https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/issue/feedTạp chí Y học Việt Nam2026-09-15T01:15:02+07:00Tạp chí Y học Việt Namtoasoan@tapchiyhocvietnam.vnOpen Journal Systems<p><strong>1. Tên cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo in (báo in, tạp chí in):</strong></p> <p><strong>Tổng hội Y học Việt Nam</strong></p> <p><strong>Địa chỉ:</strong> 68A Bà Triệu, Phường Cửa Nam, Thành phố Hà Nội</p> <p><strong>Điện thoại:</strong> 024 39431866 </p> <p><strong>2. Tôn chỉ, mục đích:</strong></p> <p>- Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về y học;</p> <p>- Phổ biến những thành tựu khoa học, công trình nghiên cứu, kiến thức khoa học trong nước và quốc tế về nghiệp vụ y tế.</p> <p><strong>3. Đối tượng phục vụ: </strong>Hội viên Tổng hội Y học Việt Nam, các cán bộ y tế, sinh viên y, dược và bạn đọc quan tâm.</p> <p><strong>4. Thể thức xuất bản: </strong>Ấn phẩm in</p> <p><strong>5. Ấn phẩm chính:</strong></p> <p>- Tên gọi: Tạp chí Y học Việt Nam.</p> <p>- Ngôn ngữ thể hiện: Tiếng Việt, tiếng Anh.</p> <p>- Kỳ hạn xuất bản: 03 kỳ/tháng tiếng Việt và 02 kỳ/năm tiếng Anh.</p> <p>- Thời gian phát hành: Ngày 15&30 hàng tháng;</p> <p>- Khuôn khổ: 19cmx27cm;</p> <p>- Số trang: 380 trang kỳ tiếng Việt và 180 trang kỳ tiếng Anh.</p> <p> </p>https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18866GIÁ TRỊ CỦA TỶ SỐ RDW/ALBUMIN (RAR) VÀ CHỈ SỐ ĐÁP ỨNG VIÊM HỆ THỐNG (SIRI) TRONG DỰ BÁO BỆNH THẬN MẠN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 22026-09-14T02:25:42+07:00Lê Trọng Nhânnhanlt@hiu.vnLương Linh Lytapchiyhocvietnam@gmail.comTrần Trương Trung Tínhtapchiyhocvietnam@gmail.comLê Quốc Tuấntapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Tỷ số RDW/Albumin (RAR) và chỉ số đáp ứng viêm hệ thống (SIRI) là các chỉ dấu phản ánh tình trạng viêm và dinh dưỡng. Tuy nhiên, vai trò của chúng trong đánh giá tổn thương thận ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) chưa được nghiên cứu đầy đủ. Mục tiêu: Khảo sát mối liên quan giữa RAR, SIRI với chức năng thận và đánh giá giá trị dự báo bệnh thận mạn ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 255 bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Phân tích tương quan được sử dụng để đánh giá mối liên quan giữa các chỉ số viêm với eGFR và UACR. Hồi quy logistic đa biến được thực hiện để xác định các yếu tố dự báo độc lập của bệnh thận mạn và đường cong ROC được dùng để đánh giá giá trị dự báo. Kết quả: Bệnh nhân có bệnh thận mạn có RAR, SIRI cao hơn so với nhóm không có bệnh thận mạn (p < 0,05). RAR tương quan nghịch với eGFR (r = −0,34; p < 0,0001) và thuận với UACR (r = 0,31; p < 0,0001). SIRI cũng tương quan nghịch với eGFR (r = −0,18; p = 0,0037) và thuận với UACR (r = 0,25; p < 0,0001). Các yếu tố dự báo độc lập của bệnh thận mạn gồm RAR, SIRI, hemoglobin, HDL-C và acid uric với AUC của mô hình đạt 0,8347. Kết luận: RAR và SIRI có liên quan với suy giảm chức năng thận ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 và có thể hữu ích trong sàng lọc nguy cơ bệnh thận mạn.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18867HẠ PHOSPHO MÁU VÀ HỘI CHỨNG NUÔI ĂN LẠI TRÊN BỆNH NHÂN TẠI KHOA HỒI SỨC NGOẠI, BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 12026-09-14T02:32:43+07:00Nguyễn Thị Hồng Thiệnbshongthien2@gmail.comNguyễn Thanh Hùngtapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Văn Quangtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Thị Trân Châutapchiyhocvietnam@gmail.comĐặng Thanh Tuấntapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Quý Hợptapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Nguyên nhân hạ Phospho bao gồm dinh dưỡng kém kéo dài, rối loạn điện giải, và các bệnh lý nền như suy gan, suy thận, nhưng đáng chú ý nhất là hội chứng nuôi ăn lại (Refeeding Syndrome-HCNAL) sau khi bắt đầu cho ăn. Hạ Phospho máu là một biến chứng nguy hiểm, có thể dẫn đến rối loạn chức năng tim, hô hấp, thần kinh và tăng nguy cơ tử vong. Tỷ lệ mắc HCNAL dao động từ 0,43% đến 80%. Việc theo dõi sát sao, bổ sung Phospho, kali và Magne kịp thời là vô cùng cần thiết để điều trị và quản lý hiệu quả tình trạng này. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm hạ Phospho máu và HCNAL trên bệnh nhân tại khoa Hồi Sức Ngoại Bệnh viện Nhi Đồng 1 trong thời gian từ tháng 11/2024 đến tháng 09/2025. Với 2 mục tiêu chuyên biệt là xác định tỷ lệ hạ Phospho, tỷ lệ HCNAL và các yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả trên 128 bệnh nhi hậu phẫu được nuôi ăn TM từ tháng 11//2024 đến tháng 09/2025. Tiêu chuẩn chẩn đoán hạ Phospho máu: Phospho huyết thanh <0,8 mmol/L; HCNAL theo hướng dẫn NICE 2006. Dữ liệu được phân tích bằng SPSS 26.0, kiểm định chi-bình phương, mức ý nghĩa p<0,05. Kết quả: Có 128 bệnh nhi hậu phẫu thoả tiêu chuẩn chọn mẫu. Tỷ lệ trẻ hạ Phospho máu: 57,8%; yếu tố nguy cơ liên quan đến hạ Phospho máu gồm: dinh dưỡng kém khi nhập khoa (OR = 2,5), bù Magne TM (OR = 1,83),truyền Albumin (OR = 15,01) và thời gian nằm hồi sức dài. Trẻ mắc HCNAL chiếm 9,4%; trong đó có 33,3% nhịn trước nhập khoa, 73,3% trẻ suy dinh dưỡng, hạ Phospho, hạ Magne thường gặp. Mức can thiệp năng lượng điều trị là 48 kcal/kg/ngày. Cung cấp năng lượng chủ yếu từ glucid (100%) , protein (75%) và lipid (33,3%). Kết luận: Cần định lượng Phospho máu thường quy cho tất cả BN nằm hồi sức, bổ sung Phospho sớm và an toàn. Cần điều chỉnh các yếu tố nguy cơ hạ Phospho và HCNAL như dinh dưỡng không hợp lý, bù Magne tĩnh mạch, albumin thấp, thời gian nằm hồi sức kéo dài.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18868ĐẶC ĐIỂM SỐ LƯỢNG BẢN SAO TREC VÀ KREC Ở BỆNH NHI RỐI LOẠN MIỄN DỊCH BẨM SINH2026-09-14T02:43:58+07:00Nguyễn Thị Thanh Hiệpthanhiep.rhm.yds@gmail.comNguyễn Thị Mai Anhtapchiyhocvietnam@gmail.comPhan Nguyễn Liên Anhtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Xét nghiệm định lượng vòng cắt nối thụ thể tế bào lympho T (TREC) và lympho B (KREC) phản ánh quá trình sinh lympho T và B mới trong tuyến ức và tủy xương, thường được ứng dụng trong sàng lọc sơ sinh nhằm phát hiện suy giảm miễn dịch nặng. Tuy nhiên, dữ liệu về giá trị của các chỉ dấu này trên bệnh nhi rối loạn miễn dịch bẩm sinh (Inborn Errors of Immunity -IEI) tại Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt trong mối liên quan với các quần thể lympho trưởng thành lưu hành máu ngoại vi. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm TREC, KREC và mối liên quan với các quần thể lympho lưu hành máu ngoại vi (CD3, CD4, CD8, CD19) ở bệnh nhi IEI. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 24 bệnh nhi được xác định có rối loạn miễn dịch bẩm sinh, điều trị và theo dõi tại Khoa Sốt xuất huyết-Huyết học, Bệnh viện Nhi Đồng 1, từ tháng 06/2025 đến tháng 02/2026. Kết quả: Tỷ lệ nam/nữ: 1/1, nhóm tuổi 1-6 chiếm tỷ lệ cao nhất, đặc điểm lâm sàng thường gặp nhất là nhiễm trùng (58,3%). Các nhóm IEI ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển và chức năng của lympho (nhóm 1-3 theo IUIS 2024) chiếm 58,3% tổng số trường hợp. Tỷ lệ giảm TREC là 92,8% ở nhóm 1-3 và 80,0% ở các nhóm còn lại. Giảm KREC ghi nhận ở 50,0% nhóm 1-3 và 70,0% các nhóm khác. Phần lớn trường hợp cho thấy sự tương hợp giữa TREC, KREC với số lượng các quần thể lympho ngoại vi (CD3, CD4, CD8, CD19) khi cùng giảm hoặc bình thường. Tuy nhiên, có đến 37,5% các trường hợp giảm TREC và/hoặc KREC trong khi các chỉ số lympho vẫn trong giới hạn theo tuổi, gợi ý khả năng phát hiện sớm bất thường sinh lympho trước khi số lượng lympho lưu hành trong máu ngoại vi giảm rõ rệt. Đáng chú ý, sự không tương quan này cũng được quan sát thấy ở một số bệnh nhi có biểu hiện tự miễn, thuộc các nhóm IEI không liên quan trực tiếp đến rối loạn sinh lympho điển hình, cho thấy tìm năng nghiên cứu sâu hơn mối liên quan này. Kết luận: TREC và KREC là các chỉ dấu phản ánh bất thường quá trình tạo mới lympho ở bệnh nhi IEI, kể cả ở các nhóm IEI không thuộc rối loạn sinh lympho điển hình. Giảm TREC và/hoặc KREC có thể xuất hiện khi số lượng lympho máu ngoại vi vẫn trong giới hạn theo tuổi, hiện tượng này cũng được ghi nhận ở một số trường hợp có biểu hiện tự miễn. Việc phối hợp TREC, KREC với phân tích quần thể lympho góp phần hỗ trợ đánh giá rối loạn sinh lympho trong thực hành lâm sàng, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về vai trò của các chỉ dấu này.