyên khoa Hô hấp và Tim mạch nhằm tối ưu hóa điều trị hai bệnh lý đồng mắc. Các biện pháp điều trị bao gồm tối ưu hóa thuốc giãn phế quản, liệu pháp bộ ba ICS/LABA/LAMA ở nhóm nguy cơ cao, duy trì các thuốc tim mạch có lợi như thuốc chẹn beta chọn lọc tim, thuốc ức chế hệ renin–angiotensin–aldosterone, SGLT2i và các biện pháp không dùng thuốc như cai thuốc lá, phục hồi chức năng và tiêm phòng. Kết luận: BPTNMT đồng mắc bệnh tim mạch là một tình trạng phức tạp cần được tiếp cận toàn diện. Chiến lược quản lý đa chuyên khoa giúp phát hiện sớm bệnh đồng mắc, tối ưu hóa điều trị, giảm biến cố và cải thiện tiên lượng lâu dài cho người bệnh. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19023 TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ DỮ LIỆU LỚN TRONG BỆNH NHIỄM TRÙNG: BỐI CẢNH TOÀN CẦU, THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG TẠI VIỆT NAM 2026-10-04T13:19:27+07:00 Trần Quang Bính tapchiyhocvietnam@gmail.com Trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn đang chuyển đổi y học hiện đại, đặc biệt trong lĩnh vực bệnh nhiễm trùng. Công nghệ AI ngày càng được ứng dụng nhiều hơn trong chẩn đoán hình ảnh y tế, phát hiện nhiễm trùng huyết sớm, dự đoán bùng phát, tối ưu hóa điều trị và quản lý kháng sinh. Song song đó, sự mở rộng nhanh chóng của hồ sơ sức khỏe điện tử, cơ sở dữ liệu phòng thí nghiệm, hệ thống hình ảnh, thông tin bộ gen và giám sát dịch tễ học đã tạo ra các bộ dữ liệu chăm sóc sức khỏe quy mô lớn phù hợp với các ứng dụng học máy và học sâu. Trên toàn cầu, AI đã chứng minh hiệu suất đầy hứa hẹn trong việc phát hiện bệnh lao phổi và viêm phổi, dự đoán mức độ nghiêm trọng của sốt xuất huyết, hỗ trợ giám sát COVID-19 và đẩy nhanh quá trình phát triển thuốc và vắc-xin. Tại Việt Nam, một số bệnh viện đã bắt đầu triển khai hệ thống X quang hỗ trợ AI, công cụ theo dõi chăm sóc đặc biệt và các chương trình quản lý kháng sinh điện tử. Các sáng kiến sức khỏe số quốc gia và hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm cũng đang dần tạo nền tảng cho việc tích hợp AI trong tương lai. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức đáng kể, bao gồm tiêu chuẩn hóa dữ liệu hạn chế, hệ thống thông tin y tế bị phân mảnh, thiếu khả năng tương tác, lo ngại về tính minh bạch của mô hình và thiếu chuyên môn liên ngành. Các vấn đề đạo đức và pháp lý liên quan đến quyền riêng tư của bệnh nhân và bảo mật dữ liệu cũng là những rào cản lớn đối với việc triển khai quy mô lớn. Đánh giá này tóm tắt các ứng dụng chính của AI và Dữ liệu lớn trong các bệnh nhiễm trùng, đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam và thảo luận về các cơ hội và thách thức trong tương lai đối với việc tích hợp AI vào hệ thống quản lý bệnh nhiễm trùng và y tế công cộng. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19024 ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỦA CÁC THỂ MÔ HỌC HIẾM GẶP TRONG UNG THƯ TRỰC TRÀNG: TỔNG QUAN Y VĂN 2026-10-04T13:22:20+07:00 Vương Thị Hà Ngân 39vuonghangan@gmail.com Nguyễn Chí Tuệ tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Công Trình tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Ung thư trực tràng chủ yếu là adenocarcinoma, tuy nhiên một số thể mô học hiếm gặp như mucinous adenocarcinoma, signet-ring cell carcinoma, squamous cell carcinoma, adenosquamous carcinoma và u thần kinh nội tiết có đặc điểm sinh học ác tính hơn, tiến triển nhanh và tiên lượng xấu. Các thể này thường có biểu hiện hình ảnh phức tạp, dễ bị bỏ sót hoặc chẩn đoán muộn nếu không được nhận diện đúng. Mục tiêu: Mô tả và phân tích đặc điểm hình ảnh của các thể mô học hiếm gặp trong ung thư trực tràng, đồng thời đối chiếu với mô bệnh học nhằm hỗ trợ chẩn đoán và định hướng điều trị. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, tổng hợp các trường hợp ung thư trực tràng thể hiếm gặp được ghi nhận tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM. Phân tích đặc điểm hình ảnh trên CT và MRI, so sánh với kết quả giải phẫu bệnh. Kết quả: Các thể mô học hiếm có những đặc điểm hình ảnh tương đối đặc trưng: u tuyến nhầy có tín hiệu T2 cao và ít hạn chế khuếch tán; ung thư tế bào nhẫn biểu hiện dày thành dạng lan tỏa kiểu “target sign”; ung thư tế bào vảy và tuyến–vảy thường không đồng nhất; u thần kinh nội tiết thường là tổn thương nhỏ dưới niêm, tăng sinh mạch rõ. MRI có giá trị cao trong nhận diện và phân biệt các thể này. Kết luận: Việc nhận biết đặc điểm hình ảnh của các thể mô học hiếm gặp trong ung thư trực tràng có vai trò quan trọng trong chẩn đoán sớm, định hướng sinh thiết và lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp, góp phần cải thiện tiên lượng bệnh nhân. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19025 TỔNG QUAN VỀ CHĂM SÓC VÀ QUẢN LÝ BUỒNG TIÊM TRUYỀN DƯỚI DA 2026-10-04T13:25:56+07:00 Nguyễn Thùy An annt@tahospital.vn Đặt vấn đề: Buồng tiêm truyền dưới da (totally implantable venous access device – TIVAD) cung cấp đường truyền tĩnh mạch trung tâm lâu dài, nhưng an toàn sử dụng phụ thuộc thực hành chuẩn hóa về tiếp cận, chăm sóc, theo dõi biến chứng và năng lực điều dưỡng; bằng chứng tại Việt Nam còn phân tán và chưa được tổng hợp hệ thống. Mục tiêu: Tổng hợp y văn quốc tế và Việt Nam nhằm (1) mô tả thực hành chuẩn trong chăm sóc, duy trì TIVAD và đối chiếu với thực hành tại Việt Nam; (2) phân tích thực trạng biến chứng và các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử trí biến chứng; và (3) làm rõ vai trò điều dưỡng, thực trạng kiến thức – thực hành điều dưỡng và vai trò giáo dục người bệnh. Phương pháp: Tổng quan tường thuật theo chủ đề, báo cáo tham chiếu khuyến nghị SANRA; tra cứu PubMed, Cochrane Library, CINAHL, Google Scholar (đến 31/3/2026) và nguồn chuyên môn điều dưỡng Việt Nam (Tạp chí Y học Việt Nam, Tạp chí Điều dưỡng Việt Nam, cổng thông tin Bộ Y tế). Lựa chọn có chủ đích, không sàng lọc hệ thống; 13 tài liệu cốt lõi được trích dẫn trực tiếp trong giới hạn của tạp chí. Kết quả: 1) Thực hành chuẩn hội tụ ở kỹ thuật vô khuẩn không chạm, sát khuẩn bằng chlorhexidine trong cồn, kim buồng tiêm không tạo lõi, xác nhận hồi lưu máu trước truyền và thông tráng NaCl 0,9% ngắt quãng kết thúc áp lực dương; dung dịch khóa và lịch duy trì cần cá thể hóa, khoảng 8–12 tuần có thể phù hợp ở người bệnh ổn định khi có hệ thống theo dõi; Việt Nam chưa có hướng dẫn quốc gia thống nhất. (2) Các nhóm biến chứng chính gồm nhiễm khuẩn, tắc nghẽn, huyết khối, thoát mạch và biến chứng cơ học. Tuy nhiên, tỷ lệ biến chứng chung khá thấp (6,4%), trong đó, nhiễm khuẩn tại chỗ 1,8%, nhiễm khuẩn huyết 0,9%, huyết khối 0,9%. (3) Kiến thức và thực hành điều dưỡng còn hạn chế và chưa đồng đều. Kết quả một nghiên cứu cho thấy có tới 68,3% điều dưỡng có kiến thức chăm sóc buồng tiêm ở mức trung bình – yếu, chỉ 5,8% biết đúng thời gian lưu kim tối đa; đào tạo chính thức liên quan có ý nghĩa với điểm kiến thức, và can thiệp giáo dục có cấu trúc cải thiện rõ kiến thức, kỹ năng. Kết luận: Chăm sóc TIVAD an toàn đòi hỏi quy trình dựa trên bằng chứng, xác nhận năng lực điều dưỡng theo chu trình chăm sóc, giáo dục người bệnh và hệ thống giám sát biến chứng. Việt Nam cần hướng dẫn thống nhất, bộ chỉ số chất lượng và nghiên cứu đa trung tâm để kiểm định các chiến lược chăm sóc phù hợp bối cảnh. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19026 TỔNG QUAN BỆNH PHỔI KẼ TRONG HỘI CHỨNG KHÁNG SYNTHETASE 2026-10-04T13:28:29+07:00 Lã Quý Hương huonglq@tamanhhospital.vn Hội chứng kháng synthetase là một bệnh tự miễn hiếm gặp, có biểu hiện lâm sàng đa dạng với các triệu chứng thường gặp bao gồm viêm cơ, sốt, viêm khớp, hiện tượng Raynaud, dấu hiệu “bàn tay thợ cơ khí” và bệnh phổi kẽ. Hội chứng kháng synthetase được coi là nằm trong nhóm các bệnh lý cơ viêm tự miễn. Mặc dù có sự chồng lấp về mặt lâm sàng với viêm da cơ và viêm đa cơ, điểm khác biệt quan trọng là sự hiện diện của các kháng thể kháng synthetase. Bệnh phổi kẽ liên quan đến hội chứng kháng synthetase là biến chứng nghiêm trọng nhất của hội chứng kháng synthetase, cần được đánh giá kỹ lưỡng về lâm sàng, hình ảnh học, các kiểu hình lâm sàng đặc trưng liên quan đến kháng thể kháng synthetase nhằm định hướng chẩn đoán, tiên lượng và lựa chọn chiến lược điều trị và quản lý phù hợp. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19027 CÁC YẾU TỐ DỰ ĐOÁN CẤY MÁU DƯƠNG TÍNH Ở BỆNH NHÂN NGHI NHIỄM KHUẨN HUYẾT TẠI KHOA CẤP CỨU: XÂY DỰNG HAI MÔ HÌNH ĐIỂM ED-CBS VÀ ED-PRO 2026-10-04T13:31:00+07:00 Nguyễn Thanh Lành ntlanh0492@gmail.com Tôn Minh Trí tapchiyhocvietnam@gmail.com Phó Thiên Phước tapchiyhocvietnam@gmail.com Thạch Minh Huy tapchiyhocvietnam@gmail.com Tất Hoàng Phát tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Khảo sát các yếu tố liên quan đến cấy máu dương tính và xây dựng hai mô hình điểm ED-CBS và ED-Pro nhằm hỗ trợ phân tầng nguy cơ cấy máu dương tính ở bệnh nhân nghi nhiễm khuẩn huyết tại khoa Cấp cứu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả phân tích trên 185 bệnh nhân trưởng thành được chỉ định cấy máu tại khoa Cấp cứu năm 2025. Các yếu tố liên quan độc lập được xác định bằng hồi quy logistic đa biến. Khả năng phân biệt được đánh giá bằng đường cong ROC. ED-CBS gồm NLR, tiểu cầu và CRP; ED-Pro gồm NLR, tiểu cầu và procalcitonin. Hai mô hình được kiểm định nội bộ bằng bootstrap và kiểm định chéo 5 phần. Kết quả: Tỷ lệ cấy máu dương tính là 27,0%. Nhóm dương tính có NLR, PCT, CRP, điểm SOFA và creatinin cao hơn, đồng thời tiểu cầu thấp hơn so với nhóm âm tính (p<0,05). NLR và PCT là hai biến đơn lẻ có AUC cao nhất, đều bằng 0,736. Sau hiệu chỉnh đa biến, NLR ≥15 và nguồn nhiễm tiết niệu liên quan độc lập với cấy máu dương tính. ED-CBS và ED-Pro đạt AUC lần lượt là 0,772 và 0,789. AUC sau bootstrap và kiểm định chéo lần lượt là 0,765 và 0,758 đối với ED-CBS; 0,783 và 0,778 đối với ED-Pro. Tỷ lệ cấy máu dương tính tăng từ 8,3% ở nhóm ED-Pro 0–1 điểm lên 90,9% ở nhóm 5 điểm. Kết luận: Trên bệnh nhân nghi nhiễm khuẩn huyết tại cấp cứu, NLR ≥15 và nguồn nhiễm tiết niệu là các yếu tố liên quan độc lập với cấy máu dương tính. ED-CBS và ED-Pro có khả năng phân biệt ở mức khá và tương đối ổn định sau kiểm định nội bộ, nhưng cần được kiểm định ngoài trước khi áp dụng rộng rãi. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19028 GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA PROCALCITONIN TRONG PHÁT HIỆN NHIỄM KHUẨN HUYẾT TẠI KHOA CẤP CỨU BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2026-10-04T13:36:30+07:00 Tôn Minh Trí triton0810@gmail.com Đặng Thị Oanh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Hoàng Khương tapchiyhocvietnam@gmail.com Lý Gia Cường tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Đánh giá giá trị chẩn đoán của Procalcitonin (PCT) trong phát hiện nhiễm khuẩn huyết tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu cắt ngang phân tích giá trị chẩn đoán trên 774 bệnh nhân ≥18 tuổi được chỉ định xét nghiệm Procalcitonin tại khoa Cấp cứu từ tháng 01/2025 đến tháng 12/2025 và có đủ dữ liệu đánh giá theo tiêu chuẩn Sepsis-3. Giá trị chẩn đoán của PCT được đánh giá bằng đường cong ROC và xác định ngưỡng cắt tối ưu theo chỉ số Youden. Kết quả: Có 262 bệnh nhân (33,9%) được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết. Nồng độ PCT ở nhóm nhiễm khuẩn huyết cao hơn rõ rệt so với nhóm không nhiễm khuẩn huyết (2,62 ng/mL so với 0,13 ng/mL; p<0,001). PCT có giá trị chẩn đoán tốt với AUC đạt 0,897 (95% CI: 0,872–0,919), cao hơn CRP (AUC = 0,682; 95% CI: 0,637–0,731) và bạch cầu (AUC = 0,610; 95% CI: 0,553–0,667). Ngưỡng cắt tối ưu của PCT là 0,32 ng/mL với độ nhạy 84,7%, độ đặc hiệu 77,1%, giá trị tiên đoán dương 65,5% và giá trị tiên đoán âm 90,8%. PCT có tương quan thuận mức độ yếu với SOFA (ρ = 0,168; p = 0,006) và SOFA-2 (ρ = 0,147; p = 0,017). Kết luận: Procalcitonin có giá trị chẩn đoán tốt trong phát hiện nhiễm khuẩn huyết tại khoa Cấp cứu và vượt trội hơn CRP và bạch cầu. PCT có thể hỗ trợ nhận diện sớm bệnh nhân nghi nhiễm khuẩn huyết và góp phần phân tầng nguy cơ ban đầu trong thực hành cấp cứu. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19029 CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH XOẮN TẠNG TRONG CẤP CỨU NHI KHOA 2026-10-04T13:41:46+07:00 Mai Tấn Liên Bang mailienbang@gmail.com Đặt vấn đề: Xoắn tạng trong cấp cứu nhi khoa là nhóm bệnh lý cấp tính đe dọa đến khả năng sống còn của cơ quan nếu không được nhận diện kịp thời. Triệu chứng lâm sàng ở trẻ em thường không điển hình, khiến chẩn đoán hình ảnh (CĐHA) giữ vai trò then chốt. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh đặc trưng của các dạng xoắn tạng thường gặp và ít gặp qua chuỗi ca lâm sàng, hệ thống hóa các dấu hiệu định danh và đánh giá vai trò của các phương tiện hình ảnh trong định hướng xử trí. Đối tượng và Phương pháp: Báo cáo loạt ca lâm sàng kết hợp tổng quan y văn các trường hợp: xoắn trung tràng, xoắn mạc nối lớn, xoắn tinh hoàn, xoắn mấu phụ tinh hoàn/mào tinh, và xoắn buồng trứng được chẩn đoán, điều trị tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP.HCM từ tháng 01/2025 đến tháng 02/2026. Kết quả: Phân tích chi tiết 5 ca lâm sàng đại diện cho từng loại xoắn tạng. Siêu âm Doppler màu đóng vai trò chủ đạo giúp phát hiện các dấu hiệu hình thái trực tiếp và huyết động. Dấu hiệu "xoáy nước" (Whirlpool sign) là mẫu số chung có giá trị đặc hiệu cao nhất cho các tình trạng xoắn. Bàn luận: Nghiên cứu phân tích về cơ chế hình thành dấu hiệu xoáy nước, các giới hạn của phổ Doppler màu như cạm bẫy tưới máu kép trong xoắn buồng trứng hoặc xoắn không hoàn toàn, đồng thời thiết lập chiến lược tiếp cận hình ảnh theo độ tuổi và nguyên tắc an toàn bức xạ ALARA. Kết luận: Nhận diện sớm dấu hiệu xoáy nước và biến đổi hình thái trên siêu âm giúp thiết lập chẩn đoán chính xác, tối ưu hóa thời gian vàng để can thiệp phẫu thuật bảo tồn cơ quan. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19030 ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM CỦA XOẮN TINH HOÀN ẨN: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG 2026-10-04T13:44:09+07:00 Hồ Thị Ánh Hiền drhienho@gmail.com Chung Gia Viễn tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Kim Ngân tapchiyhocvietnam@gmail.com Lê Anh Thành tapchiyhocvietnam@gmail.com Phan Văn Bình tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Xoắn tinh hoàn là một cấp cứu ngoại khoa cần được chẩn đoán sớm nhằm bảo tồn chức năng sinh sản. Trong đó, xoắn tinh hoàn trên nền tinh hoàn ẩn có thể bị chẩn đoán nhầm. Siêu âm hiện là phương tiện chủ yếu để hỗ trợ chẩn đoán và giúp đánh giá tưới máu tinh hoàn. Mục tiêu: Trình bày đặc điểm siêu âm của xoắn tinh hoàn ẩn thông qua một trường hợp lâm sàng ở trẻ 4 tháng tuổi, đồng thời tổng quan vai trò của siêu âm trong chẩn đoán bệnh lý này. Phương pháp: Báo cáo ca lâm sàng kết hợp tổng quan tài liệu. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, hình ảnh siêu âm và kết quả phẫu thuật. Tìm kiếm tài liệu được thực hiện trên các cơ sở dữ liệu y học quốc tế. Kết quả: Bệnh nhi nam 4 tháng tuổi nhập viện vì quấy khóc, kèm khối sưng vùng bẹn. Siêu âm phát hiện tinh hoàn nằm trong ống bẹn, nhu mô giảm âm không đồng nhất và mất tín hiệu tưới máu trên Doppler. Phẫu thuật xác nhận xoắn tinh hoàn nhiều vòng, hồng lại một phần sau khi đắp ấm 15 phút. Tổng quan tài liệu cho thấy các dấu hiệu siêu âm điển hình gồm: tinh hoàn giảm phản âm, mất tín hiệu Doppler và dấu hiệu “xoáy nước” của thừng tinh. Triển vọng nghiên cứu: Việc nâng cao nhận thức lâm sàng và tối ưu hóa quy trình siêu âm Doppler có thể giúp cải thiện khả năng chẩn đoán sớm. Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào tiêu chuẩn hóa dấu hiệu siêu âm và đánh giá giá trị của các kỹ thuật hình ảnh mới. Kết luận: Xoắn tinh hoàn ẩn là tình trạng hiếm nhưng nguy hiểm, dễ bị bỏ sót ở trẻ nhỏ. Siêu âm Doppler đóng vai trò then chốt trong chẩn đoán sớm, giúp định hướng xử trí kịp thời và cải thiện tiên lượng. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19031 MOYAMOYA: NHỮNG ĐIỀU BÁC SĨ CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH CẦN BIẾT 2026-10-04T13:49:06+07:00 Nguyễn Phương Anh anhnp4@tamanhhospital.vn Nguyễn Duy Trinh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Xuân Hiền tapchiyhocvietnam@gmail.com Bối cảnh: Bệnh Moyamoya và hội chứng Moyamoya là những rối loạn mạch máu não mạn tính tiến triển, đặc trưng bởi hẹp hoặc tắc nghẽn động mạch cảnh trong tận cùng và sự phát triển của mạng lưới mạch máu bàng hệ bất thường1.Chẩn đoán sớm vẫn còn khó khăn do biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu và các dấu hiệu hình ảnh ban đầu không rõ ràng. Mục đích: Cung cấp tổng quan cập nhật về hình ảnh thần kinh của bệnh lý mạch máu Moyamoya, nhấn mạnh các tiêu chí chẩn đoán năm 2021 và vai trò của MRI trong chẩn đoán, phân loại bệnh và ra quyết định lâm sàng. Phương pháp: Tổng quan dựa trên các tiêu chí chẩn đoán sửa đổi năm 2021 và các tài liệu gần đây về các kỹ thuật MRI tiên tiến, bao gồm hình ảnh thành mạch và hình ảnh tưới máu. Nội dung chính: Theo tiêu chí năm 2021, Moyamoya có thể được chẩn đoán ngay cả trong các trường hợp tổn thương một bên nếu có đặc điểm hình ảnh điển hình. Điểm cập nhật quan trọng là vai trò của chuỗi heavy T2-weighted trong phát hiện giảm đường kính ngoài của động mạch cảnh trong và động mạch não giữa, phát hiện giảm đường kính mạch máu. Chụp cộng hưởng từ (MRI) cung cấp đánh giá toàn diện về lòng mạch, nhu mô và huyết động học bằng các kỹ thuật tiên tiến như chụp hình thành mạch và chụp hình tưới máu với chất đánh dấu nội sinh (Arterial Spin Labeling)2. Việc phân biệt giữa bệnh Moyamoya và hội chứng Moyamoya đòi hỏi phải loại trừ các nguyên nhân tiềm ẩn, điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc quản lý và tiên lượng. Kết luận: MRI giữ vai trò quan trọng trong đánh giá bệnh lý mạch máu moyamoya theo quan điểm hiện đại. Việc áp dụng phương pháp tiếp cận đa thông số không chỉ giúp chẩn đoán chính xác và phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm mà còn cải thiện khả năng phân tầng nguy cơ, qua đó hỗ trợ lựa chọn chiến lược điều trị tối ưu. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19032 "BẪY" GIẢI PHẪU TRONG PHẪU THUẬT CẮT TÚI MẬT: BIẾN THỂ ĐƯỜNG MẬT PHÂN THÙY SAU LẠC CHỖ (HUANG TYPE A5) VÀ Ý NGHĨA LÂM SÀNG 2026-10-04T13:52:23+07:00 Nguyễn Thị Kim Ngân nguyenkimngan9364@gmail.com Chung Gia Viễn tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Thủy Trúc tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Phương Đan tapchiyhocvietnam@gmail.com Hồ Quốc Cường tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Các biến thể giải phẫu hệ thống đường mật trong gan xảy ra ở 20-45% dân số, làm tăng nguy cơ tổn thương trong phẫu thuật cắt túi mật. Biến thể đường mật phân thùy sau gan phải (RPHD) đổ lạc chỗ vào ống túi mật, phân loại Huang type A5, tuy hiếm gặp nhưng có ý nghĩa lâm sàng quan trọng và dễ bị bỏ sót trước mổ. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh trên MRCP của biến thể Huang type A5, nhấn mạnh các bẫy chẩn đoán và giá trị trong định hướng phẫu thuật. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả dạng tổng quan minh họa bằng hình ảnh (pictorial review), phân tích 3 trường hợp lâm sàng điển hình có xác định biến thể Huang type A5 trên MRCP tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TPHCM. Đánh giá chi tiết vị trí đổ của RPHD, đường kính ống, góc hợp lưu, dấu hiệu gián tiếp và hình ảnh tái tạo 3D. Kết quả: MRCP cung cấp hình ảnh không xâm lấn, độ phân giải cao, cho phép xác định chính xác đường đi và vị trí đổ của RPHD. Tái tạo 3D hỗ trợ trực tiếp lập kế hoạch phẫu thuật. Bẫy chẩn đoán thường gặp: nhầm RPHD với ống gan phải hoặc đánh giá sai vị trí hợp lưu do chồng hình. Kết luận: Biến thể Huang type A5 là "bẫy" giải phẫu nguy hiểm trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Nhận thức đầy đủ các đặc điểm hình ảnh và bẫy chẩn đoán, cùng với phối hợp hiệu quả giữa các chuyên khoa, là chìa khóa phòng ngừa tổn thương đường mật. Việc chuẩn hóa quy trình đọc MRCP, ứng dụng tái tạo 3D và phối hợp đa chuyên khoa có tiềm năng nâng cao khả năng phát hiện sớm các biến thể hiếm và tối ưu hóa chiến lược điều trị. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19033 VIÊM ĐƯỜNG MẬT TIÊN PHÁT PHỐI HỢP HỘI CHỨNG SJOGREN: CA LÂM SÀNG 2026-10-04T14:04:22+07:00 Mai Thị Minh Tâm maiminhtam1960@yahoo.fr Hoàng Thị Quỳnh Anh tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Thu Phương tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Khắc Khiêm tapchiyhocvietnam@gmail.com Vũ Trường Khanh tapchiyhocvietnam@gmail.com Viêm đường mật tiên phát (primary biliary cholangitis-PBC) là bệnh gan tự miễn mạn tính và rất hiếm gặp, do phá hủy các đường dẫn mật nhỏ trong gan, ứ mật gây viêm và xơ gan, bệnh đặc trưng bởi sự hiện diện của kháng thể kháng ty thể (anti mitochondrial antibodies -AMA), liên quan cơ chế tự miễn và thường phối hợp các bệnh tự miễn khác. Hội chứng Sjögren thường gặp ở bệnh nhân viêm đường mật tiên phát từ 7-34% với các triệu chứng khô mắt, sưng tuyến nước bọt, tổn thương khớp, đau cơ, yếu cơ, ngứa, viêm mạch da, Raynaud, tổn thương hô hấp, tổn thương thần kinh. Chúng tôi mô tả ca bệnh nhân nữ 46 tuổi, chẩn đoán và điều trị viêm đường mật tiên phát nhiều năm dương tính với kháng thể kháng ty thể và phối hợp hội chứng Sjögren, biểu hiện khô miệng, lạnh buốt ngón 2 tay phải, và các tự kháng thể: ANA, SSA, Ro-52, gp210, Mi-2β dương tính. Bệnh nhân được kiểm soát bệnh với sự kết hợp acid ursodeoxycholic, fibrate và chăm sóc toàn diện. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19034 ỨNG DỤNG CT SCAN ĐÁNH GIÁ CHÂN CUNG TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ VẸO CỘT SỐNG 2026-10-04T15:07:05+07:00 Trần Quang Hiển dr.tranquanghien@gmail.com Lê Trần Hùng tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Đánh giá vai trò của cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT) trong khảo sát chân cung và hiệu quả ứng dụng kỹ thuật đặt vít chân cung hình phễu trong điều trị vẹo cột sống nặng. Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 32 bệnh nhân (24 nữ, 8 nam; tuổi trung bình 17,9) bị vẹo cột sống nặng được phẫu thuật lối sau với cấu hình toàn vít chân cung từ năm 2006 đến 2010. Bệnh nhân được chụp MSCT từ N1 đến TL5 trước mổ để đánh giá đường kính chân cung, độ xoay và chiều sâu thân đốt, đồng thời chụp MSCT kiểm tra sau mổ để đánh giá vị trí vít theo phân loại RAO. Kết quả: Có 547 vít chân cung đã được đặt. Tỷ lệ vít đặt tốt (RAO độ 0) đạt 82% (450 vít); độ 1 chiếm 7,6% (42 vít); độ 2 chiếm 6,2% (34 vít); và độ 3 chiếm 3,8% (21 vít). Có 6 bệnh nhân phải mổ sửa lại đối với 15 vít độ 3 (chiếm 2,7% tổng số vít), đạt kết quả tốt sau mổ. 7 vít độ 3 còn lại không cần sửa do nằm ngoài chân cung nhưng không ảnh hưởng lâm sàng. Vít lệch vị trí chủ yếu nằm ở vùng cột sống ngực bên lõm hoặc vùng ngực cao bên lồi do chân cung quá nhỏ hoặc không có chân cung (đoạn N2–N6 có 13 đốt không có chân cung, chiếm 2,37%). Kết luận: Khảo sát MSCT trước mổ là công cụ đắc lực giúp lập kế hoạch phẫu thuật, nhận diện dị dạng giải phẫu, xác định hướng đi và kích thước vít. Kết hợp kỹ thuật chân cung hình phễu đem lại độ chính xác cao và hạn chế tối đa các tai biến thần kinh, mạch máu Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19035 KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH LOÃNG XƯƠNG BẰNG THANG ĐIỂM QUALEFFO-41 2026-10-04T15:10:58+07:00 Phạm Thị Ngọc Anh tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Thị Hoài Thanh hoaithanh.tran218@gmail.com Đào Thị Hằng Nga tapchiyhocvietnam@gmail.com Bùi Vũ Bình tapchiyhocvietnam@gmail.com Loãng xương là tình trạng rối loạn chuyển hoá của xương dẫn đến tổn thương độ chắc của xương, bao gồm sự toàn vẹn về khối lượng và chất lượng, làm tăng nguy cơ gãy xương 1. Loãng xương là bệnh xương phổ biến, là vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn2. Trên thế giới ước tính có hơn 200 triệu người bị loãng xương, 1/3 nữ giới và 1/5 nam giới trên 50 tuổi bị gãy xương do loãng xương, tại Việt Nam ước tính tỷ lệ mắc bệnh loãng xương là 27% ở phụ nữ và 13% ở nam giới3. Loãng xương ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, đánh giá đúng chất lượng cuộc sống của từng bệnh nhân loãng xương giúp cho người thầy thuốc có chiến lược tư vấn, điều trị và dự phòng phù hợp hơn4. Có nhiều công cụ để đánh giá vấn đề này, trong đó thang điểm Qualeffo-41 có độ tin cậy được đánh giá bằng hệ số nhất quán nội tại (Cronbach’s α) khá cao5. Mục tiêu: Mô tả chất lượng cuộc sống của bệnh nhân loãng xương đến khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa Tâm Anh năm 2024 dựa trên thang điểm Qualeffo-41. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên197 bệnh nhân được chẩn đoán loãng xương tại Khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh từ 01/01/2024 đến 31/03/2024. Kết quả: Độ tuổi trung bình của nhóm đối tượng là 67,6 ± 11,3, nhỏ nhất 32 tuổi và lớn tuổi nhất là 101 tuổi; nữ giới (88,3%); đã kết hôn (83,2%); đa số có trình độ văn hóa trung học cơ sở trở xuống (chiếm 55,8%); số đối tượng trong nghiên cứu có thời gian bị loãng xương từ 5 đến 10 năm (54,8%), không có biến chứng (57,4%); 79,7% bệnh nhân loãng xương cho thấy giảm chất lượng cuộc sống. Trong đó có 65,0% bệnh nhân giảm chức năng tinh thần, 72,1% giảm chức năng xã hội, 75,1% giảm chức năng sức khoẻ tổng quát; Nhóm tuổi trên 70 tuổi có tỷ lệ giảm chất lương cuộc sống (87,8%) cao hơn nhóm dưới 70 tuổi (74,8%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,0308 (<0,05). Kết luận: Chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân loãng xương phải được tìm hiểu và điều tra, mục đích là tư vấn, hỗ trợ, can thiệp thích hợp để giúp bệnh nhân chấp nhận và đối phó với bệnh. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19036 XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI BỘ TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG MỘT SỐ DẠNG THUỐC DÀNH CHO TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH: ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI VỀ KIẾN THỨC CỦA ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỨC ĐỘ HIỂU BIẾT CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC 2026-10-04T15:16:19+07:00 Hoàng Phương Thúy thuyhp@tamanhhospital.vn Nguyễn Thị Kim Anh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Lan Anh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Thùy Dương tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Linh Đan tapchiyhocvietnam@gmail.com Nông Thị Thanh Phương tapchiyhocvietnam@gmail.com Cẩn Tuyết Nga tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Trẻ em có nguy cơ cao gặp sai sót trong sử dụng thuốc do đặc điểm sinh lý chưa hoàn thiện và sự phụ thuộc vào người chăm sóc. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sai sót dùng thuốc trên trẻ em tại nhà dao động từ 30-80% [1]. Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, số lượng trẻ em thăm khám và điều trị nội trú chiếm tỷ lệ lớn, tuy nhiên chưa có tài liệu hướng dẫn sử dụng thuốc chuẩn hóa dành cho điều dưỡng và người chăm sóc. Mục tiêu: (1) Xây dựng và ban hành tài liệu hướng dẫn sử dụng các dạng thuốc dành cho trẻ em; (2) Đánh giá sự thay đổi về mức độ hiểu biết của người chăm sóc và kiến thức của điều dưỡng ngay sau khi triển khai chương trình tư vấn và đào tạo dựa trên bộ tài liệu chuẩn hóa. Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp so sánh trước- sau. Bộ tài liệu chuẩn hóa được xây dựng cho 9 dạng thuốc thường dùng ở trẻ em, gồm văn bản hướng dẫn, tờ rơi minh họa và video tích hợp mã QR. Điều dưỡng được đào tạo và người chăm sóc được tư vấn dựa trên bộ tài liệu. Sự thay đổi về kiến thức của điều dưỡng và mức độ hiểu biết của người chăm sóc được mô tả bằng bộ câu hỏi chuẩn hóa trước và ngay sau triển khai. Kết quả: Ở người chăm sóc, tỷ lệ trả lời đúng trung bình của 9 nhóm dạng thuốc tăng từ 29.7% trước tư vấn lên 100% ngay sau tư vấn. Ở điều dưỡng (n=182), tỷ lệ đạt kiến thức tốt tăng từ 23.1% lên 80.8%, riêng tại khoa Nhi (n=70) tỷ lệ đạt kiến thức tốt tăng từ 27.1% lên 90%. Kết luận: Bộ tài liệu hướng dẫn sử dụng thuốc dành cho trẻ em đã chuẩn hóa hoạt động đào tạo và tư vấn tại bệnh viện. Kết quả đánh giá ngay sau can thiệp ghi nhận tỷ lệ trả lời đúng của người chăm sóc và tỷ lệ điều dưỡng đạt kiến thức tốt cao hơn so với trước triển khai. Cần có các nghiên cứu theo dõi dài hạn để đánh giá khả năng duy trì kiến thức, thay đổi hành vi sử dụng thuốc và tác động đến các chỉ số an toàn điều trị. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19037 KHẢO SÁT KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT ĐIỀU TRỊ VANCOMYCIN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH 2026-10-04T15:25:04+07:00 Hoàng Thị Lan Lanht3@tamanhhospital.vn Nông Thị Thanh Phương tapchiyhocvietnam@gmail.com Cẩn Tuyết Nga tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Giám sát điều trị thông qua định lượng nồng độ thuốc trong máu (TDM) là công cụ quan trọng để hiệu chỉnh liều vancomycin, nhằm tối ưu hiệu quả điều trị, giảm độc tính và hạn chế đề kháng vi khuẩn. Mục tiêu: Khảo sát kết quả bước đầu triển khai hoạt động giám sát điều trị vancomycin; đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đạt đích AUC 400-600 mg.h/L tại lần định lượng đầu tiên bằng hồi quy logistic. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên bệnh nhân nội trú ≥ 18 tuổi, không lọc máu/ không sử dụng biện pháp thay thế thận, sử dụng vancomycin truyền ngắt quãng và được TDM từ 06/2025 đến 04/2026. AUC được ước tính bằng phần mềm SmartDoseAI để hiệu chỉnh liều, với mục tiêu đạt 400–600 mg.h/L. Kết quả: Có 46 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, đa số là nam (63%), trung vị tuổi 62.5. Tỷ lệ đạt đích tích lũy AUC 400-600 mg.h/L qua các lần định lượng tăng từ 37% ở lần định lượng đầu lên 63% ở lần thứ ba; có 63% bệnh nhân có ít nhất một lần đạt đích. Không ghi nhận trường hợp tổn thương thận cấp theo tiêu chí creatinin của RIFLE trong thời gian sử dụng vancomycin. Phân tích hồi quy logistic đa biến không cho thấy có yếu tố nào liên quan có ý nghĩa thống kê với khả năng đạt đích (p > 0.05). Mặc dù không đạt ý nghĩa thống kê, việc tư vấn liều ban đầu bởi dược sĩ cho thấy xu hướng cải thiện khả năng đạt đích ngay từ lần định lượng đầu tiên (OR = 3.64; KTC 95%: 0.95–16.41; p = 0.059). Kết luận: Nghiên cứu cung cấp những bằng chứng ban đầu cho thấy việc triển khai hoạt động giám sát điều trị vancomycin tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội là khả thi, đồng thời tạo cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện quy trình TDM trong tương lai. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19038 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH CARBAPENEM TRONG ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH NHIỄM KHUẨN TIÊU HÓA TẠI KHOA NGOẠI TỔNG HỢP – BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH GIAI ĐOẠN 2025-2026 2026-10-04T15:29:04+07:00 Nguyễn Thị Thủy thuynt38@tamanhhospital.vn Nông Thị Thanh Phương tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Tối ưu hóa việc sử dụng carbapenem là yếu tố then chốt nhằm hạn chế sự phát triển và lây lan của các chủng vi khuẩn đa kháng. Mục tiêu: Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh carbapenem trong điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn tiêu hóa tại khoa Ngoại tổng hợp giai đoạn 2025-2026. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang trên 54 bệnh án của bệnh nhân nhiễm khuẩn tiêu hóa được chỉ định kháng sinh carbapenem trong thời gian điều trị tại khoa Ngoại tổng hợp từ 01/01/2025 đến 01/04/2026. Kết quả: Trung vị tuổi của đối tượng nghiên cứu là 66,5, nam giới chiếm 63% và 57,4% bệnh nhân có ít nhất một bệnh lý nền. Các nhiễm khuẩn bao gồm: nhiễm khuẩn ổ bụng (46,3%), viêm túi mật cấp (40,7%) và áp xe rò hậu môn (13%). Trong số 39 bệnh nhân được lấy mẫu nuôi cấy vi sinh, có 24 mẫu (61,5%) cho kết quả dương tính. Escherichia coli là tác nhân phổ biến nhất, chiếm 83,3% và tỷ lệ sinh men beta-lactamase phổ rộng (ESBL) là 60%. Tỷ lệ phác đồ chứa carbapenem trong điều trị ban đầu và điều trị thay thế lần lượt là 57,4% và 100%. Phác đồ chứa carbapenem được sử dụng dưới dạng phối hợp chiếm 83,9%, chủ yếu là meropenem phối hợp với metronidazol (95,7%). Tỷ lệ chỉ định carbapenem kinh nghiệm phù hợp là 28,0%. Tất cả bệnh nhân đều được duy trì carbapenem cho đến khi ra viện, bất kể có hay không có kết quả kháng sinh đồ. 100% bệnh nhân được chỉ định liều carbapenem phù hợp với chức năng thận. Kết luận: Cần chú trọng đánh giá nguy cơ nhiễm khuẩn đa kháng và tăng cường vai trò của dược lâm sàng nhằm tối ưu hóa chỉ định carbapenem, đồng thời hạn chế các phối hợp kháng sinh không cần thiết. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19039 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH VỀ AN TOÀN TRUYỀN MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2025 2026-10-04T15:35:15+07:00 Hoàng Hữu Toản toanvna@gmail.com Lê Hải Kiên tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: An toàn truyền máu là một trong những ưu tiên hàng đầu của thực hành lâm sàng, trong đó Điều dưỡng giữ vai trò trực tiếp ở hầu hết các khâu của quy trình truyền máu, nên kiến thức và thái độ của họ là yếu tố then chốt quyết định việc phòng ngừa các tai biến truyền máu. Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ về an toàn truyền máu và phân tích một số yếu tố liên quan ở Điều dưỡng các khoa lâm sàng, Bệnh viện đa khoa Tâm Anh năm 2025. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 445 Điều dưỡng đang làm việc tại 19 khoa lâm sàng Bệnh viện đa khoa Tâm Anh, từ Tháng 1/2025 đến Tháng 12/2025. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền có giám sát của nhóm nghiên cứu; mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với các đặc điểm cá nhân và nghề nghiệp được phân tích bằng mô hình hồi quy logistic, ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05. Kết quả: Tỷ lệ Điều dưỡng trả lời đúng các câu hỏi về lý thuyết an toàn truyền máu là 95,28%; tỷ lệ Điều dưỡng lựa chọn các phương án thể hiện thái độ tích cực là 89,46%. Điều dưỡng khối Ngoại - Sản có khả năng đạt yêu cầu về kiến thức an toàn truyền máu cao hơn so với khối Nội - Nhi (OR = 1,83; 95%CI = 1,24 - 2,70). Nhóm Điều dưỡng có thâm niên công tác > 5 năm có thái độ tích cực về an toàn truyền máu cao hơn nhóm có thâm niên ≤ 5 năm (OR = 1,79; 95%CI = 1,16 - 2,75). Kết luận: Kiến thức và thái độ của Điều dưỡng về an toàn truyền máu ở mức cao, với tỷ lệ trả lời đúng các câu hỏi lý thuyết là 95,28% và tỷ lệ có thái độ tích cực là 89,46%. Đơn vị công tác và thâm niên công tác là hai yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến kiến thức và thái độ của Điều dưỡng về an toàn truyền máu. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19040 TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC HÍT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH HÀ NỘI NĂM 2025 2026-10-04T16:01:28+07:00 Chu Thị Quý quyct@tamanhhospital.vn Ngô Thị Hải Yến tapchiyhocvietnam@gmail.com Lâm Hồng Nhung tapchiyhocvietnam@gmail.com Mùa Thị Mỵ tapchiyhocvietnam@gmail.com Đỗ Thị Hằng tapchiyhocvietnam@gmail.com Ngô Thị Huyền tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Khảo sát thực trạng tuân thủ thuốc hít và phân tích một số yếu tố liên quan ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 74 người bệnh COPD từ tháng 03/2025 đến 01/2026. Công cụ thu thập gồm: đặc điểm lâm sàng (mMRC, CAT), đánh giá tuân thủ TAI-10 và niềm tin về thuốc BMQ-COPD. Dữ liệu được phân tích bằng kiểm định Chi-square, Fisher và hồi quy logistic đa biến. Kết quả: Độ tuổi trung bình nhóm nghiên cứu 68,4 ± 8,0; nam giới chiếm đa số 81,1%. Tỷ lệ tuân thủ thuốc hít tốt đạt 58,1%. Trong kiểu hình không tuân thủ, kiểu hình vô ý chiếm ưu thế 40,5% với hành vi phổ biến là quên thuốc. Phân tích đa biến xác định các yếu tố dự báo độc lập cho tuân thủ thuốc hít tốt gồm: mức độ khó thở nhẹ (mMRC < 2; AOR = 3,94; p = 0,042), điểm ‘Sự cần thiết’ cao (AOR = 1,23; p = 0,047) và điểm ‘Lo ngại về thuốc’ thấp (AOR = 0,79; p = 0,023). Các yếu tố về tuổi, giới tính và triệu chứng CAT không cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết luận: Hơn một nửa người bệnh được khảo sát có mức độ tuân thủ thuốc hít tốt. Niềm tin về thuốc, mức độ khó thở là những rào cản chính ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ. Cần tăng cường tư vấn giảm lo âu về tác dụng phụ và củng cố niềm tin về hiệu quả điều trị, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân khó thở nhiều. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19041 THỰC TRẠNG TƯ VẤN GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ KHOA THẦN KINH – ĐỘT QUỴ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH HÀ NỘI NĂM 2025 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 2026-10-04T16:06:46+07:00 Hồ Thị Nhi Na honhinaqs@gmail.com Hoa Thị Lan tapchiyhocvietnam@gmail.com Đào Thị Thu Hà tapchiyhocvietnam@gmail.com Luyện Ngọc Anh tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Mô tả thực trạng thực hành tư vấn giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh nội trú khoa Thần kinh – Đột quỵ Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội năm 2025 và phân tích một số yếu tố liên quan. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập số liệu qua quan sát 416 lượt tư vấn của điều dưỡng bằng bảng kiểm chuẩn hóa. Phân tích số liệu bằng IBM SPSS Statistics phiên bản 20.0. Kết quả: Tỷ lệ người bệnh được tư vấn đầy đủ nội dung ở các thời điểm: khi vào viện là 81,0%, trong quá trình điều trị là 89,4%, trước khi ra viện là 89,2%. Tổng hợp lại, tỷ lệ người bệnh được tư vấn giáo dục sức khỏe đầy đủ các nội dung trong toàn bộ quá trình nằm viện là 87,5%. Việc tư vấn đầy đủ các nội dung có mối liên quan đến tuổi, tình trạng được đào tạo và thâm niên công tác của điều dưỡng. Kết luận: Tỷ lệ người bệnh được tư vấn giáo dục sức khỏe khá cao trong quá trình điều trị tại khoa Thần kinh- Đột quỵ, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh mặc dù có sự khác biệt nhỏ tại các thời điểm. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19042 NHẬN THỨC VỀ NĂNG LỰC THỰC HÀNH DỰA TRÊN BẰNG CHỨNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2024-2025 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 2026-10-04T22:06:15+07:00 Hoàng Thị Lệ Thủy thuyhtl@tahospital.vn Nguyễn Thị Kim Oanh tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Công Thiện tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Thị Hoàng Yến tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Kim Huyền tapchiyhocvietnam@gmail.com Bùi Thị Lệ Xuân tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Ánh Ngọc tapchiyhocvietnam@gmail.com Đàm Thị Hòa tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Thực hành dựa trên bằng chứng là năng lực cốt lõi góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và hiệu quả điều trị. Tuy nhiên, tại Việt Nam, vẫn còn khoảng cách giữa đào tạo và áp dụng thực hành dựa trên bằng chứng vào lâm sàng. Do đó, cần đánh giá nhận thức về năng lực này của Điều dưỡng, Hộ sinh để định hướng phát triển chuyên môn phù hợp. Mục tiêu: Mô tả nhận thức về năng lựcthực hành dựa trên bằng chứng của Điều dưỡng và Hộ sinh tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024-2025 và một số yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 160 Điều dưỡng/Hộ sinh thông qua phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng từ tháng 12/2024 đến tháng 02/2025. Dữ liệu được thu thập bằng phiên bản tiếng Việt đã được thẩm định của thang HS-EBP, gồm 60 mục thuộc năm lĩnh vực, tổng điểm lý thuyết dao động từ 60 đến 600; phân tích bằng SPSS 18 với các kiểm định Mann–Whitney U, Kruskal–Wallis. Kết quả: Điểm nhận thức về năng lực thực hành dựa trên bằng chứng đạt trung vị 443,00 (382,50 – 487,25)/600, tương đương 7,38 (6,38–8,12)/10. “Thái độ - niềm tin” đạt điểm cao nhất (7,91/10), “Nhận thức về rào cản - hỗ trợ” có điểm thấp nhất (6,96/10). Lĩnh vực công tác có mối liên quan với nhận thức thực hành dựa trên bằng chứng, trong đó nhóm làm việc luân phiên nội – ngoại trú có trung vị cao hơn nhóm ngoại trú 61 điểm [489,00 (449,00-552,00) so với 428,00 (373,75-472,75), p = 0,008]. Nhóm có kinh nghiệm áp dụng bằng chứng lâm sàng có trung vị điểm nhận thức cao hơn nhóm còn lại 31 điểm [459,00 (389,75-505,50) so với 428,00 (372,75-470,50), p = 0,018]. Việc từng được đào tạo về thực hành dựa trên bằng chứng cũng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến “Thái độ - niềm tin”. Kết luận: Nhận thức về năng lực thực hành dựa trên bằng chứng của Điều dưỡng và Hộ sinh đạt trung vị 443,00/600, tương đương 7,38/10. Lĩnh vực công tác và kinh nghiệm áp dụng bằng chứng lâm sàng có liên quan đến nhận thức về năng lực thực hành dựa trên bằng chứng. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19043 GIÁ TRỊ CỦA THANG ĐIỂM CẢNH BÁO SỚM QUỐC GIA PHIÊN BẢN 2 (NEWS2) VÀ THANG PHÂN LOẠI AUSTRALASIAN TRIAGE SCALE (ATS) TRONG NHẬN DIỆN NGƯỜI BỆNH NGUY CƠ CAO HOẶC CẦN CAN THIỆP CẤP CỨU TẠI KHOA CẤP CỨU 2026-10-04T22:12:31+07:00 Nguyễn Thúy Uyên uyennt1@tahospital.vn Nguyễn Thị Kim Chi tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Thanh Thúy tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Ngọc Bích tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Ngọc Như tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Đánh giá giá trị tiên đoán của NEWS2 và ATS đối với kết cục bất lợi, đồng thời đánh giá hiệu quả của mô hình kết hợp NEWS2 và ATS trong nhận diện người bệnh nguy cơ cao tại khoa Cấp cứu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng 600 hồ sơ bệnh án của người bệnh từ 16 tuổi trở lên đến khám tại khoa Cấp cứu trong thời gian từ 01/2025 đến 12/2025. Điểm NEWS2 và mức ATS được ghi nhận hồi cứu tại thời điểm tiếp nhận. Kết cục nghiên cứu bao gồm nhập Hồi sức tích cực (ICU), tử vong nội viện hoặc cần phẫu thuật/thủ thuật cấp cứu. Giá trị tiên đoán được phân tích qua đường cong ROC và diện tích dưới đường cong (AUC). Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 51,5 ± 20,3 tuổi; tỷ lệ nữ giới chiếm 58,3%. Tỷ lệ người bệnh có kết cục bất lợi chiếm 18,8% (trong đó nhập HSTC chiếm 13,5%, phẫu thuật cấp cứu chiếm 10,3% và tử vong chiếm 2,0%). Thang điểm NEWS2 đạt giá trị tiên đoán tốt đối với kết cục bất lợi với AUC = 0,78 (95% CI: 0,733-0,831), cao hơn so với ATS đơn thuần với AUC = 0,67 (95% CI: 0,620-0,715) với p = 0,001. Mô hình kết hợp ATS + NEWS2 giúp cải thiện nhẹ hiệu năng tiên đoán lên AUC = 0,79 (95% CI: 0,744-0,840). Tại nhóm phân loại trung gian (ATS 3–4), NEWS2 vẫn duy trì khả năng phân tầng tốt với AUC = 0,769. Đặc biệt, nhóm người bệnh ATS 3–4 có điểm NEWS2 ≥ 5 ghi nhận tỷ lệ kết cục bất lợi lên đến 69,4% so với chỉ 11,9% ở nhóm NEWS2 < 5. Phân tích hồi quy đa biến khẳng định mỗi 1 điểm NEWS2 tăng thêm làm tăng nguy cơ xảy ra kết cục bất lợi gấp 1,66 lần (p < 0,001). Điểm cắt tối ưu của NEWS2 để sàng lọc biến cố nặng là ≥5 (độ nhạy 82%, độ đặc hiệu 65%). Kết luận: Thang điểm NEWS2 đạt giá trị tiên lượng tốt đối với các kết cục lâm sàng bất lợi tại khoa Cấp cứu, cao hơn phân loại triage ATS đơn thuần. Việc tích hợp NEWS2 vào quy trình phân loại có thể hỗ trợ nhận diện hiệu quả các trường hợp nguy cơ cao tiềm ẩn trong nhóm khẩn cấp trung gian, góp phần giảm thiểu tình trạng phân loại thấp hơn mức độ nặng thực tế. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19044 U TẾ BÀO HẠT Ở PHỔI: BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP VÀ HỒI CỨU Y VĂN 2026-10-04T22:17:10+07:00 Lương Việt Bằng banglv@tamanhhospital.vn Hoàng Thị Duyên tapchiyhocvietnam@gmail.com Ngô Thị Thu Hà tapchiyhocvietnam@gmail.com Trịnh Tuấn Dũng tapchiyhocvietnam@gmail.com U tế bào hạt là một loại u trung mô có nguồn gốc tế bào Schwann, thường gặp ở lưỡi, da và mô mềm. Ở phổi, u tế bào hạt rất hiếm gặp, thường nằm ở cây khí phế quản. U tế bào hạt ở phổi có thể gây khó khăn trong chẩn đoán do tính chất hiếm gặp và do bản thân u cũng có nguy cơ ác tính. Chúng tôi báo cáo một trường hợp nam giới 35 tuổi, đi khám vì ho kéo dài và được phát hiện trên chẩn đoán hình ảnh có u ở trung tâm thùy trên phổi phải chưa loại trừ là ung thư. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt thùy phổi và nạo vét hạch. Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ là u tế bào hạt lành tính. Theo dõi 24 tháng sau mổ không có tái phát. Trường hợp này cho thấy xét nghiệm mô bệnh học là căn cứ quan trọng để chẩn đoán xác định bệnh và các trường hợp u tế bào hạt lành tính có thể điều trị hiệu quả bằng phẫu thuật. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19045 U GIẢ NHẦY PHÚC MẠC KÈM U TUYẾN NANG NHẦY BUỒNG TRỨNG: THÁCH THỨC TRONG XÁC ĐỊNH NGUỒN GỐC TỔN THƯƠNG 2026-10-04T22:21:36+07:00 Lê Thị Yến yenlt1@tamanhhospital.vn Nguyễn Văn Hồng tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Thị Thảo Phương tapchiyhocvietnam@gmail.com Trịnh Tuấn Dũng tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: U giả nhầy phúc mạc (Pseudomyxoma peritonei – PMP) là thuật ngữ lâm sàng dùng để chỉ tình trạng tích tụ chất nhầy lan tỏa trong ổ bụng thứ phát sau các tân sinh nhầy. Đây là một chủ đề còn nhiều tranh cãi liên quan đến bản chất sinh học và danh pháp. Phần lớn trường hợp có nguồn gốc từ u nhầy ruột thừa. Tuy nhiên, khi PMP đi kèm một khối u nhầy buồng trứng có hình thái lành tính, việc xác định cơ quan nguyên phát trở thành thách thức chẩn đoán. Mô tả ca bệnh: Bệnh nhân nữ 32 tuổi, phát hiện tình cờ khối u buồng trứng trái khi khám tiền sản. Siêu âm và MRI ghi nhận khối nang đa thùy kích thước lớn kèm dịch tự do ổ bụng (ORADS 4–5). Bệnh nhân được phẫu thuật cắt buồng trứng trái, một phần buồng trứng phải và cắt ruột thừa. Đại thể u dạng nang chứa đầy chất nhầy. Vi thể cho thấy u tuyến nang nhầy với biểu mô trụ chế nhầy hình thái lành tính. Các mẫu nhân phúc mạc, mạc nối, ruột non có nhiều chất nhầy mật độ tế bào thấp, không thấy tế bào không điển hình. Ruột thừa không có u. Kết luận: Chẩn đoán xác định u tuyến nang nhầy buồng trứng trái kèm u giả nhầy phúc mạc độ 1. Trường hợp này đặt ra câu hỏi liệu chất nhầy trong ổ bụng có nguồn gốc từ u buồng trứng lành tính hay từ một tổn thương nguyên phát khác không được phát hiện. Đánh giá mô bệnh học toàn diện và tiếp cận hệ thống có vai trò quyết định trong xác định nguồn gốc bệnh. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19046 KẾT QUẢ ỨNG DỤNG GIẢI PHẪU BỆNH KĨ THUẬT SỐ ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG THÂM NHẬP LYMPHO BÀO VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG TRONG UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN VÚ XÂM NHẬP THỂ KHÔNG ĐẶC BIỆT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH NĂM 2023-2025 2026-10-04T22:25:54+07:00 Hoàng Thị Duyên dunhanlin@gmail.com Trịnh Tuấn Dũng tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Ứng dụng giải phẫu bệnh kĩ thuật số (Digital pathology - DP) để đánh giá tình trạng thâm nhập lympho bào (Tumor Infiltrating Lymphocytes - TILs) và xác định mối liên quan với các yếu tố tiên lượng trong ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập (UTBMTVXN) thể không đặc biệt tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh năm 2023-2025. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (có sử dụng số liệu thứ cấp từ tháng 1/2023 đến tháng 7/2025) trên 71 bệnh nhân được chẩn đoán UTBMTVXN không đặc biệt tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh. Kết quả: Giá trị TILs trung bình là 12,41 ± 14,24%, trung vị 8,0% (IQR: 10%), dao động từ 1% đến 80%. Trong đó mức độ TILs thấp (<10%) chiếm tỷ lệ cao nhất với 60,6% (43 trường hợp), tiếp theo là nhóm TILs trung bình (10–40%) chiếm 33,8% (24 trường hợp), trong khi nhóm TILs cao (>40%) chỉ chiếm 5,6% (4 trường hợp). Nhóm TILs trung bình/cao gặp nhiều hơn ở các khối u có độ nảy chồi u (NCU) cao, âm tính ER/PR, thuộc phân nhóm HER2 dương tính và bộ ba âm tính (TNBC), đồng thời có xu hướng di căn hạch nhiều hơn. Ngược lại, không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa TILs với kích thước u, hoại tử u, độ mô học (ĐMH) và chỉ số Nottingham (NPI) (p > 0,05). Những kết quả này gợi ý rằng TILs phản ánh đặc tính sinh học phân tử của khối u nhiều hơn là đặc điểm hình thái đơn thuần. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19048 TỔN THƯƠNG NHÚ Ở VÚ: PHÂN LOẠI THEO WHO 2022 VÀ THÁCH THỨC TRONG CHẨN ĐOÁN GIẢI PHẪU BỆNH 2026-10-04T22:29:16+07:00 Nguyễn Thị Phương Anh anhntp@tamanhhospital.vn Trịnh Tuấn Dũng tapchiyhocvietnam@gmail.com Tổn thương nhú ở vú là nhóm bệnh lý phức tạp với phổ hình thái rộng, từ lành tính, không điển hình đến ác tính xâm nhập. Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ấn bản lần 5 năm 2022, nhóm này được chia thành 6 thực thể: u nhú nội ống, u nhú kèm quá sản không điển hình hoặc ung thư biểu mô ống tại chỗ, ung thư biểu mô nhú tại chỗ, ung thư biểu mô nhú có vỏ, ung thư biểu mô nhú đặc và ung thư biểu mô nhú xâm nhập. Bài tổng quan này nhằm cập nhật các tiêu chuẩn mô bệnh học theo WHO 2022 và phân tích những thách thức chẩn đoán trong thực hành, bao gồm phân biệt tổn thương lành tính với ác tính độ thấp, vai trò của hóa mô miễn dịch trong đánh giá tế bào cơ biểu mô, hạn chế của sinh thiết kim lõi và các bẫy chẩn đoán như biến đổi sau nhồi máu. Việc nắm vững tiêu chuẩn phân loại và sử dụng hợp lý các dấu ấn hóa mô miễn dịch giúp nâng cao độ chính xác chẩn đoán và định hướng xử trí lâm sàng. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19049 UNG THƯ BIỂU MÔ DẠ DÀY THỂ TỦY – BẪY CHẨN ĐOÁN TRONG GIẢI PHẪU BỆNH: BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP 2026-10-05T01:16:44+07:00 Lương Việt Bằng banglv@tamanhhospital.vn Hoàng Thị Duyên tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Lam tapchiyhocvietnam@gmail.com Ngô Thị Thu Hà tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Thị Thảo Phương tapchiyhocvietnam@gmail.com Trịnh Tuấn Dũng tapchiyhocvietnam@gmail.com Ung thư biểu mô dạ dày thể tủy là một dưới nhóm mô học hiếm gặp của ung thư biểu mô tuyến dạ dày, thường liên quan đến virus Epstein-Barr và có thể bị chẩn đoán sai. Chúng tôi báo cáo một trường hợp nam giới 60 tuổi có ổ loét dạ dày và đã được chẩn đoán là viêm loét dạ dày mạn tính hoạt động tại một cơ sở khác. Kết quả sinh thiết lại chưa loại trừ u ác tính. Bệnh nhân được làm cắt hớt dưới niêm mạc. Hình ảnh mô bệnh học tổn thương là một u ác tính với hình thái kém biệt hóa, có mô đệm giàu lympho bào. Các xét nghiệm bổ trợ cho thấy tế bào u dương tính với các dấu ấn biểu mô và lai tại chỗ EBER. Chẩn đoán ung thư biểu mô dạ dày thể tủy được xác lập. Bệnh nhân sau đó được cắt bán phần dạ dày kèm nạo vét hạch. Theo dõi 18 tháng sau mổ không thấy tái phát hoặc di căn xa. Trường hợp này cho thấy ung thư biểu mô dạ dày thể tủy có thể bị nhầm lẫn với các bệnh lý khác và chẩn đoán xác định bệnh cần sự kết hợp mô bệnh học thường quy và các xét nghiệm bổ trợ, đặc biệt là lai tại chỗ EBER. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19050 DẤU ẤN DINH DƯỠNG VÀ KIỂU HÌNH MÔ BỆNH HỌC CỦA UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG: GÓC NHÌN TỪ TIÊU CHUẨN CAP 2026-10-05T01:21:55+07:00 Trần Thị Trà Phương traphuonghmu@gmail.com Trịnh Tuấn Dũng tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Các dấu ấn dinh dưỡng và đặc điểm mô bệnh học đều có giá trị tiên lượng ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng (UTĐTT). Tuy nhiên, mối liên quan trực tiếp giữa các dấu ấn dinh dưỡng và từng đặc điểm mô bệnh học theo tiêu chuẩn College of American Pathologists (CAP) chưa được làm rõ. Mục tiêu: Tổng quan các bằng chứng hiện có về mối liên quan giữa các dấu ấn dinh dưỡng và các đặc điểm mô bệnh học theo tiêu chuẩn CAP ở bệnh nhân UTĐTT, đồng thời xác định khoảng trống bằng chứng và định hướng nghiên cứu. Nội dung tổng quan: Các nghiên cứu cho thấy suy dinh dưỡng, sarcopenia, albumin huyết thanh và Prognostic Nutritional Index (PNI) có giá trị tiên lượng ở bệnh nhân UTĐTT. Một số nghiên cứu đã bước đầu khảo sát mối liên quan giữa các dấu ấn dinh dưỡng và các đặc điểm mô bệnh học như xâm lấn mạch máu – bạch huyết, xâm lấn quanh thần kinh và tumor budding. Tuy nhiên, bằng chứng trực tiếp còn hạn chế và chưa đồng nhất, đặc biệt đối với tumor budding và tình trạng bất ổn vi vệ tinh (MSI). Kết luận: Bằng chứng hiện có chủ yếu xác lập giá trị tiên lượng riêng rẽ của các dấu ấn dinh dưỡng và đặc điểm mô bệnh học. Mối liên quan trực tiếp giữa hai nhóm yếu tố vẫn chưa được làm rõ và cần được nghiên cứu chuyên biệt trong tương lai. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19051 HẠ NATRI MÁU TRONG HỒI SỨC: HỘI CHỨNG TIẾT HORMON CHỐNG BÀI NIỆU KHÔNG THÍCH HỢP VÀ HỘI CHỨNG MẤT MUỐI NÃO QUA HAI CA LÂM SÀNG. 2026-10-05T01:25:27+07:00 Hà Viết Ngọc dr.havietngoc@gmail.com Phùng Quang Tùng tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Hạ natri máu là rối loạn điện giải thường gặp ở bệnh nhân hồi sức tích cực và có liên quan đến tăng tỷ lệ biến chứng thần kinh cũng như tử vong. Trong nhóm bệnh nhân có tổn thương hệ thần kinh trung ương, hội chứng tiết hormon chống bài niệu không thích hợp (SIADH) và hội chứng mất muối não (CSW) là hai nguyên nhân quan trọng nhưng thường khó phân biệt do có nhiều đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng tương đồng. Ca lâm sàng: Chúng tôi báo cáo hai trường hợp hạ natri máu nhược trương điều trị tại khoa Hồi sức tích cực. Trường hợp thứ nhất là bệnh nhân nữ 94 tuổi có nhồi máu tiểu não cấp, hạ natri máu kèm natri niệu cao, áp lực thẩm thấu niệu tăng và đa niệu kéo dài. Tình trạng hạ natri máu cải thiện sau bù dịch, bổ sung natri ưu trương và điều trị bằng Tetracosactide, sau đó duy trì Fludrocortisone, gợi ý hội chứng mất muối não. Trường hợp thứ hai là bệnh nhân nam 84 tuổi có hạ natri máu nặng, áp lực thẩm thấu máu giảm, natri niệu cao, FEUA tăng và không có bằng chứng suy tim, suy giáp hay suy thượng thận. Tình trạng cải thiện sau hạn chế dịch kết hợp Tolvaptan, phù hợp với chẩn đoán SIADH. Kết luận: SIADH và CSW là hai nguyên nhân quan trọng gây hạ natri máu ở bệnh nhân có tổn thương thần kinh trung ương với chiến lược điều trị hoàn toàn khác nhau. Đánh giá tình trạng thể tích tuần hoàn, natri niệu, lượng nước tiểu, FEUA và đáp ứng điều trị có vai trò quan trọng trong chẩn đoán phân biệt và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19052 VA-ECMO SỚM NHƯ MỘT PHƯƠNG PHÁP HỖ TRỢ PHỤC HỒI TRONG NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP BIẾN CHỨNG NGỪNG TUẦN HOÀN VÀ SỐC TIM BÁO CÁO CA LÂM SÀNG 2026-10-05T01:28:26+07:00 Phùng Quang Tùng tungpq@tamanhhospital.vn Dương Công Lĩnh tapchiyhocvietnam@gmail.com Hà Viết Ngọc tapchiyhocvietnam@gmail.com Giới thiệu: Ngừng tuần hoàn và sốc tim là những biến chứng đặc biệt nghiêm trọng của nhồi máu cơ tim cấp. Mặc dù những tiến bộ trong các chiến lược tái tưới máu đã cải thiện đáng kể kết cục điều trị, tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân này vẫn dao động khoảng 40-50%. Trong bối cảnh đó, oxy hóa màng ngoài cơ thể tĩnh mạch - động mạch (VA-ECMO) ngày càng được xem là một chiến lược hỗ trợ tuần hoàn cơ học đầy hứa hẹn, giúp ổn định huyết động tạm thời, duy trì tưới máu cơ quan và tạo điều kiện cho điều trị nguyên nhân. Chúng tôi báo cáo một trường hợp nhồi máu cơ tim cấp biến chứng rung thất, ngừng tuần hoàn và sốc tim nặng, trong đó VA-ECMO được thiết lập sớm và đóng vai trò như một cầu nối chờ hồi phục, góp phần mang lại kết quả lâm sàng thuận lợi. Báo cáo ca bệnh: Người bệnh (NB) nam 73 tuổi, có tiền sử tăng huyết áp không được kiểm soát tốt, nhập viện với cơn đau ngực cấp tính và ngừng tim đột ngột do rung thất. Tuần hoàn tự phát được phục hồi sau 3 phút hồi sinh tim phổi nâng cao. Huyết động phụ thuộc hai vận mạch liều cao. Chụp mạch vành cho thấy tắc nghẽn hoàn toàn LAD đoạn gần, hẹp 90-95% LCx và tắc mạn tính RCA. Theo hệ thống phân loại của SCAI, NB sốc tim giai đoạn D-E được thiết lập VA-ECMO sớm kết hợp can thiệp mạch vành qua da kịp thời, sau đó hồi phục huyết động, cai VA-ECMO thành công và xuất viện không ghi nhận di chứng thần kinh. Thảo luận: VA-ECMO có thể đóng vai trò như một chiến lược cầu nối hồi phục ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp biến chứng ngừng tuần hoàn và sốc tim nặng được lựa chọn phù hợp, đặc biệt khi được triển khai sớm cùng với tái thông mạch vành kịp thời. Kết luận: VA-ECMO sớm kết hợp với tái thông mạch vành kịp thời có thể cải thiện kết quả ở những bệnh nhân được chọn lọc mắc nhồi máu cơ tim cấp tính kèm theo ngừng tim và sốc tim, đóng vai trò như một cầu nối hiệu quả cho sự phục hồi cơ tim. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19053 NHIỄM TOAN CETON ĐƯỜNG HUYẾT BÌNH THƯỜNG Ở BỆNH NHÂN HỒI SỨC TÍCH CỰC: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG VÀ TỔNG QUAN Y VĂN 2026-10-05T01:32:03+07:00 Trần Văn Khoa Vankhoatran1108@gmail.com Đặt vấn đề: Nhiễm toan ceton do đái tháo đường (DKA) là một cấp cứu nội khoa nghiêm trọng, đặc trưng bởi tam chứng: tăng đường huyết, nhiễm ceton và toan chuyển hóa. Tuy nhiên, nhiễm toan ceton đường huyết bình thường (euglycemic DKA - euDKA) là một thể lâm sàng không điển hình với mức glucose máu bình thường hoặc chỉ tăng nhẹ, dễ bị bỏ sót và làm chậm trễ điều trị, đặc biệt ở bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế SGLT2. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của hai trường hợp nhiễm toan ceton đường huyết bình thường và phân tích các yếu tố liên quan qua tổng quan y văn. Báo cáo ca bệnh: Trường hợp 1: Nam, 50 tuổi, Đái tháo đường type 2, mới sử dụng empagliflozin (Jardiance) 1 tuần trước nhập viện. Bệnh nhân nhập viện vì nôn nhiều, ghi nhận toan chuyển hóa nặng với glucose máu 10,2 mmol/L. Sau 24 giờ điều trị tích cực, tình trạng toan và ceton được cải thiện hoàn toàn. Trường hợp 2: Nữ, 75 tuổi, tiền sử tăng huyết áp và đái tháo đường, nhập viện vì nhồi máu cơ tim cấp. Trong quá trình điều trị có sử dụng dapagliflozin (Forxiga), sau đó xuất hiện nhiễm toan ceton với glucose 9,2-9,8 mmol/l. Bệnh nhân đáp ứng điều trị sau 4 ngày, hết toan ceton, chuyển điều trị chuyên khoa tim mạch. Bàn luận: Toan ceton đường huyết bình thường là một thách thức chẩn đoán do thiếu dấu hiệu tăng đường huyết điển hình. Khoảng 2,6 đến 3,2 % số ca DKA nhập viện có mức đường huyết bình thường. Các yếu tố nguy cơ thường gặp bao gồm sử dụng thuốc ức chế SGLT2, nhiễm trùng, nhịn ăn kéo dài hoặc bệnh lý cấp tính. Tỉ lệ DKA liên quan đến việc sử dụng thuốc ức chế SGLT2 dao động từ 0,16-0,76/1000 bệnh nhân Đái tháo đường type 2.Blau ước tính rằng thuốc ức chế SGLT2 làm tăng nguy cơ DKA ở bệnh nhân Đái tháo đường type 2 lên gấp 7 lần. Việc nhận diện sớm tình trạng toan chuyển hóa tăng khoảng trống anion ở bệnh nhân đái tháo đường, ngay cả khi glucose máu không tăng cao, có ý nghĩa quyết định trong chẩn đoán và điều trị kịp thời. Kết luận: Toan ceton đường huyết bình thường là một thể bệnh nguy hiểm dễ bị bỏ sót. Cần nâng cao cảnh giác lâm sàng, đặc biệt ở bệnh nhân sử dụng nhóm thuốc ức chế SGLT2 , nhằm chẩn đoán sớm và cải thiện tiên lượng. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19054 SO SÁNH CHẤT LƯỢNG HỒI TỈNH CỦA DESFLURANE VÀ SEVOFLURANE TRÊN NGƯỜI BỆNH ĐƯỢC PHẪU THUẬT NỘI SOI TÁN SỎI THẬN QUA DA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH NĂM 2026 2026-10-05T01:34:39+07:00 Nguyễn Ngọc Hùng hungyhn@gmail.com Ngô Văn Hào tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Xuân Anh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Mạnh Trường tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Trung Dũng tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Mỹ Hạnh tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: So sánh chất lượng hồi tỉnh của Desflurane và Sevoflurane trên người bệnh được phẫu thuật nội soi tán sỏi thận qua da dưới gây mê toàn thân tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2026. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 30 người bệnh ASA I-III được phẫu thuật nội soi tán sỏi thận qua da. Người bệnh được phân ngẫu nhiên thành hai nhóm: nhóm D (n = 15) duy trì mê bằng Desflurane và nhóm S (n = 15) duy trì mê bằng Sevoflurane. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm thời gian đạt MAC mong muốn, thời gian đạt MAC hồi tỉnh, thời gian hồi tỉnh, thời gian rút nội khí quản, thời gian đạt điểm Aldrete > 9 và các tác dụng không mong muốn sau mổ. Kết quả: Hai nhóm tương đồng về tuổi, giới tính, BMI, thời gian phẫu thuật, thời gian gây mê và lượng thuốc sử dụng trong gây mê (p > 0,05). Thời gian đạt MAC mong muốn ở nhóm D ngắn hơn nhóm S (59,3 ± 6,3 giây so với 68,7 ± 7,2 giây; p < 0,001). Thời gian đạt MAC hồi tỉnh ở nhóm D cũng ngắn hơn đáng kể (225,1 ± 60,5 giây so với 330,6 ± 52,1 giây; p < 0,001). Thời gian hồi tỉnh, thời gian rút nội khí quản và thời gian đạt điểm Aldrete > 9 ở nhóm D lần lượt là 6,4 ± 0,9 phút; 7,8 ± 0,9 phút và 15,3 ± 1,8 phút, ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm S (9,8 ± 1,5 phút; 11,8 ± 1,7 phút và 22,1 ± 1,6 phút; p < 0,001). Chỉ ghi nhận 1 trường hợp buồn nôn ở nhóm S, không có sự khác biệt về các tác dụng không mong muốn giữa hai nhóm. Kết luận: Desflurane giúp đạt và thoát mê nhanh hơn Sevoflurane, rút ngắn thời gian hồi tỉnh, thời gian rút nội khí quản và thời gian đạt tiêu chuẩn chuyển ra khỏi phòng hồi tỉnh trên người bệnh phẫu thuật nội soi tán sỏi thận qua da, đồng thời vẫn đảm bảo tính an toàn. Kết quả nghiên cứu cho thấy Desflurane là lựa chọn phù hợp trong chiến lược tăng cường hồi phục sau phẫu thuật (ERAS). Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19055 TỶ LỆ ĐẠT NỒNG ĐỘ ĐIỀU TRỊ CỦA VANCOMYCIN TRUYỀN TĨNH MẠCH LIÊN TỤC Ở BỆNH NHÂN HỒI SỨC TÍCH CỰC 2026-10-05T01:39:19+07:00 Đoàn Quốc Anh anhdq@tahospital.vn Ngô Như Ngọc tapchiyhocvietnam@gmail.com Trang Hồng Thuỳ Dương tapchiyhocvietnam@gmail.com Vương Mỹ Dung tapchiyhocvietnam@gmail.com Đinh Tuấn Vinh tapchiyhocvietnam@gmail.com Phan Thị Xuân tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Xác định tỷ lệ đạt nồng độ vancomycin huyết tương mục tiêu (15–25 mg/L) khi truyền tĩnh mạch liên tục ở bệnh nhân hồi sức tích cực, đồng thời đánh giá các yếu tố liên quan đến khả năng đạt nồng độ điều trị mục tiêu ở lần đo đầu tiên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên các bệnh nhân ≥ 18 tuổi điều trị tại khoa Hồi Sức Tích Cực – Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh từ tháng 12/2023 đến tháng 12/2024, có sử dụng vancomycin truyền tĩnh mạch liên tục và được theo dõi nồng độ thuốc trong huyết tương. Tiêu chuẩn loại trừ gồm các bệnh nhân có sử dụng vancomycin truyền ngắt quãng trước đó, các bệnh nhân có thời gian điều trị tại khoa Hồi Sức Tích Cực dưới 48 giờ và các bệnh nhân không có đủ dữ liệu định lượng vancomycin. Phân tích thống kê bao gồm mô tả các đặc điểm liên quan đến mục tiêu, so sánh đơn biến và hồi quy logistic đa biến nhằm xác định các yếu tố liên quan đến đạt mục tiêu điều trị trong lần đo đầu tiên. Kết quả: Có 56 bệnh nhân được đưa vào phân tích. Tuổi trung bình là 68,48 ± 18,63; eGFR trung vị trước điều trị vancomycin là 80,31 (50,20–99,05) mL/phút/1,73 m². Tỷ lệ đạt nồng độ vancomycin mục tiêu tại thời điểm đo đầu tiên là 51,7% và tăng nhẹ lên 53,5% sau điều chỉnh liều. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy eGFR ban đầu có liên quan nghịch với khả năng đạt nồng độ điều trị mục tiêu trong lần đo đầu tiên (OR hiệu chỉnh = 0,22; KTC 95%: 0,09–0,54; p < 0,001), trong khi liều nạp theo cân nặng có liên quan thuận với khả năng đạt mục tiêu điều trị (OR hiệu chỉnh = 1,57; KTC 95%: 1,10–2,25; p = 0,012). Kết luận: Tỷ lệ đạt nồng độ vancomycin mục tiêu khi truyền liên tục ở bệnh nhân hồi sức tích cực còn hạn chế, 51,7% tại lần đo đầu tiên và 53,5% sau điều chỉnh liều. eGFR ban đầu và liều nạp theo cân nặng là các yếu tố độc lập liên quan đến khả năng đạt nồng độ điều trị mục tiêu trong lần đo đầu tiên. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19057 THAY HUYẾT TƯƠNG TRÊN BỆNH NHÂN CÓ PHẢN ỨNG GÂY HẠI NGHIÊM TRỌNG TRÊN DA: LIỆU PHÁP HỖ TRỢ TIỀM NĂNG? BÁO CÁO HAI CA LÂM SÀNG 2026-10-05T01:54:55+07:00 Đoàn Quốc Anh anhdq@tahospital.vn K Bus tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thành Nguyên tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Duy Khương tapchiyhocvietnam@gmail.com Phan Thị Xuân tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Các Phản ứng có hại nghiêm trọng trên da như Hoại tử thượng bì nhiễm độc và hội chứng Phản ứng thuốc có tăng bạch cầu ái toan và triệu chứng toàn thân ít gặp nhưng có tỷ lệ tử vong cao. Thay huyết tương được xem là liệu pháp hỗ trợ nhằm loại bỏ các cytokine và phức hợp miễn dịch. Mục tiêu nghiên cứu: Báo cáo 2 ca lâm sàng bị phản ứng có hại nghiêm trọng trên da được điều trị thành công nhờ biện pháp thay huyết tương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Trường hợp thứ nhất: bệnh nhân nữ, 60 tuổi, chẩn đoán hội chứng Phản ứng do thuốc có tăng bạch cầu ái toan và triệu chứng toàn thân (DRESS) do Allopurinol với điểm RegiSCAR bằng 6,kèm tổn thương gan, thận. Trường hợp thứ hai: bệnh nhân nữ 51 tuổi, chẩn đoán Hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN) do Carbamazepine với điểm SCORTEN bằng 4, diện tích da bong tróc > 30%. Cả hai bệnh nhân được thay huyết tương bằng dịch thay thế Albumin 5% sau khi thất bại với Corticosteroid tĩnh mạch liều cao. Kết quả: Sau thay huyết tương, các sang thương da ngừng tiến triển, chức năng gan, thận hồi phục, bệnh nhân ổn định và ra khỏi hồi sức tích cực sau 13 và 16 ngày. Kết luận: Thay huyết tương là liệu pháp hỗ trợ an toàn và hiệu quả cho các trường hợp Phản ứng có hại nghiêm trọng trên da nặng thất bại với Corticosteroid. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19058 OXY HOÁ MÁU QUA MÀNG NGOÀI CƠ THỂ TĨNH MẠCH - ĐỘNG MẠCH SONG SONG ĐIỀU TRỊ VIÊM CƠ TIM TỐI CẤP CÓ LOẠN NHỊP THẤT KHÁNG TRỊ, BÁO CÁO CA BỆNH 2026-10-05T02:01:22+07:00 Phan Thị Xuân xuanpt@tahospital.vn Trịnh Hoàng Nguyên tapchiyhocvietnam@gmail.com Ngô Như Ngọc tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Ngọc Tùng tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặng Lê Hồng Ngân tapchiyhocvietnam@gmail.com Đoàn Quốc Anh tapchiyhocvietnam@gmail.com Vương Mỹ Dung tapchiyhocvietnam@gmail.com Đinh Tuấn Vinh tapchiyhocvietnam@gmail.com Huỳnh Khiêm Huy tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: báo cáo 1 trường hợp loạn nhịp thất kháng trị do viêm cơ tim tối cấp được điều trị thành công bằng hai hệ thống oxy hoá máu qua màng ngoài cơ thể tĩnh mạch - động mạch (V-A ECMO song song), kết hợp thay huyết tương nhằm hỗ trợ điều trị loạn nhịp thất kháng trị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bệnh nhân nữ, 36 tuổi, nhập viện vì viêm cơ tim cấp. Sau đó xuất hiện suy tim cấp, sốc tim và loạn nhịp thất được hỗ trợ tuần hoàn bằng V-A ECMO. Loạn nhịp thất diễn tiến kháng trị, bệnh nhân được đặt thêm hệ thống V-A ECMO thứ hai đồng thời tiến hành thay huyết tương nhằm hỗ trợ điều trị loạn nhịp thất. Kết quả: sau 3 ngày điều trị bằng hai hệ thống V-A ECMO và thay huyết tương 2 đợt với tổng thể tích 12 lít huyết tương tươi đông lạnh, loạn nhịp thất cải thiện, ngưng được hệ thống V-A ECMO thứ hai. Sau 7 ngày hỗ trợ tuần hoàn với ECMO, tình trạng co bóp cơ tim cải thiện, ngưng hệ thống V-A ECMO thứ nhất. Bệnh nhân sau đó được chuyển đến khoa Tim mạch, chức năng co bóp cơ tim hồi phục và xuất viện với phân suất tống máu thất trái 50%. Kết luận: V-A ECMO song song an toàn hơn ECMO lai, giúp đạt mục tiêu tưới máu mô ở bệnh nhân viêm cơ tim tối cấp có loạn nhịp thất kháng trị. Thay huyết tương, với vai trò làm giảm nồng độ các chất kích thích cơ tim, có thể là lựa chọn để điều trị hỗ trợ loạn nhịp thất kháng trị. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19059 LỌC CO2 QUA MÀNG NGOÀI CƠ THỂ VÀ OMALIZUMAB ĐIỀU TRỊ CƠN HEN PHẾ QUẢN ÁC TÍNH KHÁNG TRỊ, BÁO CÁO CA BỆNH 2026-10-05T02:38:31+07:00 Đặng Lê Hồng Ngân danglehongngan@gmail.com Huỳnh Khiêm Huy tapchiyhocvietnam@gmail.com Giáp Nguyễn Đăng Thi tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Lê Ngọc Thuận tapchiyhocvietnam@gmail.com Báo cáo ca lâm sàng mô tả chiến lược phối hợp lọc CO2 ngoài cơ thể (Extracorporeal CO2 Removal – ECCO2R) và Omalizumab trong xử trí cơn hen phế quản ác tính kháng trị (Refractory Status Asthmaticus – RSA), đặc biệt ở bệnh nhân có kiểu hình hen dị ứng IgE với nồng độ IgE toàn phần tăng rất cao. Bệnh nhân nam 54 tuổi, tiền sử hen phế quản dị ứng với nhiều lần nhập khoa Nội Hô hấp, nhập ICU lần đầu lúc 18h38 ngày 24/11/2025 và được thở HFNC ngay khi tiếp nhận. ECCO2R được triển khai sử dụng màng PrismaLung trên hệ thống PrisMax, nhanh chóng cải thiện toan–kiềm, kiểm soát bẫy khí động và giảm áp lực đường thở, ngăn ngừa nhu cầu chuyển sang ECMO. Song song với RSA, bệnh nhân ghi nhận mề đay liên tục toàn thân không đáp ứng với adrenalin tĩnh mạch, gợi ý cơ chế hen dị ứng qua trung gian IgE nội sinh (IgE toàn phần 907 IU/mL), thúc đẩy quyết định phối hợp đồng thời ECCO2R và Omalizumab 600 mg tiêm dưới da. Bệnh nhân được rút nội khí quản lúc 9h40 ngày 04/12/2025, sau đó chuyển khoa nội trú và xuất viện trong tình trạng cải thiện lâm sàng rõ rệt. Trường hợp này cho thấy ECCO2R kết hợp Omalizumab là chiến lược cứu vãn có tiềm năng và khả thi trong RSA, tận dụng sự bổ sung cơ chế giữa hỗ trợ sinh lý ngoài cơ thể và liệu pháp sinh học nhắm đích miễn dịch. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19060 VAI TRÒ CỦA NỘI SOI MÀNG PHỔI TRONG CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI: BÁO CÁO CA BỆNH UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN DI CĂN MÀNG PHỔI 2026-10-05T02:44:05+07:00 Nguyễn Văn Ngân nguyenvanngan@hmu.edu.vn Đào Phương Thuý tapchiyhocvietnam@gmail.com Chu Thị Hạnh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Vân Anh tapchiyhocvietnam@gmail.com Tràn dịch màng phổi là biểu hiện của nhiều bệnh lý lành tính hoặc ác tính. Xét nghiệm tế bào dịch màng phổi là bước tiếp cận ban đầu, nhưng độ nhạy còn hạn chế (58,2%). Nội soi màng phổi là thủ thuật quan trọng trong chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch màng phổi nhờ quan sát trực tiếp và sinh thiết chính xác tổn thương. Chúng tôi báo cáo một ca bệnh minh họa vai trò quan trọng của nội soi màng phổi trong chẩn đoán 1 trường hợp ung thư biểu mô tuyến di căn màng phổi. Bệnh nhân nữ 64 tuổi, vào viện vì ho và khó thở. Chụp Xquang ngực phát hiện tràn dịch màng phổi trái số lượng nhiều. Tế bào học dịch màng phổi có tế bào ác tính chưa định loại nhưng không đủ bệnh phẩm chẩn đoán xác định và xét nghiệm sinh học phân tử. Nội soi màng phổi phát hiện nhiều nốt thâm nhiễm nghi ngờ tổn thương ác tính. Kết quả mô bệnh học và nhuộm hoá mô miễn dịch (CK7/TTF1/Napsin A/HBME-1 dương tính, CK5/6/Calretinin/WT1 âm tính) khẳng định chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến di căn màng phổi. Ca lâm sàng này nhấn mạnh giá trị của nội soi màng phổi trong việc chẩn đoán xác định và cung cấp mẫu mô đầy đủ cho xét nghiệm sinh học phân tử, từ đó định hướng điều trị nhắm trúng đích cho người bệnh. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19061 KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CHẨN ĐOÁN "ONE-STOP" (HyFoSy) TRONG ĐÁNH GIÁ TOÀN DIỆN BUỒNG TỬ CUNG VÀ VÒI TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH HÀ NỘI 2026-10-05T02:47:41+07:00 Đỗ Thị Thu Trang mddothithutrang@gmail.com Phan Ngọc Quý tapchiyhocvietnam@gmail.com Lê Hoàng tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Sự dịch chuyển sang các phương pháp chẩn đoán hình ảnh ít xâm lấn và không bức xạ là xu hướng tất yếu trong đánh giá vô sinh nữ. Mô hình "One-stop" dựa trên kỹ thuật siêu âm có bơm chất tương phản (Hysterosalpingo-Foam Sonography – HyFoSy), gồm hai thì: thì 1 bơm nước muối sinh lý đánh giá buồng tử cung và thì 2 bơm chất tương phản dạng bọt khảo sát vòi tử cung, cho phép đánh giá đồng thời buồng tử cung và vòi tử cung trong cùng một lần thăm khám. Tuy nhiên, dữ liệu thực tiễn tại Việt Nam về tỷ lệ hiện mắc, mức độ dung nạp và mức độ phù hợp với kết quả phẫu thuật/mô bệnh học vẫn còn hạn chế. Mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ các bất thường buồng tử cung – vòi tử cung phát hiện qua HyFoSy; (2) Đánh giá mức độ dung nạp lâm sàng và tính an toàn của thủ thuật qua thang điểm đau (NRS) và các tác dụng ngoại ý; (3) Đánh giá mức độ phù hợp giữa kết quả chẩn đoán hình ảnh và kết quả phẫu thuật/nội soi buồng tử cung ngoại trú/mô bệnh học ở nhóm người bệnh có can thiệp. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên phụ nữ thăm khám sức khỏe sinh sản tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản – BVĐK Tâm Anh trong năm 2025–2026: 480 ca có đặc điểm nền và kết quả HyFoSy (2025 đến 15/7/2026) để xác định tỷ lệ hiện mắc, trong đó 153 ca thực hiện từ 04/2026 được ghi nhận đầy đủ đặc điểm nền và đánh giá điểm NRS/tính an toàn; và 35 ca có can thiệp sau đó để đối chiếu. Kết quả: Trong 480 trường hợp, 88,7% có hai vòi tử cung thông và 80,4% có buồng tử cung bình thường; tổn thương thường gặp nhất là polyp buồng tử cung (9,2%) và tắc vòi tử cung một bên (10%). Trên 153 ca, thủ thuật được dung nạp tốt: điểm NRS trung bình ở thì bơm nước, thì bơm bọt tương phản và sau thủ thuật lần lượt là 1,4 ± 1,5; 2,8 ± 1,9 và 0,9 ± 1,3; 98,7% không ghi nhận tác dụng phụ. Trên 35 ca có can thiệp đối chiếu (đều là ca phát hiện bất thường trên HyFoSy) đều cho kết quả can thiệp tương xứng với kết quả HyFoSy. Kết luận: Mô hình "One-stop" HyFoSy bước đầu cho thấy khả năng dung nạp tốt, an toàn và mức độ phù hợp cao với tiêu chuẩn vàng ở nhóm có can thiệp. Do đối chiếu chỉ thực hiện trên các ca dương tính được can thiệp, nghiên cứu chưa thể ước lượng độ nhạy, độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán âm; cần các nghiên cứu tiến cứu, có đối chiếu tiêu chuẩn vàng đầy đủ và cỡ mẫu lớn hơn để khẳng định. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19062 TÌNH HÌNH NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2025 2026-10-05T02:52:11+07:00 Tống Văn Khải khaitv@tahospital.vn Nguyễn Thị Hương Giang tapchiyhocvietnam@gmail.com Huỳnh Thị Thanh Trang tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Thị Kim Hậu tapchiyhocvietnam@gmail.com Bùi Thị Nga tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh Mai tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là một trong những nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh, tử vong, kéo dài thời gian nằm viện và làm tăng chi phí điều trị cho bệnh nhân trong các cơ sở y tế trên toàn thế giới. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ NKBV hiện mắc và một số yếu tố liên quan đến NKBV tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, lấy mẫu toàn bộ trên 1880 Bệnh nhân nằm viện ≥ 48 giờ (2 ngày) tại các khoa nội trú Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh, thời gian thu thập mẫu từ ngày 01/06/2025 đến 30/06/2025. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và phân tích bằng phần mềm thống kê Stata. Kết quả: Độ tuổi trung bình: 46,38 ± 27,42, nữ chiếm 55,37%. Có 50,05% NB có bệnh mạn tính, 32,18% có nhiễm khuẩn lúc nhập viện. 76,33% NB có can thiệp thủ thuật, 26,22% có thực hiện phẫu thuật. Có 7/1880 người bệnh có ít nhất một NKBV, tương ứng 0,37%. Tác nhân gây bệnh được phân lập chủ yếu là vi khuẩn Gram âm, trong đó Pseudomonas aeruginosa chiếm ưu thế. Tỷ lệ vi khuẩn đa kháng là 25%. Trong phân tích đơn biến, ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhiễm khuẩn bệnh viện và các yếu tố: Bệnh nền của người bệnh (p = 0,008), Thở máy qua nội khí quản (p < 0,05), Đặt ống thông tĩnh mạch trung tâm (p = 0,022) và Người bệnh có phẫu thuật (p < 0,05). Kết luận: Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại Bệnh viện ở mức thấp là 0,37%. Các yếu tố giới tính, bệnh nền, phẫu thuật và thủ thuật có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19064 ĐÁNH GIÁ SỰ TUÂN THỦ QUY TRÌNH VỆ SINH TAY NGOẠI KHOA CỦA PHẪU THUẬT VIÊN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2025 2026-10-05T03:01:02+07:00 Huỳnh Thị Thanh Trang tapchiyhocvietnam@gmail.com Bùi Thị Nga tapchiyhocvietnam@gmail.com Tống Văn Khải tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Hoàng Đức tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Thị Kim Hậu tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Hương Giang tapchiyhocvietnam@gmail.com Lê Thị Mỹ Hương tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh Mai tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Thị Thu Tân tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn bệnh viện là vấn đề y tế toàn cầu, trong đó vệ sinh tay ngoại khoa (VSTNK) của phẫu thuật viên giữ vai trò quan trọng trong phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ tuân thủ quy trình VSTNK của phẫu thuật viên và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, quan sát trực tiếp các lần thực hiện VSTNK của phẫu thuật viên từ 01/4 đến 31/12/2025, sử dụng bảng kiểm chuẩn hóa; dữ liệu được phân tích bằng phần mềm R, phân tích đa biến bằng mô hình phương trình ước lượng tổng quát (GEE). Kết quả: Tỷ lệ tuân thủ chung quy trình VSTNK là 70,2%; tuân thủ kỹ thuật đạt 94,9% và tuân thủ thời gian đạt 72,8%. Tuân thủ VSTNK khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các chuyên khoa; so với Chấn thương chỉnh hình, phẫu thuật viên khoa Ngoại Vú tuân thủ cao hơn (OR = 2,58; KTC 95%: 1,07 - 6,21), trong khi khoa Tai Mũi Họng tuân thủ thấp hơn (OR = 0,16; KTC 95%: 0,06 - 0,44). Phẫu thuật ngoài giờ hành chính có khả năng tuân thủ thấp hơn so với trong giờ (OR = 0,65; KTC 95%: 0,49 - 0,85). Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuân thủ VSTNK với giới tính, tuổi, trình độ chuyên môn, thâm niên ngành Y, thâm niên công tác tại bệnh viện và tình trạng phẫu thuật. Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ quy trình VSTNK của phẫu thuật viên ở mức trung bình. Các yếu tố hệ thống như chuyên khoa phẫu thuật và thời điểm phẫu thuật có ảnh hưởng rõ rệt đến hành vi tuân thủ. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19065 TUÂN THỦ THỰC HÀNH GÓI PHÒNG NGỪA NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH HÀ NỘI NĂM 2025 2026-10-05T03:14:04+07:00 Nguyễn Minh Nguyệt nguyetnm2@tamanhhospital.vn Nguyễn Thị Thanh Khương tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Đức Minh tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Việc áp dụng gói phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) đã được chứng minh giảm đáng kể tỷ lệ NKVM. Hiện chưa có nhiều nghiên cứu về tuân thủ thực hành gói phòng ngừa NKVM trên nhân viên y tế (NVYT) tại Việt Nam. Mục tiêu: Mô tả tỷ lệ tuân thủ và phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ thực hành gói phòng ngừa NKVM của NVYT. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang phân tích được thực hiện trên 574 NVYT và 134 người bệnh (NB) phẫu thuật có chuẩn bị tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội từ tháng 05 đến tháng 10 năm 2025. Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi thông tin đối tượng nghiên cứu và bảng kiểm giám sát tuân thủ thực hành gói. Thống kê mô tả, phân tích hồi quy logistic đa biến được sử dụng để mô tả tỷ lệ tuân thủ và phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ thực hành gói. Kết quả: Tỷ lệ tuân thủ thực hành chung gói đạt 37%. Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến chỉ ra các biến độc lập (khoa, loại phẫu thuật, phương pháp, thời gian phẫu thuật) giải thích khoảng 31% khả năng tuân thủ thực hành gói. Trong đó, khoa phòng là biến độc lập liên quan có ý nghĩa thống kê đến tuân thủ thực hành gói (p < 0,05). Kết luận: Tuân thủ thực hành gói phòng ngừa NKVM của NVYT chưa cao. Trong tương lai cần thực hiện đồng bộ các biện pháp can thiệp, chú trọng yếu tố khoa phòng để cải thiện tuân thủ thực hành của NVYT, từ đó giảm tỷ lệ NKVM. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19066 ĐA BỆNH ĐA THUỐC Ở NGƯỜI CAO TUỔI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 2026-10-05T03:18:30+07:00 Phạm Thị Thanh Tâm ptttam74@gmail.com Nguyễn Thị Mỹ Hạnh tapchiyhocvietnam@gmail.com Lưu Thị Hải Anh tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Bài tổng quan tường thuật này hướng tới việc cung cấp thông tin cập nhật về thực trạng đa bệnh đa thuốc ở người cao tuổi (NCT) Việt Nam, đồng thời đánh giá các tác động lâm sàng và đề xuất các tiếp cận phù hợp nhằm tăng cường quản lý thuốc an toàn, hiệu quả. Phương pháp tìm kiếm và tổng quan tài liệu: Tối ưu hóa kết quả tìm kiếm bằng cách kết nối 2 từ khóa trở lên dùng để tìm kiếm. Có 15 nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam và 13 bài báo tiếng Anh (từ năm 2016 đến 2026) được sử dụng trong bài tổng quan này. Giải pháp then chốt: Quản lý đa bệnh đa thuốc cần có một cách tiếp cận hiệu quả hơn, lấy người bệnh làm trung tâm, chuyển dịch từ “trị bệnh” sang “chăm sóc toàn diện”. Các chiến lược bao gồm: đánh giá lão khoa toàn diện, cá thể hóa điều trị, ngừng thuốc chủ động, ứng dụng các công cụ hỗ trợ (Beers, STOPP/START), phối hợp đa chuyên khoa giữa bác sĩ lão khoa (bác sĩ nội tổng quát)- bác sĩ chuyên khoa - dược sĩ và đánh giá định kỳ. Kết luận: Việc triển khai cách tiếp cận toàn diện và quản lý chủ động là yếu tố thiết yếu để đảm bảo an toàn điều trị và nâng cao sức khỏe NCT. Các nghiên cứu tương lai cần tập trung vào đánh giá thực trạng đa bệnh đa thuốc ở NCT quy mô quốc gia, đánh giá các kết cục lâm sàng quan trọng đối với bệnh nhân. Thực hiện các nghiên cứu thẩm định và điều chỉnh các bộ tiêu chí quốc tế (như Beers hay STOPP/START) tối ưu cho danh mục thuốc và thực hành kê đơn tại Việt Nam. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19067 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG CỦA TRẺ MẮC SỞI ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH HÀ NỘI 2026-10-05T03:22:02+07:00 Phan Thị Hồng Hải haipth@tamanhhospital.vn Trần Đức Hậu tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Phương Thảo tapchiyhocvietnam@gmail.com Bùi Thị Khuyên tapchiyhocvietnam@gmail.com Bùi Thị Hương Thùy tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Sởi là bệnh truyền nhiễm cấp tính có khả năng lây lan mạnh qua đường hô hấp, thường gặp ở trẻ nhỏ và có thể gây nhiều biến chứng nặng. Sau đại dịch COVID-19, tỷ lệ tiêm chủng giảm đã làm gia tăng số ca mắc sởi trên toàn cầu và tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của bệnh nhi mắc sởi điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa Tâm Anh Hà Nội. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên các bệnh nhi dưới 15 tuổi được chẩn đoán xác định sởi và điều trị tại khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội từ 10/2024 đến 09/2025. Kết quả: Tổng số 148 bệnh nhi được đưa vào nghiên cứu. Nhóm tuổi < 9 tháng tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (39,2%), phân bố tuổi mắc bệnh từ 3 tháng tuổi – 14 tuổi 11 tháng, trẻ nam chiếm ưu thế (61,5%). Tỷ lệ chưa tiêm vacxin sởi cao (81,1%). Bệnh tập trung chủ yếu từ tháng 3 đến tháng 5. Triệu chứng lâm sàng điển hình gồm sốt (100%), phát ban (100%), ho (100%), viêm long đường hô hấp trên (93,9%) và viêm kết mạc (71,6%). Thời gian sốt trung bình là 5,86 ± 1,32 ngày. Biến chứng gặp ở 82,4% bệnh nhân, trong đó thường gặp nhất là viêm phổi (70,9%) và viêm dạ dày – ruột (41,2%). Trẻ nhỏ dưới 2 tuổi, trẻ chưa tiêm vacxin có nguy cơ biến chứng cao hơn (p < 0,05). Kết luận: Sởi vẫn là bệnh lý phổ biến ở trẻ nhỏ, đặc biệt ở nhóm chưa được tiêm chủng. Biến chứng xảy ra với tỷ lệ cao, trong đó viêm phổi là đáng chú ý. Tăng cường tiêm chủng đóng vai trò quan trọng trong giảm tỷ lệ mắc và biến chứng. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19068 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở TRẺ MẮC VIÊM PHỔI NHIỄM MYCOPLASMA PNEUMONIAE TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH HÀ NỘI NĂM 2023-2024 2026-10-05T03:28:41+07:00 Trần Thùy Linh tran.thuy.linh.271293@gmail.com Trần Đức Hậu tapchiyhocvietnam@gmail.com Thân Thị Thùy Linh tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Đức Tuấn tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Hữu Hiếu tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Ngọc Nga tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ở trẻ mắc viêm phổi nhiễm Mycoplasma pneumoniae (M. pneumoniae) tại Khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội năm 2023-2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 346 bệnh nhi (3 tháng – 15 tuổi) được chẩn đoán viêm phổi nhiễm M. pneumoniae, điều trị nội trú từ 01/01/2023 đến 31/12/2024 tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội. Kết quả: Trong 346 bệnh nhân, tuổi trung bình 4,18 ± 2,26 tuổi; nhóm 1–4 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (64,2%). Bệnh ghi nhận quanh năm và tập trung chủ yếu trong các tháng 5-7 (53,7%). Triệu chứng thường gặp nhất là ho (100%) và sốt (81,8%); trong khi 30,3% bệnh nhân có nghe phổi bình thường. Đa số bệnh nhân có SpO2 ≥95% khi nhập viện (93,1%). Trên X-quang, tổn thương thâm nhiễm phế nang gặp nhiều nhất (48,8%); siêu âm phổi phát hiện đông đặc ở 68,2% số bệnh nhân được khảo sát. CRP tăng ở 71,1%; bạch cầu tăng 46,8%; trong số bệnh nhân được định lượng, 94,1% có tăng LDH. Macrolide được sử dụng là kháng sinh ban đầu ở 97,7% trường hợp; tuy nhiên, 15,6% bệnh nhân cần chuyển quinolone do không đáp ứng với điều trị ban đầu. Tỷ lệ khỏi và đỡ giảm đạt 98,8%; thời gian nằm viện trung bình 5,3 ± 2,3 ngày; không có tử vong. Kết luận: Viêm phổi do Mycoplasma pneumoniae ở tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh gặp chủ yếu ở nhóm tuổi 1–4 với biểu hiện nổi bật là ho và sốt; trong khi các dấu hiệu thực thể tại phổi có thể không điển hình. Tổn thương phổi trên X-quang chủ yếu là thâm nhiễm phế nang. Tăng LDH và siêu âm phổi có thể hỗ trợ đánh giá tổn thương nhu mô phổi. Phần lớn bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị bằng macrolide, tuy nhiên cần theo dõi sát để kịp thời điều chỉnh phác đồ ở các trường hợp không đáp ứng. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19069 TÌNH TRẠNG BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG VÀ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA HELICOBACTER PYLORI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH TPHCM 2026-10-05T03:43:59+07:00 Nguyễn Hữu Bảo Hân baohannguyen1990@gmail.com Lâm Bội Hy tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Hữu Hiếu tapchiyhocvietnam@gmail.com Vũ Huy Tru tapchiyhocvietnam@gmail.com Giới thiệu: Hiện nay các báo cáo cho thấy tỉ lệ Helicobacter pylori (H.pylori) đa kháng được báo cáo đang gia tăng. Nghiên cứu này muốn khảo sát tình trạng bệnh viêm loét dạ dày tá tràng và tình hình nhiễm H.pylori kháng thuốc ở bệnh viện đa khoa Tâm Anh TPHCM. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên tất cả các bệnh nhân nhi (dưới 16 tuổi) viêm loét dạ dày tá tràng được chẩn đoán dựa vào lâm sàng và có kết quả nội soi dạ dày phù hợp tại bệnh viện đa khoa Tâm Anh TPHCM trong năm 2025. Chúng tôi ghi nhận các đặc điểm lâm sàng, kết quả nội soi, urease test, cấy Hp, tỉ lệ đề kháng kháng sinh. Kết quả: Có 318 bệnh nhi viêm loét dạ dày tá tràng đủ điều kiện nghiên cứu. Trong đó tỉ lệ H.pylori dương tính là 82%. Tỉ lệ kháng Clarithromycin là 99%, kháng Levofloxacin là 33%, kháng Metronidazole là 3,5%, kháng Amoxicillin là 0,3%, kháng Tetracycline là 0%. Kết luận: Tình hình kháng thuốc của H.pylori đang gia tăng ghi nhận tại bệnh viện đa khoa Tâm Anh. Cần thêm các nghiên cứu đánh giá mức độ đề kháng kháng sinh của Hp ở Việt Nam Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19070 NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP ÓI KÉO DÀI DO RỐI LOẠN NHU ĐỘNG THỰC QUẢN KHÔNG HIỆU QUẢ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH TP. HỒ CHÍ MINH 2026-10-05T03:52:22+07:00 Nguyễn Hữu Hiếu hieunh3@tahospital.vn Nguyễn Hữu Bảo Hân tapchiyhocvietnam@gmail.com Lâm Bội Hy tapchiyhocvietnam@gmail.com Vũ Huy Trụ tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Ói kéo dài ở trẻ em là một thách thức chẩn đoán, đòi hỏi loại trừ tuần tự các nguyên nhân thực thể và chức năng. Rối loạn nhu động thực quản không hiệu quả thường bị bỏ sót do biểu hiện không điển hình và yêu cầu thăm dò chuyên sâu để chẩn đoán xác định. Báo cáo ca bệnh: Bệnh nhi nữ 14 tuổi nhập viện với tiền sử ói kéo dài 1 năm, xảy ra 5–7 phút sau ăn kèm sụt 15kg cân nặng. Các thăm dò hình ảnh, nội soi dạ dày 4 lần và test tâm lý trước đó đều không ghi nhận bất thường rõ rệt. Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, bệnh nhi được thực hiện đo áp lực nhu động thực quản độ phân giải cao. Kết quả cho thấy 60% nhịp nuốt thất bại với chỉ số trung vị áp lực giãn tích hợp bình thường (4,1 mmHg), xác định chẩn đoán rối loạn nhu động thực quản không hiệu quả theo tiêu chuẩn Chicago 4.0. Bệnh nhi được điều chỉnh hành vi ăn uống kết hợp điều trị bảo tồn đa mô thức gồm Itopride, Esomeprazole, Alginate. Sau 1 tháng theo dõi, tần suất ói giảm, bệnh nhi dung nạp được lượng thức ăn tăng lên và ngừng sụt cân. Kết luận: Rối loạn nhu động thực quản không hiệu quả có thể là nguyên nhân gây ói kéo dài đơn độc ở thanh thiếu niên. Việc chỉ định đo áp lực và nhu động thực quản độ phân giải cao sớm đóng vai trò then chốt trong quy trình chẩn đoán các triệu chứng tiêu hóa trên không rõ nguyên nhân, giúp định hướng điều trị kịp thời và hiệu quả. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19071 VIÊM PHỔI NẶNG Ở TRẺ SƠ SINH LIÊN QUAN ĐẾN LEGIONELLA PNEUMOPHILA: BÁO CÁO CA BỆNH 2026-10-05T03:57:08+07:00 Mai Hải Yến maihaiyencc96@gmail.com Lê Tố Như tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thu Vân tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Tuyết tapchiyhocvietnam@gmail.com Viêm phổi do Legionella pneumophila ở trẻ sơ sinh là bệnh lý hiếm gặp nhưng có nguy cơ diễn biến nặng nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhi nam 7 ngày tuổi, sinh mổ chủ động thai đủ tháng, được phát hiện sốt 39°C khi tái khám vàng da. Khám ban đầu ghi nhận biểu hiện hô hấp không điển hình, SpO2 94%, bạch cầu và CRP tăng nhẹ; Xquang ngực thẳng: đám mờ không đồng nhất vùng đỉnh phổi phải; siêu âm phổi có tổn thương nhu mô rải rác. Trẻ được điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm bằng beta-lactam và aminoglycoside. PCR dịch tỵ hầu sau đó xác định dương tính với L. pneumophila, giúp điều chỉnh điều trị bằng azithromycin. Trong quá trình nằm viện, trẻ cần hỗ trợ oxy gọng mũi thời gian ngắn và không phải thở máy. Sau khi bổ sung macrolide, trẻ cắt sốt trong 24 giờ, các chỉ số viêm giảm dần và tình trạng hô hấp cải thiện rõ rệt. Sau 7 ngày điều trị, trẻ ổn định hoàn toàn và xuất viện không biến chứng. Trường hợp này nhấn mạnh việc định hướng lâm sàng và chẩn đoán phân tử sớm là yếu tố then chốt giúp cải thiện tiên lượng viêm phổi do L. pneumophila ở trẻ sơ sinh. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19072 TỈ LỆ SUY HÔ HẤP SƠ SINH SAU SINH MỔ Ở BỆNH VIỆN TÂM ANH HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 2026-10-05T04:07:25+07:00 Phạm Lê Mỹ Hạnh phamlemyhanh@gmail.com Trịnh Thanh Lan tapchiyhocvietnam@gmail.com Cam Ngọc Phượng tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Suy hô hấp là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh và thường gặp hơn khi tỉ lệ sinh mổ tăng. Việt Nam chưa có nhiều báo cáo về suy hô hấp sơ sinh sau sinh mổ. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ và các yếu tố liên quan suy hô hấp sớm ở trẻ sinh mổ ≥ 35 tuần tuổi thai. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bệnh – chứng tiền cứu trên 257 trẻ sinh mổ ≥ 35 tuần tuổi thai, gồm 57 trẻ suy hô hấp sớm trong vòng 24 giờ sau sinh cần hỗ trợ hô hấp trên 2 giờ và 200 trẻ khỏe mạnh. Phân tích hồi qui logistic được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan. Kết quả: Tỉ lệ suy hô hấp sớm là 3,8% tổng trẻ sinh mổ từ 01/09/2023 đến 30/07/2024. Các yếu tố liên quan suy hô hấp gồm mẹ mổ gây mê (OR = 3,36; 95% CI: 1,38–8,14), tuổi thai thấp (OR = 0,49; 95% CI: 0,36 – 0,69): cụ thể 35-36 tuần (OR=9,58; 95% CI: 3,35–27,38), 37-38 tuần (OR=2,07; 95% CI: 1,02– 4,18). Kết luận: Tỉ lệ trẻ suy hô hấp sớm sau sinh mổ là 3,8%. Tỉ lệ này càng cao khi mẹ mổ gây mê và tuổi thai càng thấp. Vì vậy cần xử trí mổ lấy thai và xây dựng hướng dẫn theo dõi phù hợp tại các trung tâm sản và sơ sinh. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19073 HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH CHĂM SÓC GIA ĐÌNH LÀM TRUNG TÂM ĐỐI VỚI CẢM NHẬN NĂNG LỰC LÀM CHA MẸ CỦA PHỤ HUYNH CÓ TRẺ SINH NON TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ THÁNG 3 NĂM 2025 ĐẾN THÁNG 3 NĂM 2026 2026-10-05T04:14:29+07:00 Nguyễn Minh Thanh Giang giangnmt@tahospital.vn Phạm Lê Mỹ Hạnh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Anh Thư tapchiyhocvietnam@gmail.com Cam Ngọc Phượng tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Dù giúp giảm căng thẳng cho cha mẹ và cải thiện sự phát triển của trẻ sinh non, mô hình chăm sóc gia đình làm trung tâm (Family-Centered Care – FCC) còn ít phổ biến tại Việt Nam. Xuất phát từ thực trạng hơn 50% cha mẹ có con sinh non tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) thiếu tự tin khi nuôi con, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của mô hình FCC đối với cảm nhận năng lực làm cha mẹ của phụ huynh trẻ sinh non tại Đơn vị hồi sức tích cực sơ sinh (Neonatal Intensive Care Unit – NICU). Nơi báo cáo công trình nghiên cứu: Hội nghị tổng kết Đề án cải tiến chất lượng xuất sắc năm 2025 tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP.HCM. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp bán thực nghiệm một nhóm trước–sau, trên 110 phụ huynh có con sinh non (<37 tuần) điều trị tại NICU ≥5 ngày, từ tháng 03/2025 đến tháng 03/2026. Cảm nhận năng lực làm cha mẹ được đo lường bằng thang đo PSOC-R (Parenting Sense of Competence Scale–Revised). Dữ liệu được phân tích bằng phương sai lặp lại (Repeated measures ANOVA) và phân tích hậu kiểm (Post-hoc). Kết quả: Tổng điểm cảm nhận năng lực tăng có ý nghĩa thống kê qua ba thời điểm đánh giá, từ 58.4 ± 6.2 điểm lúc nhập NICU lên 71.6 ± 4.1 điểm khi chuyển sang phòng ghép mẹ - con và 83.5 ± 5.1 điểm trước xuất viện (p < 0,001), với mức ảnh hưởng lớn của can thiệp (partial η² = 0.35). Xu hướng tương tự cũng được ghi nhận ở cả hai lĩnh vực thành phần của thang đo. Điểm hài lòng tăng từ 29.9 ± 10.3 lên 34.9 ± 8.7 và 40.6 ± 8.6 điểm (p < 0.001; partial η² = 0.28), trong khi điểm hiệu quả tăng từ 28.5 ± 11.0 lên 36.7 ± 8.1 và 42.9 ± 9.0 điểm (p < 0.001; partial η² = 0.42). Kết luận: Việc triển khai chương trình chăm sóc gia đình làm trung tâm có liên quan đến sự cải thiện có ý nghĩa thống kê cảm nhận năng lực làm cha mẹ của phụ huynh trẻ sinh non. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19074 SO SÁNH CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ VÀ DUNG DỊCH BẢO QUẢN KHÁC NHAU TRONG BẢO QUẢN LẠNH SÂU MÔ DÂY RỐN LÀM NGUỒN CUNG CẤP TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ 2026-10-05T04:20:09+07:00 Trần Thùy Dương tapchiyhocvietnam@gmail.com Lê Hoàng Hà tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Xuân Hưởng tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Bích tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Tâm Long tapchiyhocvietnam@gmail.com Trịnh Thanh Thảo tapchiyhocvietnam@gmail.com Trịnh Tuấn Việt tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Thị Thu tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Huyền tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Trung Hiệp tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Hằng Nga tapchiyhocvietnam@gmail.com Thẩm Thị Thu Nga ngattt@tamanhhospital.vn Bảo quản lạnh sâu mô dây rốn nguyên khối được xem là một giải pháp tối ưu giúp lưu trữ lâu dài nguồn cung cấp tế bào gốc trung mô giàu tiềm năng cho y học tái tạo. Nghiên cứu này thực hiện nhằm đánh giá và so sánh ảnh hưởng của hai kích thước xử lý mô (1×1×1 mm và 5×2×2 mm) kết hợp với hai loại dung dịch bảo quản (môi trường thương mại và huyết tương máu dây rốn, cùng bổ sung 10% DMSO) đến hiệu quả bảo quản lạnh sâu mô dây rốn. Kết quả cho thấy tế bào gốc trung mô được phân lập thành công từ tất cả các mẫu mô bảo quản lạnh được rã đông tại các mốc 1, 3 và 6 tháng, đồng thời duy trì nguyên vẹn các đặc tính sinh học (hình thái, động học tăng trưởng, kiểu hình miễn dịch và khả năng biệt hóa) tương đương với mẫu đối chứng tươi (p > 0,05). Nghiên cứu này đã chứng minh tính an toàn và hiệu quả của các phương pháp bảo quản lạnh thử nghiệm, đặt cơ sở cho việc lưu trữ dài hạn mô dây rốn tại các ngân hàng mô. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19077 KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN NGẮN HẠN TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ NUÔI CẤY CHO ỨNG DỤNG LÂM SÀNG 2026-10-05T16:54:47+07:00 Nguyễn Xuân Hưởng tapchiyhocvietnam@gmail.com Trịnh Tuấn Việt tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Bích tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Thùy Dương tapchiyhocvietnam@gmail.com Lê Hoàng Hà tapchiyhocvietnam@gmail.com Trịnh Thanh Thảo tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Tâm Long tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Văn Bắc tapchiyhocvietnam@gmail.com Hoàng Vũ tapchiyhocvietnam@gmail.com Thẩm Thị Thu Nga ngattt@tamanhhospital.vn Mục tiêu: Đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và môi trường bảo quản không chứa DMSO đến khả năng sống và đặc tính sinh học của tế bào gốc trung mô (TBGTM) từ dây rốn nuôi cấy trong điều kiện bảo quản ngắn hạn. Đối tượng và phương pháp: TBGTM ở thế hệ thứ tư (P4) được điều chỉnh về mật độ 8 × 106 tế bào/mL và bảo quản trong ba môi trường gồm Ringer’s Lactate (RL), RL bổ sung 2,5% Human Serum Albumin (HSA) và NutriStor® Cold Storage Solution, dưới các điều kiện nhiệt độ 2–8°C hoặc 22–25°C trong 0, 24, 48, 72 và 96 giờ. Chất lượng tế bào được đánh giá thông qua tỷ lệ sống, khả năng tăng sinh, kiểu hình miễn dịch và tiềm năng biệt hóa. Mỗi thí nghiệm được thực hiện độc lập 03 lần (n = 3). Kết quả: Môi trường Ringer’s Lactate bổ sung 2,5% HSA (nhóm D) giúp duy trì ổn định các đặc tính sinh học và tỷ lệ sống cao của TBGTM trong vòng 72 giờ đầu, đạt hiệu quả tiệm cận với môi trường thương mại NutriStor® Cold Storage Solution (Sartorius, Israel) (nhóm E). Ở mốc 96 giờ, nhóm D ghi nhận sự suy giảm đáng kể về tỷ lệ sống của tế bào, tuy nhiên các đặc tính kiểu hình và tiềm năng biệt hóa đa dòng vẫn được bảo tồn. Kết luận: Môi trường Ringer’s Lactate bổ sung 2,5% HSA ở nhiệt độ 4–8°C là điều kiện bảo quản ngắn hạn tối ưu cho TBGTM lên đến 96 giờ. Mặc dù kiểu hình và tiềm năng biệt hóa được bảo tồn đến 96 giờ, tỷ lệ sống của tế bào có xu hướng giảm sau 72 giờ. Do đó, nghiên cứu khuyến cáo nên sử dụng tế bào càng sớm càng tốt ngay sau khi thu hoạch; trường hợp bắt buộc phải lưu trữ hoặc vận chuyển, thời gian bảo quản tối đa không quá 72 giờ trong điều kiện trên. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19078 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI CHỖ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT BẰNG PHƯƠNG PHÁP NHIỆT HƠI NƯỚC - REZUM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH HÀ NỘI 2026-10-05T17:09:11+07:00 Phạm Quang Trung pqtrung1982@gmail.com Lê Anh Tuấn tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Văn Hinh tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Phương pháp nhiệt hơi nước – Rezum (phương pháp Rezum) là kỹ thuật ít xâm lấn được sử dụng để điều trị tại chỗ tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (TTL) (BPH: Benign Prostatic Hyperplasia). Tại Việt Nam, kỹ thuật này mới được triển khai từ năm 2025 tại một số bệnh viện lớn nên số liệu báo cáo còn hạn chế. Mục tiêu: đánh giá hiệu quả điều trị tại chỗ BPH bằng phương pháp Rezum tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh Hà Nội Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu trên trên toàn bộ người bệnh BPH được can thiệp bằng phương pháp Rezum tại bệnh viện đa khoa Tâm Anh Hà Nội tính đến tháng 4 năm 2026 Kết quả: Tổng số 22 người bệnh đủ tiêu chuẩn đã được tiến hành can thiệp. So sánh trước và sau can thiệp cho thấy trung vị thể tích TTL trước mổ là 47ml (IQR 40-63,25) giảm xuống 29,5ml (IQR 26-32), có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Trước can thiệp, có tới 91,9% trường hợp có rối loạn tiểu tiện ở mức độ nặng, còn lại là mức độ trung bình thì sau can thiệp 1-3 tháng, chỉ có 1 trường hợp (chiếm 4,5%) ở mức độ nặng, 27,3% ở mức độ nhẹ, còn lại là mức độ trung bình. Mức độ rối loạn tiểu tiện giảm có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Không có biến chứng ngay sau can thiệp, thời gian nằm viện đa số là 1 ngày. Chỉ có 2 trường hợp có xuất tinh ngược dòng, không có các biến chứng nào khác tại thời gian tái khám. Kết luận: Điều trị tại chỗ BPH bằng phương pháp Rezum là can thiệp tại chỗ ít xâm lấn, phục hồi nhanh, cải thiện hiệu quả các triệu chứng đường tiểu dưới, bảo tồn tốt chức năng tình dục đem lại lợi ích to lớn cho người bệnh, đặc biệt là người cao tuổi chiếm tỷ lệ lớn mắc BPH. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19079 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VI PHẪU THUẬT THẮT TĨNH MẠCH THỪNG TINH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (2021–2025) 2026-10-05T23:52:16+07:00 Trần Huy Phước tranhuyphuoc113@gmail.com Vũ Lê Chuyên tapchiyhocvietnam@gmail.com Từ Thành Trí Dũng tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Giãn tĩnh mạch thừng tinh gặp ở 15–20% nam giới trưởng thành và 35–40% trường hợp hiếm muộn nam nguyên phát. Vi phẫu thuật thắt tĩnh mạch thừng tinh đường bẹn là kỹ thuật được Hiệp hội Tiết niệu Châu Âu (EAU) khuyến cáo nhờ tỷ lệ biến chứng thấp. Mục tiêu: Đánh giá kết quả vi phẫu thuật thắt tĩnh mạch thừng tinh trên bốn chỉ số: mức độ đau theo thang điểm VAS, tinh dịch đồ theo tiêu chuẩn WHO 2021, thông số siêu âm Doppler màu bìu và tỷ lệ biến chứng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu có theo dõi tiến cứu một điểm trên 68 bệnh nhân được phẫu thuật từ tháng 01/2021 đến tháng 12/2025. Nhóm đau bìu n = 25; nhóm hiếm muộn n = 43, tất cả đều vô tinh trước mổ. Tình trạng vô tinh được xác nhận trên ít nhất hai mẫu tinh dịch ly tâm khảo sát cặn theo WHO 2021. Tinh dịch đồ sau mổ được đánh giá ở thời điểm ≥ 3 tháng. So sánh trước – sau mổ bằng kiểm định Wilcoxon signed-rank cho biến liên tục và McNemar cho kết cục nhị phân; các tỷ lệ kèm khoảng tin cậy (KTC) 95%. Kết quả: (1) Điểm VAS giảm từ 5,36 ± 1,38 xuống 2,88 ± 1,45 (p < 0,001); 48,0% bệnh nhân đáp ứng (giảm ≥ 50% điểm VAS). (2) Trong 43 bệnh nhân vô tinh, tinh trùng xuất hiện sau mổ ở 72,1% (31/43; KTC 95% 57,3–83,3; McNemar p < 0,001), gồm tinh trùng ẩn 37,2%, mật độ < 16 × 106/mL 20,9% và đạt ≥ 16 × 106/mL 14,0%; 27,9% vẫn vô tinh; mật độ cao nhất đạt 52 × 106/mL. (3) Siêu âm Doppler (n = 68): đường kính tĩnh mạch thừng tinh giảm 3,51 → 2,17 mm; thời gian trào ngược Valsalva 3,26 → 1,46 giây; thể tích tinh hoàn trái tăng 12,45 → 13,97 mL (tất cả p < 0,001). (4) Biến chứng: tái phát 4,4%; tràn dịch màng tinh hoàn 1,5%; không có nhiễm khuẩn vết mổ hay teo tinh hoàn. Kết luận: Vi phẫu thuật thắt tĩnh mạch thừng tinh là phương pháp an toàn, giúp giảm đau có ý nghĩa, cải thiện thông số Doppler và làm xuất hiện tinh trùng ở 72,1% bệnh nhân vô tinh. Đây là một lựa chọn điều trị có giá trị; cần nghiên cứu tiến cứu, cỡ mẫu lớn hơn để khẳng định. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19080 KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU CẮT CƠ THỰC QUẢN QUA NỘI SOI ĐƯỜNG MIỆNG (POEM) ĐIỀU TRỊ CO THẮT TÂM VỊ TẠI BỆNH VIỆN TÂM ANH HÀ NỘI 2026-10-05T23:56:35+07:00 Đào Trần Tiến tiendt@tamanhhospital.vn Hồ Thị Hà Phương tapchiyhocvietnam@gmail.com Đinh Thị Hương tapchiyhocvietnam@gmail.com Trịnh Việt Dũng tapchiyhocvietnam@gmail.com Vũ Trường Khanh tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Cắt cơ thực quản qua nội soi đường miệng (POEM) là phương pháp nội soi can thiệp mới, ít xâm lấn, hiệu quả trong điều trị bệnh co thắt tâm vị. Tuy nhiên, dữ liệu trong nước còn ít. Mục tiêu: đánh giá hiệu quả và tính an toàn của POEM trong điều trị co thắt tâm vị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên bệnh nhân co thắt tâm vị (lần đầu hoặc thất bại trước đó) được POEM từ 12/2021 đến 04/2026 tại bệnh viện Tâm Anh Hà Nội. Bệnh nhân được nội soi thực quản dạ dày, đo vận động thực quản độ phân giải cao, chụp XQ thực quản trước và sau can thiệp. Các dữ liệu được thu thập: điểm Eckardt, thủ thuật (thời gian, biến chứng), thời gian nằm viện. Đáp ứng lâm sàng thành công khi điểm Eckardt sau can thiệp ≤ 3. Kết quả: 37 bệnh nhân được POEM gồm 12/37 (32,43%) trường hợp đã can thiệp thất bại trước đó (8 thất bại sau nong bóng hơi, 4 tái phát sau phẫu thuật). Tuổi trung bình 44,56 (21-83) tuổi. Điểm Eckardt trung bình trước và sau can thiệp POEM lần lượt là 7,0± 2,1 (4-12) và 1,02±0,49 (0-3). POEM đạt thành công kỹ thuật 37/37 (100%) và cải thiện triệu chứng lâm sàng ở tất cả các trường hợp (37/37) với thời gian thủ thuật trung bình 96.2 phút (41-196 phút). Thời gian theo dõi trung bình 16,2 tháng (1,3-38.4 tháng). Thời gian nằm viện trung bình 3,54 ngày (3-6 ngày). Thủ thuật không gặp các biến chứng nặng (thủng, chảy máu, nhiễm khuẩn) cần phải can thiệp phẫu thuật. Kết luận: Phương pháp cắt cơ thực quản qua nội soi đường miệng cho thấy hiệu quả tốt, an toàn trong điều trị co thắt tâm vị (ngay cả với trường hợp thất bại hoặc tái phát) khi được thực hiện tại các trung tâm nội soi có kinh nghiệm. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19081 THÁCH THỨC TRONG THỰC HÀNH CHẨN ĐOÁN TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN ĐƯỜNG TIÊU HÓA: MÔ TẢ HÀNG LOẠT CA TẠI BỆNH VIỆN TÂM ANH 2026-10-06T00:00:47+07:00 Lưu Xuân Phát phatlx@tahospital.vn Võ Ngọc Diễm tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Thu Hải tapchiyhocvietnam@gmail.com Lê Thanh Quỳnh Ngân tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Bệnh lý tăng bạch cầu ái toan đường tiêu hóa (EGID) là nhóm bệnh hiếm, ngày càng được quan tâm trong thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, tăng bạch cầu ái toan trên mô học không đặc hiệu và có thể gặp trong nhiều tình trạng thứ phát, trong khi tiêu chuẩn chẩn đoán chưa thống nhất, gây khó khăn trong tiếp cận lâm sàng. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, nội soi và mô học ở bệnh nhân có tình trạng tăng bạch cầu ái toan đường tiêu hóa trong thực hành lâm sàng. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên các trường hợp có tăng bạch cầu ái toan ưu thế trên sinh thiết đường tiêu hóa tại Bệnh viện Tâm Anh từ 12/2024 đến 04/2026. Tiêu chuẩn mô học là mẫu sinh thiết thỏa số lượng bạch cầu ái toan theo từng vị trí. Dữ liệu lâm sàng, nội soi và cận lâm sàng được thu thập. Kết quả: Có 40 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, gồm 10 trường hợp viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan (EoE) và 30 tăng bạch cầu ái toan ngoài thực quản. Triệu chứng thường gặp nhất là đau bụng (72,5%). Tăng bạch cầu ái toan máu ngoại vi xuất hiện ở 35,9% trường hợp. Huyết thanh ký sinh trùng dương tính ghi nhận ở 40,7% trường hợp và chỉ ở nhóm ngoài thực quản. Nội soi thường không đặc hiệu, với khoảng 30% kết quả soi bình thường. Thể bệnh thường gặp nhất là viêm đại trực tràng tăng bạch cầu ái toan (27,5%), tiếp theo là viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan (25,0%). Kết luận: Biểu hiện lâm sàng và nội soi ở bệnh nhân có tăng bạch cầu ái toan đường tiêu hóa nhìn chung không đặc hiệu. Tỷ lệ đáng kể nội soi bình thường nhưng mô học bất thường nhấn mạnh vai trò của sinh thiết. Ngoài ra, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy cần thiết có một quy trình chẩn đoán cho tình trạng bệnh lý này ở các nước có tỷ lệ ký sinh trùng lưu hành cao. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19082 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, NỘI SOI, X-QUANG THỰC QUẢN VÀ HRM Ở BỆNH NHÂN RỐI LOẠN VẬN ĐỘNG THỰC QUẢN: KINH NGHIỆM ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH HÀ NỘI 2026-10-06T00:05:24+07:00 Đinh Thị Hương dinhhuongyhn94@gmail.com Hồ Thị Hà Phương tapchiyhocvietnam@gmail.com Đào Trần Tiến tapchiyhocvietnam@gmail.com Vũ Trường Khanh tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Rối loạn vận động thực quản, đặc biệt co thắt tâm vị (achalasia), là bệnh lý hiếm gặp, tiến triển mạn tính, có thể gây viêm phổi hít và suy dinh dưỡng, cần phối hợp nhiều phương tiện chẩn đoán để định hướng điều trị. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, nội soi, X-quang thực quản và đo áp lực thực quản độ phân giải cao (HRM), đồng thời đánh giá kinh nghiệm định hướng điều trị theo từng nhóm bệnh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 84 bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn vận động thực quản bằng HRM tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội từ 8/2022 đến 4/2026. Phân tích các đặc điểm lâm sàng, nội soi, X-quang, phân loại HRM và phương pháp điều trị. Kết quả: Nghiên cứu cho thấy achalasia chiếm 63,09% (53/84), IEM 16,67% (14/84), EGJOO 16,67% (14/84) và mất nhu động hoàn toàn 3,57% (AC, 3/84). Ở nhóm achalasia, bệnh nhân điều trị nong bóng (PD, n=21) chủ yếu type II (90%), type I 10%, điểm Eckardt trung bình 6,67; nhóm điều trị POEM (n=34) có thời gian mắc bệnh dài hơn (5,04 năm), nhiều biến chứng hơn, phân bố type I:II:III là 12,5%:75%:12,5%. Nhóm EGJOO biểu hiện không đồng nhất, điểm Eckardt trung bình 3,28, đa số không có tắc nghẽn trên nội soi; 86% điều trị nội khoa, một số trường hợp can thiệp (PD hoặc POEM). Nhóm AC có thời gian bệnh kéo dài (> 8 năm), thực quản giãn nặng, đã can thiệp nhiều lần; 2/3 điều trị POEM. Nhóm IEM có điểm Eckardt trung bình 4,07, nội soi chủ yếu bình thường và 93% đáp ứng điều trị nội khoa. Kết luận: HRM giữ vai trò then chốt trong chẩn đoán và phân loại rối loạn vận động thực quản. Kết hợp lâm sàng, nội soi và X-quang giúp định hướng điều trị cá thể hóa, từ nội khoa đến các can thiệp như PD, POEM, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19083 ĐÁNH GIÁ TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY – THỰC QUẢN SAU POEM Ở BỆNH NHÂN CO THẮT TÂM VỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH, HÀ NỘI 2026-10-06T00:09:52+07:00 Hồ Thị Hà Phương hothihaphuong@gmail.com Đinh Thị Hương tapchiyhocvietnam@gmail.com Đào Trần Tiến tapchiyhocvietnam@gmail.com Vũ Trường Khanh tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Cắt cơ thực quản qua nội soi đường miệng (POEM) là phương pháp điều trị hiệu quả và ít xâm lấn cho bệnh co thắt tâm vị. Tuy nhiên, trào ngược dạ dày - thực quản (GERD) là một vấn đề đáng quan tâm sau can thiệp, với tỷ lệ thay đổi đáng kể giữa các nghiên cứu. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tình trạng GERD sau POEM dựa trên triệu chứng và nội soi, đồng thời phân tích một số yếu tố liên quan. Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ, đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến GERD sau POEM ở bệnh nhân co thắt tâm vị. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 36 bệnh nhân co thắt tâm vị được điều trị bằng POEM tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh, Hà Nội trong giai đoạn 2021–2026. GERD được xác định dựa trên triệu chứng thông qua thang điểm GERD-Q (≥8) và dựa trên nội soi theo phân loại Los Angeles (≥A). GERD “câm” được định nghĩa là có viêm thực quản trên nội soi nhưng không có triệu chứng, mức độ tương hợp giữa GERD-Q và nội soi được đánh giá bằng hệ số Kappa. Phân tích mối liên quan giữa GERD với các yếu tố lâm sàng bằng hồi quy logistic đơn biến. Kết quả: Nghiên cứu gồm 36 bệnh nhân: tuổi trung bình 46,3 ± 15,7; nam chiếm 41,7%; BMI trung bình 21,0 ± 3,8 kg/m²; type II là thể thường gặp nhất (69,4%). Sau thời gian theo dõi trung vị 12 tháng, có 9 bệnh nhân (25,0%) có triệu chứng trào ngược. Trong 22 bệnh nhân được nội soi kiểm tra, 13 trường hợp (59,1%) có viêm thực quản, chủ yếu mức độ nhẹ (độ A–B chiếm 76,9%). Mức độ tương hợp giữa GERD-Q và nội soi thấp (κ = 0,34). GERD “câm” gặp ở 61,5% bệnh nhân có viêm thực quản. Nhóm co thắt tâm vị type I-II làm giảm nguy cơ GERD triệu chứng sau POEM có ý nghĩa thống kê với p=0,006. Có xu hướng tăng nguy cơ GERD ở bệnh nhân có BMI ≥ 23 kg/m2 nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê. Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa GERD với tuổi, giới tính hay can thiệp điều trị trước POEM. Kết luận: GERD là tình trạng thường gặp sau POEM, nhiều trường hợp có tổn thương nội soi dù không có triệu chứng, tuy nhiên thường ở mức độ nhẹ. Co thắt tâm vị type I-II làm giảm nguy cơ GERD triệu chứng, ngoài ra chưa ghi nhận yếu tố nguy cơ độc lập khác có ý nghĩa thống kê, có thể do cỡ mẫu nhỏ. Nội soi theo dõi nên được cân nhắc thường quy sau POEM. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19084 PHẪU THUẬT SỬA CHỮA BẤT THƯỜNG KẾT NỐI TĨNH MẠCH PHỔI LẠC CHỖ BÁN PHẦN ĐỔ VỀ TĨNH MẠCH VÔ DANH VÀ TĨNH MẠCH CHỦ TRÊN CA LÂM SÀNG VÀ NHÌN LẠI Y VĂN 2026-10-06T00:13:39+07:00 Lê Hồng Quân drlehongquan.vietduchospital@gmail.com Nguyễn Hữu Ước tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Lê Vinh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Ngọc Dự tapchiyhocvietnam@gmail.com Hoàng Văn Trung tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Việt Long tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Trình bày một trường hợp lâm sàng bệnh lý bất thường kết nối tĩnh mạch phổi lạc chỗ bán phần và thảo luận về chẩn đoán, điều trị và nhìn lại y văn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo một trường hợp bệnh nhân có bất thường tĩnh mạch phổi trên trái đổ về tĩnh mạch vô danh và tĩnh mạch phổi trên phải đổ về tĩnh mạch chủ trên, được chẩn đoán và phẫu thuật tại Khoa Phẫu thuật tim, mạch máu và lồng ngực - Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh (Hà Nội). Kết quả nghiên cứu: Bệnh nhân nam, 50 tuổi, nhập viện vì đau ngực và mệt khi gắng sức. Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh bao gồm siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính mạch máu và cộng hưởng từ tim cho thấy: * Tĩnh mạch phổi trên trái đổ về tĩnh mạch vô danh * Tĩnh mạch phổi trên phải đổ về tĩnh mạch chủ trên Bệnh nhân được phẫu thuật sửa chữa toàn bộ, chuyển hướng dòng chảy của tĩnh mạch phổi trên trái về tiểu nhĩ trái và kỹ thuật Warden cải tiến. Bệnh nhân hậu phẫu, ra viện ổn định Kết luận: Bất thường kết nối tĩnh mạch phổi lạc chỗ bán phần là một dị tật tim bẩm sinh hiếm gặp, nguyên nhân chính xác chưa rõ ràng. Việc chẩn đoán sớm và can thiệp phẫu thuật kịp thời giúp cải thiện tiên lượng, với kết quả sau mổ khả quan. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19085 KHẢO SÁT MẢNG XƠ VỮA NGUY CƠ CAO TRÊN CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH ĐỘNG MẠCH VÀNH 128 DÃY Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 2026-10-06T00:20:23+07:00 Hồ Anh Tuấn dr.hatuan@gmail.com Tôn Nữ Trà My tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Thị Cẩm Nhiên tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Xuân Vinh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Văn Dương tapchiyhocvietnam@gmail.com Hoàng Anh Tiến tapchiyhocvietnam@gmail.com Võ Thành Nhân tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Chụp cắt lớp vi tính động mạch vành không chỉ đánh giá mức độ hẹp lòng mạch mà còn giúp nhận diện đặc điểm mảng xơ vữa nguy cơ cao. Tại Việt Nam, dữ liệu về mảng xơ vữa nguy cơ cao, đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2, còn hạn chế. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm mảng xơ vữa nguy cơ cao trên chụp cắt lớp vi tính động mạch vành 128 dãy, so sánh giữa bệnh nhân có và không có đái tháo đường típ 2, đồng thời xác định các yếu tố dự báo độc lập của mảng xơ vữa nguy cơ cao. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang phân tích được thực hiện từ tháng 3/2023 đến tháng 8/2024 trên 110 bệnh nhân nghi ngờ bệnh tim thiếu máu cục bộ, gồm 55 bệnh nhân có đái tháo đường típ 2 và 55 bệnh nhân không đái tháo đường. Mảng xơ vữa nguy cơ cao được xác định khi có từ hai trong bốn dấu hiệu nguy cơ tại cùng một vị trí mạch máu: tái cấu trúc dương, mảng đậm độ thấp, vôi hóa điểm và dấu vòng nhẫn. Kết quả: Chụp cắt lớp vi tính động mạch vành phát hiện 79 dấu hiệu nguy cơ ở 44 bệnh nhân, chiếm 40%. Các dấu hiệu tái cấu trúc dương, mảng đậm độ thấp, dấu vòng nhẫn và vôi hóa điểm lần lượt chiếm 60,8%, 12,7%, 7,6% và 19%. Có 22 bệnh nhân có mảng xơ vữa nguy cơ cao, chiếm 20% nhóm nghiên cứu. Tỷ lệ dấu hiệu nguy cơ và mảng xơ vữa nguy cơ cao không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có và không có đái tháo đường típ 2. Các yếu tố dự báo độc lập của mảng xơ vữa nguy cơ cao gồm hội chứng vành cấp, vôi hóa động mạch thân chung trái và vôi hóa động mạch liên thất trước. Kết luận: Mảng xơ vữa nguy cơ cao được ghi nhận với tần suất đáng kể trên chụp cắt lớp vi tính động mạch vành 128 dãy. Sự hiện diện của mảng xơ vữa nguy cơ cao liên quan với hội chứng vành cấp và một số đặc điểm vôi hóa động mạch vành, nhưng không khác biệt rõ theo tình trạng đái tháo đường típ 2. Kiến nghị: Các dấu hiệu nguy cơ và đặc điểm mảng xơ vữa nguy cơ cao nên được mô tả thường quy trong báo cáo chụp cắt lớp vi tính động mạch vành. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19086 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH TƯỚI MÁU NÃO VÀ ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG Ở BỆNH NHÂN ĐAU ĐẦU MIGRAINE TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH HÀ NỘI 2026-10-06T00:27:00+07:00 Nguyễn Văn Tuận ngtuan21965@gmail.com Tạ Quang Trung tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Văn Liệu tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tưới máu não và đáp ứng điều trị dự phòng ở bệnh nhân đau đầu migraine. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 46 bệnh nhân đau đầu migraine điều trị tại phòng khám Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Hà Nội từ tháng 01/2025-12/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 46,96 ± 15,8, nữ giới chiếm 84,8%. Migraine không có aura chiếm 69,6%, có aura 30,4%. Các triệu chứng thường gặp: nôn, buồn nôn (36,9%), chóng mặt (28,3%), sợ ánh sáng (21,7%). Mất ngủ được ghi nhận ở 54,3% bệnh nhân. Đa số bệnh nhân đau mức độ vừa đến nặng (84,7%), đau kiểu mạch đập (60,9%), từng cơn (54,3%), thời gian kéo dài dưới 4 giờ (69,6%) và thường tăng khi hoạt động thể lực, khi mất ngủ, căng thẳng. Hình ảnh tưới máu cho thấy tăng tưới máu 47,8% và không thay đổi 30,4%, giảm tưới máu chiếm 21,8%. Topiramate và amitriptyline được sử dụng chủ yếu ở nhóm tăng tưới máu hoặc không thay đổi, trong khi flunarizine được sử dụng nhiều hơn ở nhóm giảm tưới máu (p < 0,05). Sau điều trị dự phòng, cường độ và tần suất cơn đau giảm ở cả nhóm tăng/không thay đổi tưới máu và nhóm giảm tưới máu với p < 0,05. Kết luận: Sau 3 tháng điều trị dự phòng, mức độ đau và tần suất cơn migraine đều giảm ở các nhóm bệnh nhân phân loại theo đặc điểm tưới máu não. Tuy nhiên, do nghiên cứu có thiết kế hồi cứu và không có nhóm chứng, chưa đủ cơ sở để khẳng định hiệu quả của việc lựa chọn thuốc dự phòng dựa trên hình ảnh tưới máu não. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19087 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ TIÊN ĐOÁN ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ ĐAU ĐẦU MIGRAINE TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2026-10-06T00:30:41+07:00 Nguyễn Thị Minh Đức minhducdongthap@gmail.com Trần Nguyễn Uyên Dung tapchiyhocvietnam@gmail.com Võ Phạm Thùy Linh tapchiyhocvietnam@gmail.com Lý Thị Kim Ngân tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Migraine là một trong những rối loạn đau đầu nguyên phát thường gặp nhất, gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống và khả năng lao động. Việc nhận diện các đặc điểm lâm sàng và các yếu tố ảnh hưởng đến đáp ứng điều trị dự phòng có ý nghĩa quan trọng trong tối ưu hóa chiến lược điều trị. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dân số, lâm sàng, bệnh lý kèm theo, hiệu quả điều trị ngừa cơn đau đầu, khảo sát mối liên quan giữa bệnh kèm theo và các yếu tố này, đồng thời xác định các yếu tố tiên đoán đáp ứng điều trị ngừa cơn ở bệnh nhân Migraine tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP. HCM. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 38 ± 17, nữ giới chiếm 79,4% (tỷ lệ nữ/nam = 3,8/1). Đặc điểm lâm sàng thường gặp gồm đau một bên (59,1%), tính chất đau kiểu mạch đập (49,4%) và cường độ đau trung bình (65,9%). Buồn nôn là triệu chứng kèm theo phổ biến nhất (53,3%). Các bệnh kèm theo thường gặp gồm rối loạn giấc ngủ (23,3%) và rối loạn lo âu (15,1%). Thuốc dự phòng được sử dụng nhiều nhất là Topiramate (72,9%). Tỷ lệ đáp ứng điều trị khá – tốt đạt 87,3%. Flunarizine cho tỷ lệ đáp ứng khá/tốt cao nhất (72,0%). Các bệnh kèm theo liên quan có ý nghĩa thống kê với cường độ đau nặng, kiểu đau không điển hình và sự hiện diện của các triệu chứng cảm giác. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy trầm cảm (OR = 0,07), rối loạn lo âu (OR = 0,36) và các triệu chứng buồn nôn, nôn, sợ ánh sáng và sợ âm thanh là các yếu tố tiên đoán độc lập liên quan đến đáp ứng điều trị kém. Kết luận: Migraine biểu hiện với đặc điểm lâm sàng đa dạng và thường đi kèm các rối loạn tâm thần. Các bệnh kèm theo này có ảnh hưởng đáng kể đến đáp ứng điều trị dự phòng, do đó cần được đánh giá và quản lý toàn diện trong thực hành lâm sàng. Nơi tiến hành và báo cáo công trình nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP. HCM Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19088 TIÊU CHUẨN GOLD COAST TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH XƠ CỨNG CỘT BÊN TEO CƠ 2026-10-06T00:35:24+07:00 Nguyễn Văn Tuận ngtuan21965@gmail.com Lê Thị Liên tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Anh Tuấn tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Đánh giá vai trò của tiêu chuẩn Gold Coast trong chẩn đoán bệnh xơ cứng cột bên teo cơ (ALS). Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 52 bệnh nhân ALS được chẩn đoán theo tiêu chuẩn Gold Coast tại Viện Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai, từ tháng 01/2024 đến tháng 09/2025. Tất cả bệnh nhân được thăm khám lâm sàng, ghi điện cơ và phân loại đồng thời theo tiêu chuẩn Gold Coast và Awaji. Trong nghiên cứu này, nhóm đạt tiêu chuẩn Awaji gồm các trường hợp được phân loại ở mức “chắc chắn” hoặc “có khả năng”; nhóm chưa đạt tiêu chuẩn Awaji gồm các trường hợp ở mức “có thể” hoặc “không đạt”. Kết quả: Trong 52 bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn Gold Coast, có 38 bệnh nhân (73,1%) đồng thời đạt tiêu chuẩn Awaji và 14 bệnh nhân (26,9%) chưa đạt tiêu chuẩn Awaji. Kiểm định McNemar cho thấy sự khác biệt giữa hai cách phân loại có ý nghĩa thống kê (χ² hiệu chỉnh = 12,07; p < 0,001). Thời gian từ khởi phát triệu chứng đến chẩn đoán ở nhóm chưa đạt tiêu chuẩn Awaji là 5,69 ± 6,25 tháng, ngắn hơn nhóm đạt tiêu chuẩn Awaji là 15,05 ± 20,50 tháng (p < 0,05). Theo vị trí khởi phát, tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn Gold Coast nhưng chưa đạt tiêu chuẩn Awaji dao động từ 23,1% đến 29,0%. Kết luận: Trong nhóm bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn Gold Coast, 26,9% chưa đạt tiêu chuẩn Awaji tại thời điểm đánh giá. Kết quả gợi ý tiêu chuẩn Gold Coast có thể hỗ trợ nhận diện thêm các trường hợp ALS chưa được phân loại ở mức “chắc chắn” hoặc “có khả năng” theo Awaji. Cần có nghiên cứu theo dõi dọc để đánh giá trực tiếp khả năng hỗ trợ chẩn đoán sớm của tiêu chuẩn Gold Coast. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19089 TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ ĐỘNG KINH Ở PHỤ NỮ CÓ THAI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH 2020-2026 2026-10-06T00:39:02+07:00 Nguyễn Văn Liệu tapchiyhocvietnam@gmail.com Vũ Thị Hinh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thu Thảo tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thu Hà tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Hoài tapchiyhocvietnam@gmail.com Luyện Ngọc Anh tapchiyhocvietnam@gmail.com Trương Huệ Linh tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Quản lý động kinh trong thai kỳ là một thách thức do cần cân bằng giữa kiểm soát cơn và nguy cơ gây quái thai của thuốc điều trị động kinh (anti-seizure medications – ASMs). Tại Việt Nam, dữ liệu thực hành lâm sàng còn hạn chế. Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm điều trị và kết quả kiểm soát cơn ở phụ nữ mang thai mắc động kinh tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh Hà Nội. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 74 phụ nữ mang thai mắc động kinh được điều trị bằng ASMs từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 4 năm 2026. Các biến số bao gồm đặc điểm lâm sàng, loại cơn, phác đồ điều trị trước và trong thai kỳ, kết quả kiểm soát cơn và một số kết cục thai kỳ. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 32 ± 4,98 tuổi (nhỏ nhất là 21, lớn nhất là 48 tuổi), tuổi khởi phát động kinh trung bình là 18,63 ± 7,84 tuổi. Cơn động kinh khởi phát toàn thể chiếm 54,05%, cơn khởi phát cục bộ chiếm 45,95%. Số lượng ASMs trung bình sử dụng trước khi mang thai là 2,49 ± 1,13 loại (ít nhất 1 loại, nhiều nhất 5 loại). Sau điều trị ASMs, 54,05% bệnh nhân cải thiện cơn, 24,33% hết cơn hoàn toàn, và 21,62% không cải thiện hoặc nặng hơn. Có 5 trường hợp đình chỉ thai, trong đó 1 trường hợp ghi nhận cơn không kiểm soát được. Trong số 30 phụ nữ có thông tin về tình trạng cho con bú, 21 người có cho con bú, đa số dùng đơn trị liệu (66,67%). Trước khi được chẩn đoán mang thai, 76,2% bệnh nhân đã hoặc đang sử dụng valproate; tất cả các trường hợp này đều được ngừng hoặc chuyển sang liệu pháp thay thế sau khi phát hiện có thai. Trong số các trẻ được sinh ra, chỉ ghi nhận một trường hợp dị tật thận móng ngựa, các trường hợp còn lại đều không phát hiện bất thường. Kết luận: Kết quả cho thấy đa số phụ nữ mang thai mắc động kinh trong nghiên cứu đạt được kiểm soát cơn tốt và có kết cục thai kỳ thuận lợi khi được quản lý phù hợp. Việc lựa chọn và cá thể hóa phác đồ điều trị, cùng với chuyển đổi thuốc kịp thời khi cần thiết, đóng vai trò then chốt trong việc duy trì kiểm soát cơn và đảm bảo an toàn cho cả mẹ và thai nhi. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19090 HIỆU QUẢ CỦA KÍCH THÍCH TỪ TRƯỜNG XUYÊN SỌ LẶP LẠI TRÊN TRIỆU CHỨNG VẬN ĐỘNG CỦA BỆNH NHÂN PARKINSON TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH NĂM 2025 2026-10-06T00:44:31+07:00 Nguyễn Thu Thảo thaothao0311@gmail.com Nguyễn Văn Liệu tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Văn Liệu tapchiyhocvietnam@gmail.com Trương Huệ Linh tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Thị Thương tapchiyhocvietnam@gmail.com Hoa Thị Lan tapchiyhocvietnam@gmail.com Hoàng Minh Hiên tapchiyhocvietnam@gmail.com Hoàng Thảo Linh tapchiyhocvietnam@gmail.com Bệnh Parkinson là một bệnh lý thoái hóa thần kinh, biểu hiện bởi cả triệu chứng vận động và các triệu chứng ngoài vận động. Tỷ lệ mắc bệnh Parkinson tăng theo tuổi và ảnh hưởng đến 1% dân số trên 60 tuổi 1. Kể từ những năm 1960, có nhiều tiến bộ đã nhấn mạnh các cơ chế đa dạng góp phần vào sinh lý của các rối loạn vận động như suy giảm chất truyền dopamine, thay đổi mạng lưới vòng lặp giữa hạch nền và vỏ não, tính dẻo vỏ não. Phương pháp kích thích từ trường xuyên sọ lặp lại (rTMS) có vai trò quan trọng trong điều trị đa mô thức trên người bệnh Parkinson. Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, chúng tôi thiết kế nghiên cứu trên 45 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Parkinson điều trị từ tháng 6/2025 đến tháng 11/2025. Kết quả ghi nhận hiệu quả dựa trên hai thang điểm, điểm UPDRS III và điểm Schwab và England. Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân được điều trị rTMS mang lại sự cải thiện trên cả triệu chứng vận động và khả năng hoạt động sống hàng ngày. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19091 ĐẶC ĐIỂM ĐIỆN SINH LÝ CỦA CÁC HỘI CHỨNG RUN NGUỒN GỐC TRUNG ƯƠNG: NGHIÊN CỨU TRÊN 360 BỆNH NHÂN 2026-10-06T00:50:14+07:00 Vũ Thị Hoàng Yến hoangyen8393@gmail.com Vũ Thị Hinh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Hải Yến tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Run là một rối loạn vận động không chủ ý, nhịp nhàng, lặp đi lặp lại, có thể có nguồn gốc ngoại biên hoặc trung ương. Run Parkinson (PD), run vô căn (ET) và run loạn trương lực (DT) là ba nguyên nhân thường gặp gây hội chứng run nguồn gốc trung ương. Trong thực hành lâm sàng, việc phân biệt các hội chứng này đôi khi gặp khó khăn do sự chồng lấp về triệu chứng. Điện cơ đa pha bề mặt kết hợp phân tích phổ tần số được xem là công cụ hỗ trợ hữu ích trong đánh giá và phân loại run. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm điện sinh lý của run và đánh giá giá trị của các thông số điện sinh lý trong phân biệt bệnh Parkinson (PD), run vô căn (ET) và run loạn trương lực (DT). Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và phân tích trên 360 bệnh nhân được chẩn đoán PD (n = 191), ET (n = 122) và DT (n = 47). Tất cả bệnh nhân được đánh giá bằng điện cơ đa pha bề mặt và gia tốc kế. Các thông số khảo sát bao gồm trạng thái xuất hiện run, tần số đỉnh, độ rộng tần số đỉnh và kiểu hình co cơ. Kết quả: Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 60,87 ± 14,07 tuổi. Tuổi khác biệt có ý nghĩa giữa ba nhóm bệnh (p = 0,002). Run khi nghỉ gặp chủ yếu ở nhóm PD (96,9%), trong khi run tư thế xuất hiện ở toàn bộ bệnh nhân ET và DT. Tần số đỉnh khác biệt có ý nghĩa giữa ba nhóm (p < 0,001), cao nhất ở ET (7,22 ± 1,62 Hz), tiếp đến là DT (5,99 ± 1,64 Hz) và thấp nhất ở PD (5,02 ± 0,92 Hz). Độ rộng tần số đỉnh tăng dần từ PD (0,78 ± 0,14) đến ET (0,85 ± 0,17) và DT (1,29 ± 0,44) (p < 0,001). Kiểu hình co cơ luân phiên chiếm ưu thế ở PD (77,5%), trong khi kiểu hình đồng thì chiếm ưu thế ở ET (81,1%) và DT (78,7%) (p < 0,001). Phân tích hồi quy logistic đa thức cho thấy tần số đỉnh, độ rộng tần số đỉnh và kiểu hình co cơ có giá trị độc lập trong phân biệt các hội chứng run. Kết luận: Các thông số điện sinh lý, đặc biệt là tần số đỉnh, độ rộng tần số đỉnh và kiểu hình co cơ, có giá trị trong chẩn đoán phân biệt PD, ET và DT. Điện cơ bề mặt kết hợp phân tích phổ tần số có thể là công cụ hỗ trợ hữu ích trong đánh giá bệnh nhân run. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19092 BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: HỘI CHỨNG CƠ HÌNH LÊ DO CƠ HÌNH LÊ TÁCH ĐÔI 2026-10-06T00:53:38+07:00 Vũ Thị Hinh hinhvt@tamanhhospital.vn Nguyễn Văn Liệu tapchiyhocvietnam@gmail.com Hoàng Nguyên Tài tapchiyhocvietnam@gmail.com Phạm Thu Phương tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Ánh Ngọc tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Thị Trinh tapchiyhocvietnam@gmail.com Hội chứng cơ hình lê (piriformis syndrome - PS) là là một nguyên nhân hiếm gặp gây đau vùng mông và đau thần kinh tọa, thường do chấn thương, viêm, co thắt hoặc thoái hóa. Tuy nhiên, biến thể giải phẫu bẩm sinh là một nguyên nhân hiếm gặp. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 59 tuổi được chẩn đoán hội chứng cơ hình lê do biến thể giải phẫu loại B (theo phân loại của Beaton và Anson) – trong đó nhánh mác chung của thần kinh tọa đi xuyên qua giữa hai bó của cơ hình lê. Bệnh nhân có cải thiện bước đầu với điều trị bảo tồn bằng kỹ thuật tiêm corticosteroid dưới hướng dẫn của siêu âm kết hợp với các bài tập kéo giãn cơ. Báo cáo ca bệnh này nhằm mục đích nâng cao nhận thức của các bác sĩ chuyên khoa thần kinh và cơ xương khớp về hội chứng cơ hình lê, đặc biệt trên những bệnh nhân đau thần kinh tọa mạn tính không điển hình. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19093 TÌNH HÌNH BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH TỪ THÁNG 1/2020 ĐẾN THÁNG 4/2026 2026-10-06T00:58:31+07:00 Nguyễn Văn Liệu tapchiyhocvietnam@gmail.com Vũ Thị Hinh tapchiyhocvietnam@gmail.com Trương Huệ Linh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thu Hà tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Hoài tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thu Thảo tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Động kinh là một trong những vấn đề phức tạp trong chuyên ngành thần kinh, với tỷ lệ lớn bệnh nhân không đạt được kiểm soát cơn dù đã điều trị bằng nhiều thuốc chống động kinh. Việc phân tích đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị trong thực tế giúp cung cấp bằng chứng cho chiến lược quản lý bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị ở bệnh nhân động kinh, đồng thời phân tích một số yếu tố liên quan đến hiệu quả kiểm soát cơn tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh trong giai đoạn 2020–2026. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 3053 bệnh nhân được chẩn đoán động kinh và điều trị tại bệnh viện từ tháng 01/2020 đến tháng 04/2026. Các biến số được thu thập bao gồm: tuổi, phân bố nhóm tuổi, phân loại cơn động kinh, thời gian mắc bệnh, số lượng thuốc chống động kinh đã sử dụng và kết quả điều trị. Phân tích mối liên quan giữa các yếu tố lâm sàng và kết quả điều trị được thực hiện. Kết quả: Trong tổng số 3053 bệnh nhân, nhóm tuổi ≤ 18 chiếm 39,1% và nhóm 19 – 40 tuổi chiếm 42,1%. Về phân loại cơn, động kinh toàn thể chiếm tỷ lệ cao nhất (51,3%), tiếp theo là động kinh cục bộ (34,3%), trong khi các thể hiếm như động kinh thực vật và cơn tâm thần chiếm tỷ lệ rất thấp (<1%). Thời gian mắc bệnh trung bình là 8,8 năm, trong đó 31,5% bệnh nhân có thời gian mắc ≤ 5 năm, 18,1% từ 6 – 9 năm và 22,9% ≥ 10 năm. Về điều trị, 35,7% bệnh nhân sử dụng đơn trị liệu, 26,0% sử dụng 2 thuốc, và tỷ lệ sử dụng đa trị liệu (≥ 3 thuốc) chiếm 38,3%, phản ánh tỷ lệ đáng kể bệnh nhân khó kiểm soát cơn. Kết quả điều trị cho thấy: 37,6% bệnh nhân không còn cơn, 32,0% giảm cơn, 10,4% không thay đổi hoặc tăng tần suất cơn, và 20,0% chưa ghi nhận hiệu quả điều trị. Phân tích mối liên quan cho thấy, nhóm sử dụng ≥ 3 thuốc có tỷ lệ không còn cơn thấp hơn và tỷ lệ không đáp ứng cao hơn so với nhóm đơn trị liệu. Kết luận: Hiệu quả điều trị liên quan đến thời gian mắc bệnh và số lượng thuốc sử dụng, do đó cần phát hiện sớm và tối ưu hóa phác đồ điều trị nhằm cải thiện khả năng kiểm soát cơn. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp dữ liệu thực tiễn phục vụ công tác quản lý và điều trị bệnh nhân động kinh tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19094 XU HƯỚNG THAY ĐỔI THEO NHÓM TUỔI Ở CÁC CA MẮC MỚI UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT THEO GHI NHẬN UNG THƯ QUẦN THỂ TP.HCM GIAI ĐOẠN 2003-2016 2026-10-06T01:03:10+07:00 Phạm Hùng Cường cuongph@tahospital.vn Phạm Xuân Dũng tapchiyhocvietnam@gmail.com Bùi Đức Tùng tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Ung thư (UT) tuyến tiền liệt là UT niệu khoa thường gặp nhất tại Việt Nam. Đã có nhiều nghiên cứu về UT tuyến tiền liệt tại Việt Nam, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu dựa trên số liệu Ghi nhận UT quần thể về xu hướng thay đổi của các ca mắc mới UT tuyến tiền liệt tại Việt Nam. Mục tiêu: Phân tích sự thay đổi theo nhóm tuổi của các ca mắc mới ung thư tuyến tiền liệt theo số liệu từ Ghi nhận ung thư quần thể TP.HCM từ năm 2003 đến 2016. Đối tượng và phương pháp: Số liệu từ Ghi nhận ung thư quần thể TP.HCM từ năm 2003 đến 2016, với 1.202 ca mắc mới UT tuyến tiền liệt, được hồi cứu. Số ca mắc mới UT tuyến tiền liệt theo các nhóm tuổi được tính để xem xét xu hướng thay đổi của UT tuyến tiền liệt tại TP.HCM. Kết quả: Theo Ghi nhận ung thư quần thể TP.HCM từ năm 2003 đến 2016, - Tuổi trung bình của các ca mắc mới UT tuyến tiền liệt là 72,8 (± 9,9) tuổi. Tuổi trung vị là 74 tuổi. - Các bệnh nhân trẻ (<50 tuổi) chiếm tỉ lệ 1,9% (KTC 95%: 1,7-2,1%). Tỉ lệ ca mắc mới UT tuyến tiền liệt trẻ không khác với tỉ lệ toàn cầu. - Các ca mắc mới UT tuyến tiền liệt ≥50 tuổi có xu hướng tăng rõ. Các ca mắc mới UT tuyến tiền liệt trẻ (<50 tuổi) xu hướng không thay đổi. Kết luận: Các ca mắc mới UT tuyến tiền liệt ≥50 tuổi tại TP.HCM có xu hướng tăng rõ trong giai đoạn 2003-2016. Các ca mắc mới UT tuyến tiền liệt trẻ (<50 tuổi) có xu hướng không thay đổi. Dù tỉ lệ các ca mắc mới UT tuyến tiền liệt trẻ không cao, nhưng vẫn cần cảnh giác khả năng bị UT tuyến tiền liệt khi có các triệu chứng nghi ngờ ở người trẻ <50 tuổi. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19095 BIẾN CHỨNG CHẬM LÀM RỖNG DẠ DÀY SAU PHẪU THUẬT TỤY – NHÂN 2 TRƯỜNG HỢP 2026-10-06T01:06:31+07:00 Ngô Sỹ Thanh Nam namnst@tamanhhospital.vn Nguyễn Sỹ Quang tapchiyhocvietnam@gmail.com Lê Văn Lượng tapchiyhocvietnam@gmail.com Đào Văn Minh tapchiyhocvietnam@gmail.com Lưu Văn Đạt tapchiyhocvietnam@gmail.com Lưu Đình Nam tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Đức Hùng tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Dương Hùng tapchiyhocvietnam@gmail.com Triệu Triều Dương tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Phẫu thuật tụy là các phẫu thuật phức tạp với tỷ lệ biến chứng cao (30–60%). Trong đó, chậm làm rỗng dạ dày (DGE) là biến chứng thường gặp, ảnh hưởng đáng kể đến thời gian hồi phục, chi phí điều trị và kết cục bệnh nhân. Mục tiêu: Phân tích đặc điểm lâm sàng của 2 trường hợp DGE sau phẫu thuật tụy và tổng quan y văn nhằm làm rõ cơ chế bệnh sinh, yếu tố nguy cơ và chiến lược điều trị biến chứng này. Phương pháp: Báo cáo 2 ca bệnh sau phẫu thuật tụy (cắt khối tá tụy và cắt thân đuôi tụy) có biến chứng DGE. Thu thập dữ liệu lâm sàng, hình ảnh học, diễn biến hậu phẫu và kết quả điều trị; kết hợp tổng quan tài liệu. Kết quả: Cả hai trường hợp đều xuất hiện DGE sau mổ với biểu hiện nôn, chậm dung nạp ăn uống. Một trường hợp diễn biến nặng, kéo dài, phải phẫu thuật lại nối vị–tràng và mở thông hỗng tràng; trường hợp còn lại đáp ứng tốt với điều trị bảo tồn kết hợp dẫn lưu ổ dịch. Các yếu tố liên quan bao gồm viêm, tụ dịch ổ bụng và ảnh hưởng của phẫu thuật lên thần kinh và nội tiết dạ dày. Kết luận: DGE là biến chứng đa yếu tố sau phẫu thuật tụy, liên quan đến cơ chế hormon (mất motilin), thần kinh (tổn thương phế vị), cơ học và viêm thứ phát. Việc phân biệt DGE nguyên phát và thứ phát có ý nghĩa quan trọng trong điều trị. Chiến lược điều trị cần kết hợp dinh dưỡng, thuốc tăng nhu động và xử trí nguyên nhân (như dẫn lưu ổ dịch). Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19096 HIỆU QUẢ CỦA OSIMERTINIB TRONG ĐIỀU TRỊ BƯỚC 1 UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN MUỘN CÓ ĐỘT BIẾN EGFR THƯỜNG GẶP 2026-10-06T01:12:43+07:00 Đỗ Hoàng Kha khakha1290@gmail.com Phạm Xuân Dũng tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Tường Vân tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Mai Khánh tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Osimertinib được xem là điều trị tiêu chuẩn trong điều trị bước 1 cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn có đột biến EGFR. Tuy nhiên các dữ liệu đời thực tại việt nam còn hạn chế. Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị Osimertinib bước 1 ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa có đột biến EGFR tại bệnh viện Tâm Anh thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 44 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn muộn, có đột biến EGFR thường gặp (mất đoạn Exon 19 hoặc đột biến điểm L858R trên Exon 21), được điều trị bước 1 bằng Osimertinib 80mg/ngày tại bệnh viện Tâm Anh Tp. Hồ Chí Minh từ tháng 01/2022 đến tháng 08/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 64 ± 10.6 tuổi, tỷ lệ nữ giới chiếm 65.9%; các đột biến thường gặp bao gồm Exon 19 del (56.8%), L858R (43.2%). Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) đạt 77.3% (95% CI 62.1 - 88.5); tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 88.6% (95% CI: 75.4 - 96.2). Trung vị thời gian sống thêm không tiến triển (mPFS) đạt 14 ± 1.56 tháng (95% CI: 10.91 – 17.08). Nhóm bệnh nhân có di căn não tại thời điểm chẩn đoán có mPFS đạt 14.8 tháng (95% CI: 10.3 – 19.3). Tỷ lệ sống sót tại thời điểm 1 năm, 2 năm và 3 năm lần lượt là 71.9%, 27% và 16.2%. Về độc tính, các tác dụng không mong muốn chủ yếu ở độ 1-2, thường gặp nhất là phát ban (52.3%), tiêu chảy (20.5%), và khô da (43.2%). Không ghi nhận trường hợp nào phải ngừng thuốc vĩnh viễn do độc tính nghiêm trọng. Kết luận: Osimertinib là một lựa chọn hiệu quả và dung nạp tốt trong điều trị bước đầu ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển có đột biến EGFR. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19098 KẾT QUẢ ỨNG DỤNG ICG TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH HÀ NỘI 2026-10-06T01:16:56+07:00 Triệu Triều Dương tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Sỹ Quang quangns@tamanhhospital.vn Ngô Sỹ Thanh Nam tapchiyhocvietnam@gmail.com Hoàng Đức Nam tapchiyhocvietnam@gmail.com Lê Văn Lượng tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Dương Hùng tapchiyhocvietnam@gmail.com Lưu Đình Nam tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Đánh giá kết quả ứng dụng ICG trong phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại trực tràng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu. Các ca bệnh chẩn đoán ung thư đại trực tràng được phẫu thuật nội soi có sử dụng ICG từ tháng 8/2025 đến tháng 6/2026. Kết quả: Tổng cộng 18 bệnh nhân gồm 12 nam và 06 nữ, độ tuổi trung bình 61,94 ± 11,2 (44 – 80) tuổi. Phân nhầy máu, đau bụng, rối loạn đại tiện có tỷ lệ 33,3%, 44,4%, và 22,2%. U sùi, loét lần lượt là 77,8%, 22,2%. Kích thước u < 3 cm, 3 – 5 cm, > 5 cm là 22,2%, 72,2% và 5,6%. Giai đoạn 0, I, II, III, IV lần lượt là 5,6%, 16,7%, 16,7%, 55,6% và 5,6%. Thời gian mổ trung bình là 150,5 ± 46,72 (90 – 270) phút. Số hạch nạo vét được, trung vị là 14 (9-16) hạch, số lượng hạch có tế bào ung thư, trung vị là 3 (0-5) hạch. Thời gian trung tiện, ăn đường miệng và nằm viện có giá trị trung vị (IQR) lần lượt là 3 (2 – 3), 7 (6 – 8), và 14 (11 -17) ngày. Tai biến và biến chứng lần lượt là 0% và 5,6% (có 01 trường hợp tổn thương niệu quản); không có trường hợp nào rò miệng nối sau khi triển khai sử dụng ICG. Kết luận: Sử dụng ICG trong phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại trực tràng là an toàn, khả thi. Số lượng hạch nạo vét được đạt yêu cầu, không có trường hợp nào rò miệng nối sau mổ. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19099 UNG THƯ DẠ DÀY Ở NGƯỜI TRẺ TUỔI – BÁO CÁO 2 TRƯỜNG HỢP 2026-10-06T01:21:55+07:00 Ngô Sỹ Thanh Nam namnst@tamanhhospital.vn Triệu Triều Dương tapchiyhocvietnam@gmail.com Lê Văn Lượng tapchiyhocvietnam@gmail.com Đào Văn Minh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Sỹ Quang tapchiyhocvietnam@gmail.com Lưu Văn Đạt tapchiyhocvietnam@gmail.com Lưu Đình Nam tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Ung thư dạ dày là bệnh lý ác tính phổ biến với tỷ lệ tử vong cao. Mặc dù thường gặp ở người trên 50 tuổi, tỷ lệ mắc ở người trẻ đang gia tăng. Nhóm bệnh nhân này có đặc điểm lâm sàng và sinh học riêng biệt, thường phát hiện ở giai đoạn muộn và tiên lượng xấu hơn. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng của hai trường hợp ung thư dạ dày ở người trẻ tuổi và tổng quan y văn nhằm làm rõ đặc điểm dịch tễ, bệnh sinh, chẩn đoán và điều trị của nhóm bệnh này. Phương pháp: Báo cáo loạt ca gồm 2 bệnh nhân trẻ tuổi được chẩn đoán ung thư dạ dày tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh. Thu thập dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng, hình ảnh học, mô bệnh học và diễn biến điều trị; kết hợp tổng quan tài liệu. Kết quả: Cả hai bệnh nhân đều được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển với tổn thương lan rộng và di căn phúc mạc. Một trường hợp là trẻ em với ung thư biểu mô tế bào nhẫn, tiến triển nhanh; trường hợp còn lại là nữ trẻ tuổi với ung thư biểu mô tuyến kém biệt hóa, diễn biến nặng, cần điều trị đa mô thức. Cả hai đều có biểu hiện lâm sàng không điển hình, dẫn đến chẩn đoán muộn. Kết luận: Ung thư dạ dày ở người trẻ tuổi có xu hướng gia tăng, thường có đặc điểm mô học ác tính cao, phát hiện muộn và tiên lượng xấu. Các yếu tố liên quan bao gồm nhiễm Helicobacter pylori, yếu tố di truyền và môi trường. Cần tăng cường sàng lọc ở nhóm nguy cơ cao nhằm phát hiện sớm và cải thiện kết quả điều trị. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19100 XỬ TRÍ U TRUNG MÔ DẠ DÀY LỚN VÙNG ĐÁY VỊ SÁT TÂM VỊ BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI KẾT HỢP TẠO VAN CHỐNG TRÀO NGƯỢC, BÁO CÁO HAI TRƯỜNG HỢP 2026-10-06T01:27:02+07:00 Lưu Văn Đạt 23na11.vandat@gmail.com Triệu Triều Dương tapchiyhocvietnam@gmail.com Ngô Sỹ Thanh Nam tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: U trung mô dạ dày, trong đó u mô đệm đường tiêu hóa (GIST) là loại thường gặp nhất, được điều trị bằng phẫu thuật triệt căn với diện cắt âm tính. Phẫu thuật nội soi ngày càng được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, các khối u lớn nằm ở vùng đáy vị sát tâm vị vẫn là thách thức lớn do khó đảm bảo tính triệt căn, hẹp tâm vị, trào ngược dạ dày – thực quản sau mổ. Vai trò của các kỹ thuật tạo van chống trào ngược trong phẫu thuật vẫn chưa được xác định rõ ràng. Mục tiêu: Báo cáo kết quả của phẫu thuật nội soi kết hợp tạo van chống trào ngược trong điều trị u trung mô dạ dày lớn vùng đáy vị sát tâm vị. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả 2 trường hợp u trung mô dạ dày lớn vùng đáy vị sát tâm vị được phẫu thuật nội soi kết hợp tạo van chống trào ngược tại Bệnh viện Tâm Anh giai đoạn 2024 –2025. Kết quả: Cả hai bệnh nhân được phẫu thuật nội soi thành công với diện cắt âm tính (R0), kết hợp tạo van chống trào ngược kiểu Dor. Kích thước u lần lượt 38 × 33 x 22 mm và 72 × 55 x 57 mm; thời gian mổ 140 và 220 phút; ăn lại sau 3 và 5 ngày. Giải phẫu bệnh gồm 1 u cơ trơn và 1 GIST nhóm nguy cơ 3a. Không ghi nhận biến chứng. Sau theo dõi 6 tháng, không có hẹp tâm vị, không có triệu chứng trào ngược. Kết luận: Phẫu thuật nội soi kết hợp tạo van chống trào ngược là phương pháp khả thi, an toàn và kết quả bước đầu thuận lợi trong xử trí u trung mô dạ dày lớn vùng đáy vị sát tâm vị. Kỹ thuật này giúp đảm bảo nguyên tắc triệt căn, bảo tồn chức năng chống trào ngược của tâm vị. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19101 BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TÂN HỖ TRỢ UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN II–III TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2026-10-06T01:31:56+07:00 Trần Thị Thiên Hương tapchiyhocvietnam@gmail.com Ngô Tuấn Phúc tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Tiến Sỹ tapchiyhocvietnam@gmail.com Kim Thị Bé Diệp tapchiyhocvietnam@gmail.com Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về lâm sàng (Overall response rate - ORR) và đáp ứng mô bệnh học hoàn toàn (pathologic complete response – pCR), chuyển đổi hạch và gánh nặng ung thư tồn lưu (residual cancer burden – RCB) sau điều trị toàn thân tân hỗ trợ ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II–III trong thực hành lâm sàng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 35 bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II–III được điều trị toàn thân tân hỗ trợ, sau đó phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM từ tháng 09/2021 đến tháng 11/2025. Phân nhóm sinh học dựa trên ER, PR và HER2. pCR được xác định khi không còn ung thư xâm lấn tại vú và hạch vùng sau điều trị (ypT0/is ypN0). Kết quả: Tỉ lệ đáp ứng lâm sàng toàn bộ là 65,7%, trong đó tỉ lệ cPR là 57,1 % và cCR là 8,6 %. Tỉ lệ đáp ứng hoàn toàn bộ về mô bệnh học pCR là 25,7%. Đáp ứng khác biệt theo phân nhóm sinh học, 62,5% ở ung thư vú bộ ba âm tính (TNBC) và 66,7% ở HER2 dương tính so với 8,3% ở nhóm HR dương tính/HER2 âm tính. Tỷ lệ chuyển đổi hạch đạt 35,5%. Độc tính điều trị ít và kiểm soát được, không trường hợp nào suy tim, sốt giảm bạch cầu hạt độ 4 là 8,6%. Kết luận: Điều trị toàn thân tân hỗ trợ ghi nhận đáp ứng bệnh học ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II–III, với mức độ đáp ứng khác nhau theo phân nhóm sinh học và độc tính nhìn chung có thể kiểm soát. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19102 SARCOPENIA TRONG UNG THƯ VÀ CÁ THỂ HÓA CHIẾN LƯỢC XẠ TRỊ BẰNG ĐIỆN TRỞ KHÁNG SINH HỌC 2026-10-06T01:35:56+07:00 Trần Thị Trà Phương traphuonghmu@gmail.com Vũ Hữu Khiêm tapchiyhocvietnam@gmail.com Nghiêm Nguyệt Thu tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Phương tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Quỳnh tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Thu Huyền tapchiyhocvietnam@gmail.com Đỗ Thị Lan tapchiyhocvietnam@gmail.com Trần Phạm Thuý Hoà tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Thị Thương tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Trung Hiếu tapchiyhocvietnam@gmail.com Nguyễn Đức Luân tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Sarcopenia là tình trạng giảm sức mạnh cơ kèm giảm khối lượng và/hoặc chất lượng cơ, thường gặp ở bệnh nhân ung thư và liên quan với tăng biến chứng, giảm khả năng dung nạp điều trị và tiên lượng xấu. Trong thực hành ung thư, cân nặng và chỉ số khối cơ thể (BMI) chỉ phản ánh kích thước cơ thể, không phản ánh trực tiếp thành phần cơ thể; do đó có thể bỏ sót giảm khối cơ ở người có BMI bình thường hoặc cao. Điện trở kháng sinh học (Bioelectrical Impedance Analysis – BIA) có ưu điểm không xâm lấn, nhanh, thuận tiện và có thể lặp lại, giúp bổ sung thông tin về khối cơ và các thành phần cơ thể. Mục tiêu: Tổng quan vai trò của sarcopenia trong ung thư; so sánh các phương pháp đánh giá thành phần cơ thể; làm rõ giá trị, giới hạn và cách ứng dụng BIA trong thực hành ung thư; đồng thời phân định mức độ bằng chứng hiện có về việc sử dụng BIA để hỗ trợ cá thể hóa xạ trị. Tổng quan: Sarcopenia liên quan với kết cục bất lợi ở nhiều nhóm ung thư và ở bệnh nhân điều trị xạ trị. CT là phương pháp hình ảnh được sử dụng rộng rãi để định lượng cơ xương, trong khi DXA cung cấp đánh giá khối nạc với độ lặp lại tốt. BIA cho phép ước tính khối cơ xương, skeletal muscle index (SMI) và phase angle với chi phí và thời gian thực hiện thấp hơn. Một số nghiên cứu đối chiếu cho thấy BIA có mức độ tương đồng đáng kể với các phương pháp tham chiếu, bao gồm DXA, trong những quần thể và điều kiện đo nhất định; tuy nhiên, mức độ phù hợp không đồng nhất và BIA không nên được xem là phương pháp thay thế hoàn toàn cho DXA hoặc CT. BIA không đo trực tiếp khối cơ; độ chính xác có thể giảm khi người bệnh có phù, cổ trướng, mất nước, thay đổi dịch nhanh, béo phì hoặc khi sử dụng các thiết bị/phương trình khác nhau. Vì vậy, giá trị nổi bật của BIA trong thực hành là khả năng đánh giá nhanh và tái đo để theo dõi diễn biến thành phần cơ thể, kết hợp với sức mạnh cơ, chức năng thể chất và bối cảnh lâm sàng. Hiện chưa đủ bằng chứng để sử dụng độc lập các chỉ số BIA nhằm thay đổi liều xạ hoặc thay thế các thông số giải phẫu – liều lượng của lập kế hoạch xạ trị. Kết luận: Sarcopenia là một dấu ấn nguy cơ quan trọng ở bệnh nhân ung thư. BIA có tiềm năng hỗ trợ phát hiện và theo dõi thay đổi thành phần cơ thể, đặc biệt khi cần đánh giá lặp lại. Việc bổ sung thông tin khối cơ và thành phần cơ thể vào đánh giá thay vì chỉ dựa trên cân nặng hoặc BMI có thể giúp nhận diện phenotype và phân tầng nguy cơ đầy đủ hơn, qua đó hỗ trợ chăm sóc dinh dưỡng - phục hồi chức năng và chiến lược điều trị cá thể hóa. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19103 MỨC ĐỘ NHẠY CẢM KHÁNG SINH CỦA MỘT SỐ CĂN NGUYÊN GÂY NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP TRÊN TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH NĂM 2025 2026-10-06T01:41:44+07:00 Bùi Thị Huyền My mybth@tamanhhospital.vn Bùi Thị Thu Dung tapchiyhocvietnam@gmail.com Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là bệnh thường gặp ở trẻ em đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi. Xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn và kháng sinh đồ giúp lựa chọn kháng sinh phù hợp với căn nguyên gây bệnh, sử dụng kháng sinh hợp lý giúp giảm tình trạng kháng kháng sinh trên vi khuẩn. Nghiên cứu trên 2952 mẫu nuôi cấy dịch tỵ hầu của trẻ em cho thấy tỷ lệ phân lập được vi khuẩn là 48.6% trong đó căn nguyên chủ yếu phân lập được là H. influenzae, S. pneumoniae, M. catarrhalis. Có sự khác biệt trong mức độ nhạy cảm kháng sinh ở các vi khuẩn được thử nghiệm. H. influenzae cho tỷ nhạy cảm tương đối cao với các kháng sinh như cephalosporin thế hệ 3 đường tiêm ceftriaxone, cefotaxime, meropenem, nhạy cảm trung bình đối với một số kháng sinh đường uống cefixime, amoxicillin clavulanic (61.9%, 58.2%). 94.8% các chủng S. pneumoniae nhạy cảm với amoxicillin clavulanic, 93.8% các chủng S. pneumoniae nhạy cảm với ceftriaxone, 100% các chủng S. pneumoniae nhạy cảm với vancomycin và linezolid. M. carrtahalis còn nhạy cảm khá cao với các kháng sinh thử nghiệm ở cả đường uống và đường tiêm. Hầu hết các chủng được thử nghiệm ở cả 3 căn nguyên thường gặp có tỷ lệ kháng cao với macrolide. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19104 TỈ LỆ LƯU HÀNH VÀ KIỂU ĐỒNG NHIỄM VI KHUẨN GÂY BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP Ở TRẺ EM BẰNG XÉT NGHIỆM PCR ĐA MỒI 2026-10-06T01:44:22+07:00 Bùi Thị Thu Dung buidung.hmu@gmail.com Bùi Thị Huyền My tapchiyhocvietnam@gmail.com Lê Thị Yến Nhi tapchiyhocvietnam@gmail.com Vũ Thị Thanh Hoa tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Viêm đường hô hấp là bệnh thường gặp ở trẻ em. Nhiều tác nhân vi khuẩn có thể đồng thời hiện diện hoặc gây bệnh tại đường hô hấp, tuy nhiên dữ liệu về tỷ lệ lưu hành và kiểu đồng phát hiện của các tác nhân này ở trẻ em Việt Nam vẫn còn hạn chế. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ dương tính và kiểu đồng nhiễm các tác nhân vi khuẩn thường gặp ở đường hô hấp của trẻ em bằng kỹ thuật PCR đa mồi. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 2916 bệnh nhi dưới 6 tuổi đến khám, điều trị tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh có làm xét nghiệm PCR đa mồi trên mẫu dịch rửa tỵ hầu phát hiện 7 loại vi khuẩn từ tháng 01/2025 đến tháng 12/2025. Dữ liệu lâm sàng, kết quả xét nghiệm PCR đa mồi được thu thập và phân tích. Kết quả: Có 67,1% trẻ được phát hiện ít nhất một vi khuẩn. H. influenzae(47,43%) và S. pneumoniae (39,03%) là hai vi khuẩn được phát hiện với tỉ lệ cao nhất. Các vi khuẩn còn lại bao gồmC. pneumoniae (0,38%), L. pneumophila (0,14%), M. pneumoniae(0,1%),B. pertussis (0,07%), B. parapertussis (0%). Kiểu đồng nhiễm phổ hiến nhất là S. pneumoniae và H. influenzae, chiếm 19,34% tổng số mẫu nghiên cứu và cao hơn ở nhóm trẻ dưới 3 tuổi. Kết luận: H. influenzae và S. pneumoniae là hai vi khuẩn được phát hiện với tỷ lệ cao nhất trong đường hô hấp của trẻ dưới 6 tuổi; đồng thời S.pneumoniae và H.influenzae là kiểu đồng nhiễm thường gặp nhất. Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19105 TỶ LỆ NHIỄM VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ KIỂU GEN HPV NGUY CƠ CAO Ở PHỤ NỮ LÀM XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH NĂM 2025 2026-10-06T01:48:33+07:00 Vũ Thị Thanh Hoa hoavtt@tamanhhospital.vn Bùi Thị Thu Dung tapchiyhocvietnam@gmail.com Đặt vấn đề: Ung thư cổ tử cung liên quan chặt chẽ đến nhiễm Human Papillomavirus (HPV), đặc biệt là các genotype nguy cơ cao (HR-HPV). Phân bố genotype thay đổi theo khu vực, đặc điểm dân số và hệ thống sàng lọc; dữ liệu tại các bệnh viện tư nhân lớn ở Việt Nam còn hạn chế. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm HR-HPV, mô tả phân bố genotype theo nhóm tuổi và tình trạng đồng nhiễm ở phụ nữ làm xét nghiệm tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 6.606 mẫu phết cổ tử cung từ ngày 01/01/2025 đến 31/12/2025. Xét nghiệm real-time PCR được thực hiện trên Cobas 5800 và Alinity m. Tỷ lệ được trình bày với khoảng tin cậy 95% (95% CI); khác biệt giữa các nhóm tuổi được đánh giá bằng kiểm định Chi-square. Kết quả: Có 928/6.606 mẫu dương tính HR-HPV, tương ứng 14,05% (95% CI: 13,23–14,91). HPV16, HPV18 và Other HR-HPV được phát hiện lần lượt ở 2,44%, 1,39% và 11,43% tổng số mẫu. Tỷ lệ nhiễm cao nhất ở nhóm <30 tuổi (16,87%), tiếp theo là nhóm ≥50 tuổi (15,83%); khác biệt giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê (χ² = 17,24; df = 3; p < 0,001). Đồng nhiễm từ hai nhóm genotype trở lên chiếm 8,08% số trường hợp dương tính. Kết luận: Tỷ lệ nhiễm HR-HPV là 14,05%; Other HR-HPV chiếm ưu thế và tỷ lệ nhiễm cao hơn ở phụ nữ <30 tuổi và ≥50 tuổi. Copyright (c) 2026