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18869NGHIỆM PHÁP THỬ THÁCH ĐƯỜNG MIỆNG Ở TRẺ MÀY ĐAY TIẾP XÚC VỚI SỮA BÒ2026-09-14T02:50:46+07:00Nguyễn Thị Kim Oanhnguyenthikimoanh0294@gmail.comNguyễn Anh Tuấntapchiyhocvietnam@gmail.comTrần Anh Tuấntapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Thị Ngọctapchiyhocvietnam@gmail.comMở đầu: Mày đay tiếp xúc với sữa bò có thể gặp ở trẻ dị ứng đạm sữa bò qua trung gian IgE, nhưng cũng có thể chỉ là biểu hiện của mẫn cảm tại da đơn thuần, nên giá trị chẩn đoán của các xét nghiệm dị ứng trong nhóm này chưa rõ ràng. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca được thực hiện tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 giai đoạn 2016-2025. Nghiên cứu nhằm đánh giá sự phù hợp giữa kết quả xét nghiệm lẩy da (SPT) với sữa bò tươi, sIgE và nghiệm pháp thử thách đường miệng (OFC) ở trẻ có mày đay tiếp xúc với sữa bò là biểu hiện chính hoặc duy nhất. Kết quả: Có 13 trẻ được thực hiện OFC, tuổi trung vị 9 tháng. SPT với sữa bò tươi dương tính ở 2/13 trẻ; IgE đặc hiệu (sIgE) dương tính ở 4/5 trẻ. Trong 8 trẻ thuộc nhóm chẩn đoán, tất cả đều có OFC âm tính. Trong 5 trẻ đánh giá dung nạp, 2 trẻ có OFC dương tính với mày đay tiếp xúc lan rộng toàn thân sau liều 1 mL sữa, tự giới hạn và không cần điều trị; 3 trẻ còn lại âm tính. Ở các trẻ OFC âm tính, liều dung nạp trung vị là 109 mL; 3 trẻ xuất hiện mày đay tiếp xúc ở liều 5-10 mL nhưng không tiến triển toàn thân khi tiếp tục tăng liều. Kết luận: Trẻ có mày đay tiếp xúc với sữa bò và xét nghiệm dị ứng dương tính vẫn có thể dung nạp sữa bò qua đường uống. OFC là công cụ quan trọng giúp xác định dị ứng đạm sữa bò có ý nghĩa lâm sàng và đánh giá khả năng dung nạp, từ đó hạn chế ăn kiêng không cần thiết.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18870ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐA KÝ HÔ HẤP Ở BỆNH NHI NGƯNG THỞ TẮC NGHẼN KHI NGỦ TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 12026-09-14T02:58:21+07:00Phạm Thanh Uyênphamthanhuyen2106@gmail.comHồ Thiên Hươngtapchiyhocvietnam@gmail.comTrần Anh Tuấntapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA) ở trẻ em là một rối loạn hô hấp liên quan đến giấc ngủ thường gặp, có thể dẫn tới các hậu quả trên trẻ về nhận thức,thần kinh và các bệnh lý tim mạch, chuyển hóa. Hiện nay các nghiên cứu về OSA ở trẻ em tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và rất ít số liệu về bệnh lý này ở trẻ. Do đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng và kết quả đa ký hô hấp của trẻ được chẩn đoán OSA tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên 78 bệnh nhi được tiến hành đo đa ký hô hấp qua đêm. Mức độ OSA được phân loại theo các ngưỡng chỉ số ngưng–giảm thở (AHI) với mức phân độ OSA nhẹ 1–<5, trung bình 5–<10, nặng ≥10 lần /giờ. Các đặc điểm dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng và các chỉ số đa ký hô hấp (AHI, ODI : chỉ số giảm bão hòa oxy máu trong lúc ngủ, SpO2 thấp nhất,...) được phân tích. Kết quả: Tuổi trung bình là 6,7 trong đó nam chiếm tỷ lệ 73,1 %. Các triệu chứng thường gặp nhất gồm ngáy (89,7%), cơn ngưng thở (96,2%) và buồn ngủ ban ngày (46,2%). Phì đại amidan gặp ở 71,8%, phì đại VA ghi nhận ở 66,7% các trường hợp và thừa cân béo phì chiếm 60,3% trên các ca OSA. Kết quả đa ký hô hấp ghi nhận AHI trung bình là 19 lần /giờ; SpO2 thấp nhất là 79,1%; ODI là 19,2 lần /giờ. Phân bố mức độ OSA: nhẹ 35,9%, trung bình 15,4%, nặng 48,7%. Kết luận:OSA ở trẻ em trong nghiên cứu của chúng tôi có triệu chứng lâm sàng thường gặp là ngáy và có cơn ngưng thở khi ngủ được ghi nhận. Đa ký hô hấp cho thấy tỷ lệ đáng kể trường hợp OSA ở mức độ trung bình–nặng, nhấn mạnh nhu cầu sàng lọc sớm và điều trị kịp thời các trường hợp OSA ở trẻ.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18871NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THÔNG SỐ NHIỄM MỠ GAN VÀ XƠ HÓA GAN TRÊN FIBROSCAN Ở BỆNH NHÂN GAN NHIỄM MỠ LIÊN QUAN ĐẾN RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA2026-09-14T03:17:58+07:00Nguyễn Minh Hảinmhaidr@gmail.comLưu Quang Huytapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Quốc Dũngtapchiyhocvietnam@gmail.comTrần Thị Thùy Linhtapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Thị Diệu Hươngtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Xác định mức độ nhiễm mỡ gan, xơ hóa gan trên siêu âm 2D và Fibroscan ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 117 bệnh nhân được chẩn đoán gan nhiễm mỡ trên siêu âm tại Bệnh viện Quân y 354 từ tháng 6/2025 đến tháng 6/2026, được làm siêu âm Fibroscan. Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 26.0. Kết quả: Trên siêu âm 2D, gan nhiễm mỡ độ II chiếm tỷ lệ cao nhất, 66,7%, độ I chiếm 29,1% và độ III chiếm 4,3%. Giá trị CAP trung bình là 290,71± 41,62 dB/m, tỷ lệ gan nhiễm mỡ S3 cao nhất chiếm 47%; Chỉ số LSM trung bình là 6,01 ± 2,23 kPa, đa số bệnh nhân có mức độ xơ hóa gan F0, F1, tương ứng 54,7% và 22,2%. Có mối liên quan giữa chỉ số CAP và LSM với số lượng các yếu tố rối loạn chuyển hóa, p < 0,05. Kết luận: Biểu hiện nhiễm mỡ gan trên siêu âm Fibroscan ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa là chủ yếu, tuy nhiên, xơ hóa gan lại không thường gặp.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18872ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM MÔ BỆNH HỌC CỦA U NHÚ TẾ BÀO VẢY KẾT MẠC TẠI BỆNH VIỆN MẮT TRUNG ƯƠNG2026-09-14T04:17:08+07:00Nguyễn Thị Phương Thảonguyenthiphuongthao@hmu.edu.vnTrần Khánh Sâmtapchiyhocvietnam@gmail.comTrần Thị Thanh Hươngtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, một số đặc điểm mô bệnh học và đánh giá một số yếu tố liên quan đến khả năng phẫu thuật từ hai lần trở lên ở bệnh nhân u nhú tế bào vảy kết mạc tại Bệnh viện Mắt Trung ương. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 198 bệnh nhân u nhú tế bào vảy kết mạc được chẩn đoán xác định bằng giải phẫu bệnh. Kết quả: Tuổi trung bình là 29,3 ± 16,5, nam chiếm 73,7%, nhóm 19–40 tuổi chiếm 55,6%. Tổn thương chủ yếu ở một mắt (95,5%), trong khi hai mắt hiếm gặp (4,5%). Tỷ lệ có một khối u là 60,6%, trong khi 39,4% có từ hai khối trở lên. Loạn sản biểu mô gặp ở 5,1%, đều ở mức độ nhẹ đến vừa. Có 87,9% bệnh nhân phẫu thuật một lần và 12,1% phẫu thuật từ hai lần trở lên. Nhóm đa u có tỷ lệ phẫu thuật lại cao hơn (20,5% so với 6,7%). Không ghi nhận mối liên quan giữa tuổi, giới và khả năng phẫu thuật từ hai lần trở lên. Kết luận: U nhú tế bào vảy kết mạc chủ yếu gặp ở người trẻ và nam giới, đa số là lành tính; các trường hợp đa u và có loạn sản cần được theo dõi chặt chẽ do khả năng tái phát và phải phẫu thuật nhiều lần.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18873ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VIÊM XOANG BƯỚM MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA VINH2026-09-14T05:01:34+07:00Nguyễn Trọng Tuấntuannguyentrong1288@gmail.comTạ Trâm Anhtapchiyhocvietnam@gmail.comViêm xoang bướm mạn tính là một bệnh rất thường gặp, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và có thể gây các biến chứng nặng nề. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm xoang bướm mạn tính được phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Trường Đại học Y khoa Vinh năm 2025 - 2026. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 54 bệnh nhân viêm xoang bướm mạn tính được phẫu thuật nội soi. Kết quả: Triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là chảy mũi (96,3%), 92,6% bệnh nhân có triệu chứng đau đầu. Vị trí đau đầu thường gặp là vùng đỉnh (27,8%), vùng chẩm (22,2%). Chủ yếu gặp đau âm ỉ liên tục 79,6%. Đa phần bệnh nhân có tình trạng chảy mũi sau (70,4%). Triệu chứng thực thể: tình trạng phù nề, polyp ngách bướm sàng 61,1%, có 68,5% có dịch mủ ở ngách bướm sàng. Trên phim CT scan: 57,4% viêm xoang bướm 1 bên, 52,8% có hình ảnh mờ toàn bộ xoang bướm. Đa số khối mờ xoang bướm có tỉ trọng đồng nhất (79,2%).Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18874TỶ LỆ HẠ MAGIE MÁU Ở TRẺ NON THÁNG VÀ BỆNH LÝ TẠI KHOA HỒI SỨC SƠ SINH BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 12026-09-14T05:10:03+07:00Vũ Minh Châuminhchau5794@gmail.comNguyễn Xuân Kimtapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Thị Thanh Tâmtapchiyhocvietnam@gmail.comMở đầu: Hạ magie máu là rối loạn điện giải tương đối thường gặp ở bệnh nhân hồi sức, tuy nhiên ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ non tháng và trẻ sơ sinh có bệnh lý nặng, tình trạng này còn ít được quan tâm và theo dõi thường quy. Magie đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thần kinh – cơ và tim mạch, do đó thiếu hụt magie có thể làm nặng thêm diễn tiến bệnh và ảnh hưởng đến kết cục điều trị. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hạ magie máu và khảo sát các yếu tố liên quan ở trẻ sơ sinh non tháng và bệnh lý điều trị tại khoa Hồi sức sơ sinh (HSSS) Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả: Nghiên cứu mô tả được thực hiện trên 95 trẻ sơ sinh nhập khoa Hồi sức sơ sinh từ tháng 03/2025 đến tháng 09/2025. Trong suốt thời gian theo dõi, có 29,5% (28/95) trẻ ghi nhận hạ magie máu ít nhất một lần. Trong đó, tỷ lệ hạ magie máu trong tuần đầu nhập viện là 14,7%, cao hơn ở các tuần tiếp theo với tỷ lệ lần lượt là 21,1% và 24,1%. Phần lớn các trường hợp hạ magie máu ở mức độ nhẹ – trung bình, không có biểu hiện lâm sàng đặc hiệu. Tỷ lệ hạ magie máu cao nhất ở nhóm bệnh lý phẫu thuật đường tiêu hóa (56,4%). Các rối loạn điện giải đi kèm thường gặp gồm hạ natri máu (50%), hạ kali máu (39,3%) và hạ canxi máu (32,1%). Trong phân tích đa biến, hạ kali máu (OR=4,383; KTC 95%: 1,019 – 18,844), sử dụng kháng sinh nhóm Aminoglycosid (OR=0,117; KTC 95%: 0,026 – 0,524) là các yếu tố liên quan độc lập với tình trạng hạ magie máu trong tuần đầu nằm viện. Kết luận: Hạ magie máu là tình trạng không hiếm gặp ở trẻ sơ sinh điều trị tại khoa Hồi sức sơ sinh với gần một phần ba trẻ có ít nhất một lần hạ magie máu trong ba tuần nằm viện. Trẻ hạ kali máu có nguy cơ hạ magie máu cao hơn và cần chủ động theo dõi magie máu nhằm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và chăm sóc trẻ sơ sinh bệnh lý.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18875KHẢO SÁT HỘI CHỨNG ĐỘNG KINH Ở TRẺ NHŨ NHI THEO PHÂN LOẠI CỦA LIÊN ĐOÀN CHỐNG ĐỘNG KINH QUỐC TẾ NĂM 2022 TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 22026-09-14T05:17:28+07:00Ngô Thị Thu Hiềnntth.ngothuhien96@gmail.comLê Thị Khánh Vântapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Hải Uyêntapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Động kinh khởi phát ở trẻ nhũ nhi là bệnh lý thần kinh nặng, biểu hiện đa dạng và ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển. Phân loại hội chứng động kinh (HCĐK) theo Liên Đoàn Chống Động Kinh Quốc tế (ILAE) 2022 dành cho trẻ dưới 2 tuổi cung cấp khung chẩn đoán mới, song việc áp dụng trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam còn hạn chế. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá khả năng phân loại HCĐK theo ILAE 2022 ở trẻ nhũ nhi. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 106 trẻ từ 1–24 tháng tuổi được chẩn đoán động kinh và điều trị tại khoa Thần kinh, Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2025 đến 30/06/2025. Các trường hợp không thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán ban đầu theo ILAE 2022 được theo dõi và phân loại lại sau 4 tháng. Kết quả: Tuổi khởi phát trung vị là 5,5 tháng, 70% khởi phát trước 12 tháng tuổi. Cơn động kinh khởi phát cục bộ thường gặp nhất chiếm 40,6%. Bất thường điện não đồ chiếm tỷ lệ cao 80,2 %. Xác định được căn nguyên động kinh trong 28,3% trường hợp. Phân loại HCĐK theo ILAE 2022 xác định được hội chứng ở 14,1% trường hợp tại thời điểm ban đầu và tăng lên 43,4% sau theo dõi 4 tháng, trong đó bệnh não động kinh và phát triển (DEE – Developmental Epileptic Encephalopathies) chiếm tỷ lệ cao hơn nhóm HCĐK tự giới hạn. Kết luận: Động kinh khởi phát ở trẻ nhũ nhi có đặc điểm lâm sàng và căn nguyên đa dạng. Phân loại HCĐK theo ILAE 2022 có giá trị trong chuẩn hóa chẩn đoán, tuy nhiên cần theo dõi và đánh giá lại theo thời gian để nâng cao khả năng phân loại trong thực hành lâm sàng.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18876KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT U TẾ BÀO THẦN KINH ĐỆM BẬC THẤP DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA SIÊU ÂM TRONG MỔ2026-09-14T07:27:12+07:00Dương Trung Kiênduongtkien@gmail.comNguyễn Mạnh Hùngtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Việt Đứctapchiyhocvietnam@gmail.comVũ Ngọc Anhtapchiyhocvietnam@gmail.comĐinh Trung Thànhtapchiyhocvietnam@gmail.comMục đích: Đánh giá kết quả bước đầu của phẫu thuật u tế bào thần kinh đệm bậc thấp dưới hướng dẫn của siêu âm trong mổ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, kết hợp tiến cứu và hồi cứu trên 5 bệnh nhân được chẩn đoán u thần kinh đệm bậc thấp, được phẫu thuật lấy u dưới hướng dẫn của siêu âm trong mổ tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn từ tháng 01/2021 đến tháng 03/2026. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm đặc điểm lâm sàng, hình ảnh siêu âm trong mổ, mức độ lấy u và kết quả sau mổ. Kết quả: Tuổi trung bình 36,4 ± 2,3, tỷ lệ nam/nữ là 3/2. Triệu chứng thường gặp nhất là đau đầu (100%). U chủ yếu ở thùy trán (60%). Siêu âm trong mổ xác định được khối u trong 100% trường hợp, với hình ảnh tăng âm chiếm ưu thế (80%). Tỷ lệ lấy u tối đa đạt 100%, trong đó lấy toàn bộ 20% và gần toàn bộ 80%, phù hợp hoàn toàn với kết quả MRI sau mổ. Giải phẫu bệnh gồm u sao bào độ 2 (60%) và u tế bào thần kinh đệm ít nhánh độ 2 (40%). Sau mổ, 100% bệnh nhân cải thiện hoặc không thay đổi về lâm sàng, không ghi nhận biến chứng. Chỉ số Karnofsky cải thiện từ 84 ± 5,5 lên 92 ± 4,5 nhưng không khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Siêu âm trong mổ là phương tiện hỗ trợ hiệu quả trong phẫu thuật u tế bào thần kinh đệm bậc thấp, giúp định vị chính xác khối u, tối ưu hóa mức độ lấy u và cải thiện kết quả lâm sàng sau mổ.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18877ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHI TỔN THƯƠNG THẬN CẤP NHẬP KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC, BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 12026-09-14T07:38:01+07:00Nguyễn Minh Hùngtapchiyhocvietnam@gmail.comNgô Ngọc Quang Minhtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Mạnh Cungtapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Văn Quangphamvanquang73@yahoo.com.vnĐặt vấn đề: Trên thế giới, nghiên cứu đa trung tâm AWARE đã ghi nhận tỷ lệ tổn thương thận cấp tại các đơn vị hồi sức nhi lên tới 26,9%. Tại Việt Nam, các dữ liệu cập nhật về mô hình bệnh tật này còn hạn chế. Trong bối cảnh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 hiện nay, việc áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chẩn đoán KDIGO, cùng những tiến bộ trong kỹ thuật hồi sức chuyên sâu như lọc máu liên tục có thể đã làm thay đổi kết quả điều trị theo thời gian. Mục tiêu: Xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị ở bệnh nhi tổn thương thận cấp nhập khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp: Mô tả cắt ngang từ 01/01/2023 đến 31/07/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả: Có 132 trường hợp tổn thương thận cấp ở trẻ em trong thời gian nghiên cứu. Tuổi có trung vị 49 tháng (10 – 120 tháng). Triệu chứng lâm sàng chính là suy hô hấp (73,5%), rối loạn tri giác (66,7%), sốc (39,4%) và phù (8,3%). Bất thường cận lâm sàng chính là tăng lactate máu (40,2%), tăng kali máu (31,1%), toan chuyển hóa (29,5%) và hạ natri máu (25%). Phân độ tổn thương thận cấp giai đoạn 3 chiếm 39,4%. Nguyên nhân liên quan thường gặp nhất là nhiễm trùng huyết (33,3%) và viêm phổi (31,1%); trong bối cảnh tổn thương đa cơ quan chiếm tỷ lệ cao (74,2%). Các điều trị chính bao gồm kháng sinh (92,4%), thở máy (81,8%), vận mạch (77,3%) và lọc máu liên tục (34,8%). Các kết quả điều trị chính bao gồm tỷ lệ tử vong là 25% và hồi phục chức năng thận là 63,6%. Kết luận: Cần chiến lược quản lý kháng sinh hợp lý, theo dõi nồng độ thuốc điều trị và xem xét chỉ định lọc máu sớm ở nhóm nguy cơ cao để cải thiện tử vong.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18878ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ BIẾN CHỨNG TIM MẠCH Ở TRẺ EM MẮC BỆNH KAWASAKI TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TRƯỚC, TRONG VÀ SAU ĐẠI DỊCH COVID-192026-09-14T07:43:32+07:00Lưu Tuyết Hoatuyethoalhtst@gmail.comLê Nguyễn Thanh Nhàntapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Thị Hải Yếntapchiyhocvietnam@gmail.comBùi Thị Bích Ngọctapchiyhocvietnam@gmail.comĐỗ Nguyên Tíntapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu. Xác định và so sánh tỉ lệ, giá trị trung bình của các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị lúc nhập viện của bệnh nhân Kawasaki (KD) và tỷ lệ tổn thương động mạch vành (ĐMV), tại các thời điểm lúc nhập viện, 2 – 8 tuần và 6 – 12 tháng sau khởi phát bệnh ở 3 giai đoạn trước dịch COVID-19, trong dịch COVID-19 và giai đoạn “bình thường mới” và bệnh lưu hành. Phương pháp nghiên cứu. Hồi cứu mô tả loạt ca, với 412 bệnh nhân từ 0 - 16 tuổi được chẩn đoán và điều trị bệnh KD hoặc Hội chứng viêm đa hệ thống ở trẻ em (MIS-C) thể KD và nhập viện tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 01/2019 đến 12/2023. Kết quả. Trong 412 ca (90 ca trước dịch; 122 ca trong dịch; 200 ca giai đoạn “bình thường mới”). Tuổi trung vị tăng từ 17,5 tháng trước dịch lên 23,5 tháng sau dịch; tỷ lệ trẻ ≥ 60 tháng tăng từ 7,8% lên 20,5% (p=0,002). Tỷ lệ bệnh nhân nam và bệnh nhân KD thể không đầy đủ khác biệt giữa các giai đoạn không có ý nghĩa thống kê. Các kết quả xét nghiệm ghi nhận sự thay đổi về hạ natri 82,6% (so với ~50% trước đó, p < 0,001), giảm tiểu cầu 11,3% (p = 0,03). Về điều trị, corticoid, đặc biệt methylprednisolone, được dùng trong điều trị ban đầu tăng sau dịch (từ 0% lên 31,7%, p < 0,001). Tổn thương ĐMV lúc nhập viện tăng qua 3 giai đoạn, tuy nhiên khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Kết luận. Sau COVID-19 tuổi khởi phát cao hơn, tỷ lệ trẻ ≥5 tuổi cao hơn. Tỷ lệ khác biệt nam:nữ giảm đi và KD thể không đầy đủ tăng lên ở giai đoạn “bình thường mới”.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18879TỬ VONG NỘI VIỆN Ở TRẺ SƠ SINH RẤT NON TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN: MỘT NGHIÊN CỨU THEO DÕI DỌC2026-09-14T07:49:25+07:00Đặng Quốc Bửutapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Thị Thanh Tâmtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Đức Toàntoanped@gmail.comMục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan tử vong nội viện ở trẻ sinh non rất non (<32 tuần tuổi thai) điều trị tại khoa Hồi sức Sơ sinh, Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp: Nghiên cứu theo dõi dọc (08/2024–10/2025) trên 124 trẻ sinh non <32 tuần. Tử vong nội viện là biến cố nghiên cứu. Các yếu tố liên quan được phân tích bằng hồi quy logistic đa biến, trình bày odds ratio (OR) và khoảng tin cậy 95%. Kết quả: Tỷ lệ tử vong là 20,2% (25/124). Hồi quy logistic đa biến cho thấy ba yếu tố liên quan độc lập với tử vong gồm: tuổi thai <28 tuần (OR=6,58; KTC95% 1,84–23,50; p=0,004), cần HFOV xâm nhập (OR=22,69; KTC95% 5,71–90,12; p<0,001) và nhiễm trùng huyết (NTH) cấy máu dương tính (OR=5,04; KTC95% 1,07–23,69; p=0,040). Kết luận: Tuổi thai cực non, HFOV xâm nhập và NTH là những yếu tố liên quan đến tử vong nội viện ở trẻ sơ sinh non tháng <32 tuần. Các yếu tố này có thể hỗ trợ phân tầng nguy cơ sớm để ưu tiên theo dõi và các biện pháp can thiệp nhằm giảm tử vong.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18880NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN THUỐC GIẢM ĐAU HỢP LÝ TRÊN BỆNH NHÂN CƠ - XƯƠNG - KHỚP NGOẠI TRÚ NĂM 20252026-09-14T07:58:24+07:00Trần Yên Hảotyhao@ctump.edu.vnNguyễn Thị Kim Chitapchiyhocvietnam@gmail.comVũ Thanh Lịchtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Bệnh cơ – xương – khớp (CXK) thường gây đau kéo dài, suy giảm chức năng vận động và cần sử dụng thuốc giảm đau hợp lý để tối ưu hiệu quả, hạn chế tác dụng bất lợi. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ kê đơn thuốc giảm đau hợp lý trên bệnh nhân CXK ngoại trú và phân tích một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 300 đơn thuốc tại phòng khám CXK, Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ, từ tháng 03 đến tháng 07/2025. Kết quả: Bệnh nhân ≥65 tuổi chiếm 77,3% và nữ giới chiếm 56,0%. Các chẩn đoán thường gặp gồm thoái hóa cột sống (56,0%), co cứng cơ (40,7%) và thoái hóa khớp (35,7%). Đa số đơn thuốc có phối hợp từ hai thuốc giảm đau trở lên (89,7%). Tỷ lệ hợp lý chung đạt 43,3%. Theo từng tiêu chí, tỷ lệ hợp lý về lựa chọn thuốc, liều dùng, thời điểm dùng, thời gian điều trị, tính đầy đủ điều trị và tương tác thuốc lần lượt là 91,3%; 100%; 57,7%; 99,7%; 73,3% và 99,0%. Các điểm chưa phù hợp chủ yếu liên quan đến thời điểm dùng thuốc và chưa dự phòng tiêu hóa đầy đủ. Bệnh nhân 18-65 tuổi có khả năng được kê đơn hợp lý cao hơn nhóm ≥75 tuổi (OR=3,84; KTC 95%: 2,03-7,25; p<0,001). Kết luận: Tỷ lệ kê đơn thuốc giảm đau hợp lý chung còn thấp, cần cải thiện hướng dẫn dùng thuốc và dự phòng nguy cơ tiêu hóa.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18881NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP BẢO VỆ NHÁNH BÊN BẰNG BÓNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TRONG CAN THIỆP SANG THƯƠNG CHIA NHÁNH Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG VÀNH CẤP2026-09-14T08:03:59+07:00Lâm Duy Tânlamduytanbvdktn@gmail.comTrần Viết Antapchiyhocvietnam@gmail.comBùi Thế Dũngtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Tổn thương chia nhánh động mạch vành trong hội chứng vành cấp có nguy cơ cao tắc nhánh bên sau đặt stent nhánh chính. Kỹ thuật giam bóng là một chiến lược bảo vệ nhánh bên đơn giản, tuy nhiên bằng chứng thực tiễn còn hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật bảo vệ nhánh bên bằng bóng và xác định các yếu tố liên quan đến tắc nhánh bên sau can thiệp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu có can thiệp, không đối chứng, thực hiện trên 31 bệnh nhân hội chứng vành cấp có tổn thương chia nhánh thực thụ được can thiệp mạch vành qua da áp dụng kỹ thuật giam bóng tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh từ tháng 05/2025 đến tháng 06/2026. Kết quả: Tỷ lệ tắc nhánh bên sau đặt stent nhánh chính là 22,6%. Sau can thiệp, 96,77% trường hợp đạt hẹp tồn lưu <30% nhánh chính; không có trường hợp cần đặt stent nhánh bên. Biến chứng thủ thuật thấp (bóc tách nhánh bên 3,22%). Suy tim cấp nội viện xảy ra nhiều hơn ở nhóm tắc nhánh bên (p<0,05). Phân tích đa biến cho thấy chiều dài tổn thương nhánh bên là yếu tố độc lập liên quan đến tắc nhánh bên (OR=0,8; 0,65–0,98; p=0,03). Kết luận: Kỹ thuật bảo vệ nhánh bên bằng bóng trong can thiệp tổn thương chia nhánh ở bệnh nhân hội chứng vành cấp có tỷ lệ thành công kỹ thuật cao và biến chứng thấp. Chiều dài tổn thương nhánh bên là yếu tố dự báo độc lập tắc nhánh bên sau can thiệp.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18882ĐẶC ĐIỂM HUYẾT KHỐI LIÊN QUAN ĐẾN CATHETER TĨNH MẠCH TRUNG TÂM Ở TRẺ EM TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC2026-09-14T08:08:10+07:00Bùi Thị Mai Hươngtapchiyhocvietnam@gmail.comNgô Ngọc Quang Minhtapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Văn Quangphamvanquang73@yahoo.com.vnĐặt vấn đề: Huyết khối tĩnh mạch ở trẻ em thường liên quan đến catheter tĩnh mạch trung tâm (CVC). Việc hiểu rõ các đặc điểm và yếu tố liên quan là cần thiết để tối ưu hóa công tác dự phòng và điều trị biến chứng này tại các đơn vị hồi sức. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ huyết khối và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân đặt CVC tại khoa Hồi sức Tích cực – Chống độc Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả – phân tích theo dõi dọc từ ngày 01/01/2025 đến ngày 31/07/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả: Có 90 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian nghiên cứu, với 115 CVC được đặt. Tỷ lệ huyết khối liên quan đến CVC (CRT) ghi nhận được là 24,3% (28/115), trong đó huyết khối tĩnh mạch sâu chiếm 10,4%. Phân tích hồi quy Cox đa biến xác định hai yếu tố liên quan độc lập đến sự hình thành CRT là tuổi và vị trí đặt catheter. Tuổi nhỏ làm tăng nguy cơ huyết khối (HR = 0,98; KTC 95%: 0,97 – 0,99; p = 0,002). So với vị trí tĩnh mạch đùi, đặt CVC tại tĩnh mạch cảnh trong (HR = 0,09; KTC 95%: 0,04 – 0,24; p < 0,001) và tĩnh mạch dưới đòn (HR = 0,03; KTC 95%: 0,01 – 0,28; p = 0,002) giúp giảm đáng kể nguy cơ hình thành huyết khối. Kết luận: Nghiên cứu giúp nâng cao nhận thức về CRT, đồng thời xác định tuổi nhỏ và vị trí đặt tại tĩnh mạch đùi là hai yếu tố liên quan đến việc gia tăng nguy cơ hình thành huyết khối. Việc tầm soát chủ động bằng siêu âm Doppler là cần thiết để phát hiện sớm và xử trí kịp thời biến chứng này, đặc biệt trên các nhóm đối tượng rủi ro.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18883ĐẶC ĐIỂM THIẾU MÁU HỒNG CẦU NHỎ NHƯỢC SẮC Ở BỆNH NHI DƯỚI 5 TUỔI TẠI KHOA SỐT XUẤT HUYẾT - HUYẾT HỌC BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 12026-09-14T08:14:23+07:00Tô Minh Thiminhthi2751999@gmail.comTrần Cao Dungtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Minh Tuấntapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc là dạng thiếu máu thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi. Trong đó thiếu máu thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến nhất, tuy nhiên Thalassemia và thiếu máu do viêm mạn hoặc bệnh mạn tính cũng cần được chẩn đoán phân biệt. Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, dữ liệu về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của nhóm bệnh này còn hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc ở trẻ từ 6 tháng đến dưới 5 tuổi nhập viện, đồng thời xác định tỷ lệ các nguyên nhân và mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của các nhóm nguyên nhân trong quần thể nghiên cứu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 170 trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi nhập viện tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 12/2025 đến tháng 03/2026. Kết quả: 170 trẻ được khảo sát ghi nhận có 75 trường hợp thiếu máu, chiếm 33,3%. Trong số các trường hợp thiếu máu, 48 trường hợp thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc, chiếm 64%. Thiếu máu thiếu sắt là nguyên nhân thường gặp nhất (62,5%), tiếp theo là Thalassemia (12,5%), thiếu máu do bệnh mạn tính (10,4%) và các trường hợp khác (14,6%). Hơn một nửa trường hợp có thiếu máu mức độ nặng (54,2%). Xanh xao là dấu hiệu lâm sàng thường gặp nhất. Gan to và lách to gặp nhiều hơn ở các nhóm nguyên nhân không phải thiếu máu thiếu sắt (p<0,05). Vai trò của mẹ là người chăm sóc chính có sự khác biệt giữa các nhóm nguyên nhân (p = 0,014). Các chỉ số Hb, MCV, MCH, MCHC, RDW, ferritin và sắt huyết thanh có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm nguyên nhân. Kết luận: Thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc chiếm tỷ lệ tương đối cao ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi nhập viện, trong đó thiếu máu thiếu sắt là nguyên nhân chủ yếu. Các đặc điểm lâm sàng kết hợp với xét nghiệm huyết học có giá trị trong định hướng và phân biệt nguyên nhân thiếu máu.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18884PHẢN ỨNG CẢM XÚC TĂNG THEO DIỆN TÍCH BỎNG: BẰNG CHỨNG TỪ MỘT NGHIÊN CỨU CẮT NGANG TRÊN 146 BỆNH NHÂN BỎNG NỘI TRÚ2026-09-14T08:19:13+07:00Phạm Thị Mai Phươngphammaiphuong71vbqg@gmail.comNguyễn Tiến Dũngtapchiyhocvietnam@gmail.comHà Thị Hải Yếntapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Huỳnh Anh Thưtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Thành Chungtapchiyhocvietnam@gmail.comHoàng Đức Minhtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Nghiên cứu này nhằm khảo sát mối liên hệ giữa các chỉ số lâm sàng của vết thương bỏng (TBSA, độ sâu bỏng) với phản ứng cảm xúc và các chiến lược điều tiết cảm xúc (dồn nén cảm xúc, tái cấu trúc nhận thức) ở bệnh nhân bỏng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 10/2024 đến tháng 01/2025 trên 146 bệnh nhân bỏng nội trú (từ 18 đến 80 tuổi) tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác. Phân tích tương quan Pearson và ANOVA một chiều được sử dụng để xác định mối liên hệ giữa các biến với phản ứng cảm xúc. Kết quả: Phản ứng cảm xúc có tương quan thuận với TBSA (r = 0,31, p = 0,001), trong khi độ sâu bỏng không cho thấy ảnh hưởng đáng kể đến phản ứng cảm xúc (F(2, 143) = 0,849, p = 0,43). Dồn nén cảm xúc (r = 0,293, p = 0,002) và tái cấu trúc nhận thức (r = 0,314, p = 0,001) trong điều tiết cảm xúc (r = 0,34, p = 0,001) đều cho thấy tương quan thuận với phản ứng cảm xúc. Kết luận: Trong các yếu tố lâm sàng được khảo sát, diện tích bỏng (TBSA) cho thấy mối liên hệ đáng kể với phản ứng cảm xúc, trong khi độ sâu bỏng không có ảnh hưởng ý nghĩa thống kê. Các chiến lược điều tiết cảm xúc cũng cho thấy mối liên hệ mật thiết đến mức độ phản ứng cảm xúc. Cần ưu tiên đánh giá và can thiệp tâm lý sớm cho bệnh nhân có vùng bỏng lớn và tích hợp các biện pháp hỗ trợ tâm lý tập trung vào cơ chế điều tiết cảm xúc lành mạnh vào quy trình chăm sóc bỏng để giúp bệnh nhân kiểm soát phản ứng cảm xúc hiệu quả hơn, thay vì dồn nén cảm xúc.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18885ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHỨC NĂNG - THẨM MỸ SAU PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG MŨI - SÀNG - Ổ MẮT TYPE I-II THEO MARKOWITZ - MANSON2026-09-14T08:26:20+07:00Nguyễn Thị Kiều Thơdrkieutho@ump.edu.vnĐỗ Hồng Ântapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Đình Chươngtapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Đình Nguyêntapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Đánh giá kết quả chức năng – thẩm mỹ sau phẫu thuật chấn thương mũi – sàng – ổ mắt (NOE) type I–II theo Markowitz–Manson sau 3 tháng theo dõi. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả có theo dõi dọc sau phẫu thuật trên 38 bệnh nhân chấn thương NOE type I–II được phẫu thuật tại hai cơ sở lâm sàng từ tháng 6/2024 đến tháng 5/2025. Kết cục chính gồm điểm NOSE thô 0–20, VAS đau, khoảng cách hai khoé mắt trong (ICD), khứu giác, vận động nhãn cầu, thẩm mỹ và biến chứng. So sánh trước – sau bằng phép kiểm Wilcoxon signed-rank. Kết quả: Trên chụp cắt lớp vi tính (CLVT), type I chiếm 18,4% và type II chiếm 81,6%; không ghi nhận type III. Điểm NOSE trung bình giảm từ 15,50 ± 1,18 trước mổ xuống 1,55 ± 0,56 sau 3 tháng (p < 0,001). VAS đau giảm từ 7,92 ± 0,63 xuống 0,66 ± 0,63 (p < 0,001). Tại 3 tháng, 100% bệnh nhân có ICD <35 mm và vận động nhãn cầu bình thường; cân đối khuôn mặt, xương chính mũi cân đối khi nhìn ngoài và phức hợp lỗ thông xoang thông thoáng trên nội soi đều đạt 94,7%. Không ghi nhận mất thị lực, tổn thương dây thần kinh VII hay đào thải nẹp vít. Kết luận: Ở nhóm chấn thương NOE type I–II, phẫu thuật cá thể hoá theo tổn thương cho thấy xu hướng cải thiện chức năng mũi, đau và ICD sau 3 tháng, với kết quả thẩm mỹ thuận lợi và tỉ lệ biến chứng thấp. Cần diễn giải kết quả trong giới hạn cỡ mẫu nhỏ, không có nhóm chứng và không có type III.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18886HIỆU QUẢ VÀ TÍNH AN TOÀN CỦA BOTULINUM TOXIN TYPE A TRONG ĐIỀU TRỊ NẾP NHĂN VÙNG GIAN MÀY2026-09-14T08:35:15+07:00Lê Tấn Hùngbsletanhung@gmail.comLê Minh Phongtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của botulinum toxin type A trong điều trị nếp nhăn vùng gian mày. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu can thiệp trước-sau trên 52 người bệnh có nếp nhăn gian mày mức độ vừa hoặc nặng khi cau mày tối đa tại Khoa Quốc tế, Bệnh viện Quân y 175, từ tháng 01/2024 đến tháng 6/2025. Hiệu quả được đánh giá bằng FWS, GAIS, thời gian khởi phát và hài lòng; an toàn được theo dõi đến ngày 30. Kết quả: Tuổi trung bình là 40,8 ± 8,9; nữ chiếm 88,5%. Liều trung bình là 20,9 ± 1,8 U; trung vị thời gian bắt đầu có hiệu quả là 3 ngày. Điểm FWS khi cau mày tối đa giảm từ 2,40 ± 0,50 trước tiêm xuống 0,94 ± 0,57 tại ngày 14 và 0,75 ± 0,52 tại ngày 30; FWS khi nghỉ giảm từ 1,52 ± 0,75 xuống 0,58 ± 0,64 và 0,46 ± 0,58 (đều p < 0,001). Tại ngày 30, 96,2% hài lòng hoặc rất hài lòng; 11,5% có tác dụng không mong muốn, đều nhẹ và không có biến cố nghiêm trọng. Kết luận: Botulinum toxin type A cải thiện rõ nếp nhăn gian mày sau 14-30 ngày, khởi phát sớm, tỷ lệ hài lòng cao và các tác dụng không mong muốn chủ yếu nhẹ, tự giới hạn.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18887ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 354 NĂM 20232026-09-14T08:39:07+07:00Bùi Thị Kim QuếKimbui1216@gmail.comMục tiêu: Đánh giá thực trạng nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) và phân tích một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Quân y 354 năm 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 270 người bệnh phẫu thuật tại Bệnh viện Quân y 354 từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2023. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án. Chẩn đoán NKVM dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0, sử dụng các phương pháp thống kê mô tả và phân tích mối liên quan. Kết quả: Tỷ lệ NKVM chung là 2,59% (7/270 trường hợp), trong đó NKVM nông chiếm 2,22% và NKVM sâu chiếm 0,37%; không ghi nhận trường hợp nhiễm khuẩn cơ quan hoặc khoang cơ thể. Tỷ lệ NKVM ở các loại phẫu thuật sạch, sạch nhiễm, nhiễm và bẩn lần lượt là 2,0%; 1,3%; 4,4% và 13,3%. Ghi nhận mối liên quan người bệnh có ASA ≥ III có nguy cơ NKVM cao hơn ASA < III (OR = 7,11; KTC95%: 1,30- 38,90; p = 0,014). Chưa ghi nhận mối liên quan giữa NKVM với tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI), bệnh phối hợp, tính chất phẫu thuật và thời gian phẫu thuật (p > 0,05). Kết luận: Tỷ lệ NKVM tại Bệnh viện Quân y 354 năm 2023 ở mức thấp (2,59%). Điểm ASA ≥ III là yếu tố liên quan đến nguy cơ NKVM. Cần tăng cường giám sát, đánh giá nguy cơ trước phẫu thuật và triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa nhằm giảm tỷ lệ NKVM.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18888KẾT QUẢ PHẪU THUẬT U NÃO THỨ PHÁT DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA SIÊU ÂM TRONG MỔ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN2026-09-14T08:42:25+07:00Dương Trung Kiênduongtkien@gmail.comNguyễn Mạnh Hùngtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Việt Đứctapchiyhocvietnam@gmail.comVũ Ngọc Anhtapchiyhocvietnam@gmail.comĐinh Trung Thànhtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật u não thứ phát dưới hướng dẫn siêu âm trong mổ (SATM) tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả chuỗi ca bệnh gồm 21 bệnh nhân được phẫu thuật u não thứ phát, sử dụng SATM. Các biến số được thu thập gồm đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, hình ảnh học, mức độ lấy u, điểm Karnofsky trước và sau mổ, biến chứng và thời gian sống thêm. Kết quả: Tuổi trung bình là 61,7 ± 10,5; nam giới chiếm 65,3%; u nguyên phát từ phổi chiếm 66,9%; u đơn ổ chiếm 75%. Tỷ lệ lấy toàn bộ u đạt 68,9%; điểm KPS tăng từ 68,6 lên 76,4 sau mổ; triệu chứng lâm sàng cải thiện có ý nghĩa thống kê; nhóm phối hợp hóa xạ trị có thời gian sống thêm tốt hơn so với nhóm chỉ phẫu thuật đơn thuần. Kết luận: SATM là phương tiện hỗ trợ hữu ích trong phẫu thuật u não thứ phát vì cho phép cập nhật hình ảnh theo thời gian thực, hỗ trợ phát hiện u tồn dư, bù trừ hạn chế của neuronavigation do brain shift và có tính khả thi cao trong điều kiện thực hành tại Việt Nam.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18889RỐI LOẠN CẢM GIÁC THẦN KINH LƯỠI DO NGƯỜI BỆNH TỰ BÁO CÁO SAU PHẪU THUẬT CHẺ DỌC CÀNH LÊN HAI BÊN XƯƠNG HÀM DƯỚI2026-09-14T08:48:37+07:00Lê Tấn Hùngbsletanhung@gmail.comTrần Ái Khiêmtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Mỹ Huyềntapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Hoàng Khangtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Mô tả tỷ lệ, biểu hiện, thời gian hồi phục và ảnh hưởng chức năng của rối loạn cảm giác thần kinh lưỡi do người bệnh tự báo cáo sau phẫu thuật chẻ dọc cành lên hai bên xương hàm dưới (BSSO), đồng thời khảo sát một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 46 người bệnh sai hình xương hạng III được phẫu thuật BSSO lùi xương hàm dưới đơn thuần. Rối loạn cảm giác vùng phân bố thần kinh lưỡi được khảo sát bằng bảng câu hỏi, bao gồm biểu hiện, thời gian tồn tại và ảnh hưởng đến hoạt động chức năng. Kết quả: Có 9/46 người bệnh (19,6%) tự báo cáo rối loạn cảm giác thần kinh lưỡi. Tê bì là biểu hiện thường gặp nhất (88,9%). Có 8/9 trường hợp (88,9%) hồi phục trong vòng 6 tháng và 8/9 trường hợp ghi nhận ảnh hưởng chức năng; chức năng vị giác bị ảnh hưởng nhiều nhất (87,5%). Chưa ghi nhận khác biệt có ý nghĩa thống kê theo tuổi, giới, nhổ răng khôn hàm dưới đồng thời hoặc đường chẻ xương không thuận lợi (p > 0,05). Kết luận: Rối loạn cảm giác thần kinh lưỡi do người bệnh tự báo cáo sau BSSO gặp ở khoảng một phần năm trường hợp và phần lớn hồi phục trong 6 tháng. Khi xuất hiện, rối loạn có thể ảnh hưởng đến vị giác và các hoạt động chức năng hằng ngày.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18890ĐÁNH GIÁ ỔN ĐỊNH XƯƠNG HÀM DƯỚI VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG SAU PHẪU THUẬT CHẺ DỌC CÀNH CAO XƯƠNG HÀM DƯỚI HAI BÊN KẾT HỢP GIẢM GÓC HÀM Ở BỆNH NHÂN SAI HÌNH XƯƠNG HẠNG III2026-09-14T08:56:01+07:00Lê Tấn Hùngbsletanhung@gmail.comTrần Ái Khiêmtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Mỹ Huyềntapchiyhocvietnam@gmail.comLê Đức Lánhtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Đánh giá sự ổn định xương hàm dưới, thay đổi khe khớp thái dương hàm và phục hồi chức năng khớp cắn sau phẫu thuật chẻ dọc cành cao hai bên (BSSO) kết hợp giảm góc hàm ở bệnh nhân sai hình xương hạng III. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc trên 40 người bệnh sai hình xương hạng III do quá phát xương hàm dưới, được phẫu thuật BSSO kết hợp giảm góc hàm tại Bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh (01/2021–01/2023). Đánh giá tại T0 (trước mổ), T1a (1 tuần), T1b (1 tháng), T2 (1 năm) và T3 (3 năm). Kết quả: Tái phát xương từ T1a đến T3 nhỏ (điểm B: +1,1 mm, Pogonion: +1,3 mm). Khe khớp thái dương hàm trên mặt phẳng đứng dọc thay đổi sau mổ và trở về gần giá trị ban đầu sau 3 năm. Chênh lệch lực cắn trái-phải giảm từ 28,5% xuống 2,5%; số răng tiếp xúc tăng từ 2 lên 18 (p < 0,001). Tổng điểm OQLQ giảm từ 65,0 xuống 7,5 sau 3 năm. Kết luận: BSSO kết hợp giảm góc hàm mang lại ổn định xương tốt, phục hồi cân bằng khớp cắn và cải thiện chất lượng sống đáng kể sau 3 năm theo dõi ở bệnh nhân sai hình xương hạng III.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18891ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TẬP HUẤN THANG ĐIỂM GLASGOW ĐỐI VỚI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ2026-09-14T09:01:28+07:00Nguyễn Trần Ngọc Trântapchiyhocvietnam@gmail.comCao Thị Thủy Ngântapchiyhocvietnam@gmail.comHồ Thị Ngọc Ánhtapchiyhocvietnam@gmail.comBành Dương Yến Nhitapchiyhocvietnam@gmail.comLâm Đức Tâmtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Thang điểm Glasgow (Glasgow Coma Scale – GCS) là công cụ quan trọng trong đánh giá rối loạn ý thức. Điều dưỡng là lực lượng trực tiếp thực hiện đánh giá GCS, do đó việc nâng cao kiến thức và thực hành có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm chất lượng chăm sóc và an toàn người bệnh. Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thực hành thang điểm Glasgow của điều dưỡng trước tập huấn và xác định kết quả của chương trình tập huấn tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp giáo dục, bán thực nghiệm, thiết kế một nhóm trước – sau. Nghiên cứu được thực hiện trên 217 điều dưỡng lâm sàng. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền và phân tích bằng phần mềm SPSS với phép kiểm T-test ghép cặp, p < 0,05. Kết quả: Điểm trung bình kiến thức và thực hành thang điểm Glasgow tăng sau tập huấn (9,29 so với 10,49). Điểm lý thuyết tăng từ 6,20 lên 7,09 và điểm thực hành tăng từ 3,06 lên 3,40. Kết luận: Chương trình tập huấn về thang điểm Glasgow có hiệu quả trong việc cải thiện kiến thức và thực hành của điều dưỡng, trong đó mức cải thiện kiến thức cao hơn so với thực hành.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18892ĐẶC ĐIỂM VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BAN ĐẦU TĂNG PHẢN ỨNG VIÊM NẶNG TRONG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 12026-09-14T11:46:13+07:00Ngô Ngọc Quang Minhtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Võ Bạch Thiệntapchiyhocvietnam@gmail.comVõ Thanh Vũtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặng Nguyễn Huy Hoàngtapchiyhocvietnam@gmail.comTrần Minh Vươngtapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Văn Quangphamvanquang73@yahoo.com.vnĐặt vấn đề: Tăng phản ứng viêm nặng là một biến chứng hiếm gặp nhưng có thể đe dọa tính mạng ở bệnh nhân SXHD. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, tổn thương các cơ quan và kết quả điều trị tăng phản ứng viêm nặng ở trẻ em mắc SXHD. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca trên 12 bệnh nhi SXHD có tăng phản ứng viêm nặng điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 09/2025 đến tháng 01/2026. Kết quả: Có 12 trường hợp SXHD có tăng phản ứng viêm nặng được ghi nhận trong thời gian nghiên cứu. Tỉ lệ nam/nữ là 2:1, nhóm trẻ 1 – 13 tuổi chiếm 83,3% và số trẻ thừa cân – béo phì chiếm 83,3%. Không bệnh nhi nào có tiền căn mắc SXHD cũng như chích ngừa vắc xin SXHD trước đó. Tỉ lệ sốc tại thời điểm nhập viện là 33,3%. Trước điều trị tăng phản ứng viêm nặng, 50,0% bệnh nhi có sốc, 100,0% có suy tạng và 25,0% có xuất huyết nặng. Tất cả bệnh nhi đều có sốt ≥ 7 ngày, gan to và suy hô hấp. Cận lâm sàng thường gặp nhất là ferritin tăng ≥ 5.000 µg/L và AST ≥ 1.000 U/L được ghi nhận ở 100% trường hợp; 75% có fibrinogen < 1,5 g/L và 66,7% có giảm ≥ 2/3 dòng tế bào máu. Tất cả bệnh nhi đều được điều trị với Dexamethasone. Các can thiệp điều trị khác gồm thở máy (41,7%), lọc máu liên tục (41,7%) và thay huyết tương (25,0%). Trong quá trình theo dõi từ ngày 0 đến ngày 7, các chỉ số nhiệt độ, mạch, AST, ALT và ferritin giảm có ý nghĩa thống kê theo thời gian (p < 0,05). Tỷ lệ tử vong chung là 33,3%, chủ yếu do xuất huyết não và nhiễm trùng bệnh viện. Kết luận: Tăng phản ứng viêm nặng trong SXHD ở trẻ em đặc trưng bởi sốt kéo dài, tăng ferritin rất cao, tổn thương gan nặng và tỷ lệ tử vong cao. Nhận diện sớm và điều trị điều hòa miễn dịch kịp thời kết hợp hồi sức tích cực có thể cải thiện kết cục lâm sàng.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18893ĐIỀU TRỊ SỐC SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE KÉO DÀI, BIẾN CHỨNG NẶNG TẠI KHOA CẤP CỨU HỒI SỨC BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG THÀNH PHỐ2026-09-14T11:51:13+07:00Nguyễn Minh Tiếntiennd1@yahoo.comNguyễn Hữu Nhântapchiyhocvietnam@gmail.comLê Vũ Phượng Thytapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Đạt Thịnhtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là một bệnh nhiễm trùng cấp tính do siêu vi Dengue gây ra và truyền cho người qua muỗi vằn Aedes aegypti. Cho đến nay vẫn chưa có những hướng dẫn thống nhất của TCYTTG về điều trị sốc sốt xuất huyết có nhiều biến chứng nặng. Mô tả các can thiệp điều trị ở trẻ sốc SXHD kéo dài nhập khoa Cấp cứu - Hồi sức, bệnh viện Nhi Đồng Thành phố trong thời gian từ tháng 01/2025 đến tháng 08/2025 Thiết kế: Mô tả hàng loạt trường hợp Kết quả: 114 trường hợp sốc SXHD kéo dài, sốc (78,1%), sốc nặng (21,9%, biểu hiện lâm sàng nặng với sốc 100%, hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) 22,8%, suy gan 28,1%, xuất huyết tiêu hóa 60,5%, suy đa cơ quan (MODS) 21,1%. Điều trị bao gồm bù dịch tổng lượng trung bình 192,4ml/kg trong thời gian trung bình 38,4 giờ, trong đó lượng cao phân tử trung bình là 151,3 ml/kg, dưới sự hướng dẫn của đo áp lực tĩnh mạch trung ương 69,3%, huyết áp động mạch xâm lấn 100%, hỗ trợ hô hấp thở áp lực dương liên tục CPAP 100%, thở máy không xâm nhập 48,2%, thở máy xâm nhập 23,7%, chọc dẫn lưu dịch màng bụng 26,3% dưới sự hỗ trợ của đo áp lực bàng quang 71,9%; điều trị xuất huyết tiêu hóa, rối loạn đông máu như hồng cầu lắng 73,7% với lượng trung bình là 14,5 ml/kg, huyết tương tươi đông lạnh 57,9% với lượng trung bình 18,3 ml/kg, kết tủa lạnh 54,4% với lượng trung bình 1,4đv/6kg, tiểu cầu đậm đặc 32,5% với lượng trung bình 1,6 đv/10kg. Thời gian điều trị trung bình tại khoa Hồi sức là 9,2 ngày, không có trường hợp tử vong. Kết luận: Cần trang bị cho các bệnh viện tỉnh các phương tiện hồi sức, chuyển giao các kỹ thuật nâng cao như thở máy, lọc máu, đo áp lực bàng quang, huyết áp xâm lấn,.. để cứu sống nhiều hơn nữa các trường hợp sốc SXH-D nặng.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18894MÔ HÌNH QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO TÍCH HỢP ABC-XYZ-VEN ĐỐI VỚI MỘT SỐ VẬT TƯ TIÊU HAO THIẾT YẾU TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 NĂM 20252026-09-14T12:02:46+07:00Phạm Đình Nguyênnguyenpd@nhidong.org.vnDương Phan Trung Tâmtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Quản lý tồn kho hiệu quả bảo đảm vận hành liên tục và an toàn lâm sàng. ABC–XYZ–VEN phân loại vật tư theo giá trị tiêu thụ, biến động nhu cầu và mức độ quan trọng để hỗ trợ quản trị. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả mô hình quản lý tồn kho phân tầng rủi ro tích hợp ABC–XYZ–VEN kết hợp Just-in-Time (JIT) trong cải thiện hiệu suất chuỗi cung ứng và giảm thiếu hụt vật tư y tế tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu phương pháp hỗn hợp gồm phân tích hồi cứu dữ liệu 2019–2024, phân loại ABC–XYZ–VEN, mô phỏng sự kiện rời rạc và thí điểm JIT tại Can thiệp tim mạch trong Quý I/2025. Dữ liệu gồm hơn 1200 danh mục vật tư; 17 phỏng vấn bán cấu trúc xác định điểm nghẽn cung ứng. Kết quả: Tỷ lệ hết hàng giai đoạn 2019–2024 luôn trên 10%, mua sắm khẩn cấp đạt đỉnh 34,7%. DES dự báo JIT giảm 45,8% hết hàng. Thử nghiệm tại Can thiệp tim mạch giảm 72,7% sự cố hết hàng, không còn trì hoãn thủ thuật, mức độ phục vụ tăng từ 88,0% lên 92,5% và số ngày tồn kho giảm từ 58 xuống 33. Kết luận: ABC–XYZ–VEN kết hợp JIT có chọn lọc là giải pháp khả thi để tăng khả năng phục hồi chuỗi cung ứng trong bệnh viện nhi chuyên sâu, giúp giảm thiếu hụt vật tư, hạn chế mua sắm khẩn cấp và duy trì chăm sóc lâm sàng liên tục.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18895GIÁ TRỊ CỦA THANG ĐIỂM SNAP-II VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRONG TIÊN LƯỢNG TỬ VONG Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 12026-09-14T12:45:52+07:00Huỳnh Hoàng Duytapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Thị Thanh Tâmtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Đức Toàntoanped@gmail.comĐặt vấn đề: Tử vong ở trẻ sơ sinh là một vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt tại nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam, bởi chỉ số này phản ánh rõ nét chất lượng chăm sóc y tế và hiệu quả của hệ thống y tế quốc gia. Trên thế giới, thang điểm SNAP-II (Score for Neonatal Acute Physiology II) đã được Richardson phát triển dựa trên nền tảng của thang điểm SNAP trước đó. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Nhi (2021) đã đánh giá giá trị tiên lượng tử vong của thang điểm SNAP-II tại khoa Hồi sức sơ sinh.Thực tế lâm sàng tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 cho thấy hầu hết trẻ sơ sinh nhập khoa Hồi sức sơ sinh đều ở tình trạng nặng, với nguy cơ tử vong cao. Việc đánh giá tiên lượng tử vong sớm là rất cần thiết để hỗ trợ các quyết định chẩn đoán và can thiệp kịp thời, phù hợp hơn cho những trường hợp có nguy cơ cao. Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng tiên lượng tử vong của trẻ sơ sinh bằng thang điểm SNAP-II. Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến tử vong và giá trị tiên lượng tử vong của thang điểm SNAP-II ở trẻ sơ sinh tại Khoa Hồi sức sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp: cắt ngang từ 01/01/2025 đến 30/06/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Đánh giá thang điểm SNAP-II ở thời điểm T0 (lúc nhập khoa) và T24 (giờ 24 sau nhập khoa). Kết quả: Nghiên cứu bao gồm 182 trẻ sơ sinh, với tuổi thai trung vị là 36,6 tuần (khoảng tứ phân vị: 34,0 – 38,0 tuần) và cân nặng lúc sinh trung vị là 2455 g (1800 – 3000 g). Các biểu hiện lâm sàng nổi bật nhất khi nhập khoa hồi sức sơ sinh là rối loạn hô hấp (chiếm 81,9%) và rối loạn tiêu hóa (36,2%). Tỷ lệ trẻ bị sốc trong 24 giờ đầu nhập khoa là 13,7%, và tỷ lệ tử vong tổng thể ghi nhận được là 11,0%.Kết quả nghiên cứu cho thấy thang điểm SNAP-II có giá trị tiên lượng rất tốt, với khả năng phân biệt xuất sắc giữa nhóm trẻ sống sót và nhóm tử vong tại cả hai thời điểm đánh giá. Tại thời điểm T0 (lúc nhập khoa), điểm cắt tối ưu là 27 điểm, tương ứng với tỷ lệ tử vong 8,8%, độ nhạy 80,0%, độ đặc hiệu 91,3%, AUC = 0,917 và chỉ số Youden J = 0,714. Tại thời điểm T24 (sau 24 giờ), điểm cắt tối ưu là 12 điểm, tương ứng với tỷ lệ tử vong 10,4%, độ nhạy 95,0%, độ đặc hiệu 89,5%, AUC = 0,964 và chỉ số Youden J = 0,845.Phân tích đơn biến xác định các yếu tố liên quan đến tử vong bao gồm tuổi thai < 28 tuần, cân nặng lúc sinh < 1500 g, sốc trong 24 giờ đầu nhập khoa, giảm bạch cầu trung tính, pH máu < 7,2, điểm SNAP-II (T0) ≥ 27 và SNAP-II (T24) ≥ 12. Khi phân tích hồi quy logistic đa biến, bốn yếu tố nguy cơ độc lập có ý nghĩa thống kê liên quan đến tử vong sơ sinh là: tuổi thai < 28 tuần, cân nặng lúc sinh < 1500 g, sốc trong 24 giờ đầu nhập khoa hồi sức sơ sinh, và điểm SNAP-II (T24) ≥ 12. Kết luận: Tóm lại, nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ tử vong sơ sinh là 11,0%. Thang điểm SNAP-II chứng tỏ khả năng tiên lượng xuất sắc ở cả hai thời điểm T0 và T24, với bốn yếu tố nguy cơ độc lập bao gồm tuổi thai <28 tuần, cân nặng lúc sinh <1500 g, sốc trong 24 giờ đầu nhập khoa, và điểm SNAP-II (T24) ≥12 điểm.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18896KẾT QUẢ PHẪU THUẬT U TẾ BÀO THẦN KINH ĐỆM BẬC CAO DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA SIÊU ÂM TRONG MỔ2026-09-14T12:50:54+07:00Dương Trung Kiênduongtkien@gmail.comNguyễn Mạnh Hùngtapchiyhocvietnam@gmail.comVũ Ngọc Anhtapchiyhocvietnam@gmail.comĐinh Trung Thànhtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Việt Đứctapchiyhocvietnam@gmail.comMục đích: Đánh giá kết quả khi áp dụng hệ thống siêu âm hướng dẫn trong phẫu thuật lấy u thần kinh đệm bậc cao. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 23 bệnh nhân được chẩn đoán u thần kinh đệm bậc cao, được phẫu thuật có sử dụng siêu âm trong mổ tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn từ 01/2021 đến 01/2026. Kết quả: Tuổi trung bình 51,4 ± 15,4, tỷ lệ nam/nữ 1,6/1. U chủ yếu ở thùy trán (47,8%) và thùy đỉnh (26,1%). Tỷ lệ lấy toàn bộ u: 17,4%, gần toàn bộ: 47,8%, tổng tỷ lệ lấy u tối đa đạt 65,2%. 91,3% bệnh nhân cải thiện hoặc không thay đổi sau mổ. Chỉ số Karnofsky tăng từ 61,2 lên 75,3 (p = 0,00013). Tỷ lệ biến chứng thấp. Kết luận: Điều trị phẫu thuật u thần kinh đệm bậc cao dưới hướng dẫn của siêu âm có độ chính xác cao, tăng khả năng phẫu thuật lấy hết tổn thương, và có hiệu quả tốt về mặt lâm sàng và chức năng cho bệnh nhân.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18897KẾT QUẢ PHẪU THUẬT DẪN LƯU NÃO THẤT Ổ BỤNG ĐIỀU TRỊ NÃO ÚNG THỦY DO LAO TẠI Bệnh viện Phổi Trung Ương GIAI ĐOẠN 2021 - 20252026-09-14T12:57:53+07:00Phan Thanh Tuấnbstuanbvp@gmail.comĐỗ Đăng Hoàntapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Duy Tuyểntapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Duytapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật dẫn lưu não thất – ổ bụng (VPS) và một số yếu tố liên quan ở người bệnh (NB) não úng thủy do lao tại Bệnh viện Phổi Trung Ương giai đoạn 2021–2025. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 45 NB não úng thủy do lao được phẫu thuật VPS. Kết quả điều trị được đánh giá dựa trên cải thiện lâm sàng, hình ảnh học và thang điểm Glasgow Outcome Scale (GOS) sau mổ 1 tháng và 6 tháng. Kết quả: Tuổi trung bình là 38,4 ± 18,1; nam giới chiếm 60,0%. Đa số NB ở giai đoạn nặng, với Vellore III–IV chiếm 84,4% và BMRC II–III chiếm 86,7%. Não úng thủy thể thông gặp ở 97,8% trường hợp. Sau phẫu thuật 1 tháng, tỷ lệ kết quả tốt (GOS 4–5) đạt 68,9%; sau 6 tháng là 62,2%. Tỷ lệ tử vong tích lũy sau 6 tháng là 33,3%. Biến chứng chủ yếu là tắc dẫn lưu (13,3%) và nhiễm trùng dẫn lưu (2,2%). Các yếu tố liên quan đến kết cục xấu gồm tuổi ≥ 60, Glasgow thấp, Vellore IV, BMRC III, hạ natri máu, tăng ADA dịch não tủy và nhồi máu não. Kết luận: Phẫu thuật VPS giúp cải thiện triệu chứng tăng áp lực nội sọ và giãn não thất ở NB não úng thủy do lao. Tuy nhiên, tiên lượng còn phụ thuộc vào mức độ nặng lâm sàng và tổn thương nhu mô não trước phẫu thuật.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18898KẾT QUẢ SIÊU ÂM VÀ CHỤP CỘNG HƯỞNG TỪ ĐỐI CHIẾU VỚI NỘI SOI MẬT TUỴ NGƯỢC DÒNG TRONG CHẨN ĐOÁN SỎI ỐNG MẬT CHỦ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ HẢI PHÒNG, NĂM 2023 - 20252026-09-14T13:07:52+07:00Hoàng Đức Hạhdha@hpmu.edu.vnĐặng Văn Phượngtapchiyhocvietnam@gmail.comVũ Thị Hạnhtapchiyhocvietnam@gmail.comHoàng Thị Phương Linhtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: 1- Mô tả đặc điểm hình ảnh sỏi ống mật chủ trên siêu âm và trên chụp cộng hưởng từ ở BN được lấy sỏi ống mật chủ bằng phương pháp nội soi mật tuỵ ngược dòng tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng, năm 2023 – 2025; 2- So sánh giá trị của siêu âm và chụp cộng hưởng từ trong chẩn đoán sỏi ống mật chủ với nội soi mật tuỵ ngược dòng ở đối tượng nghiên cứu trên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 84 BN được chẩn đoán là sỏi OMC, khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng trong thời gian từ tháng 10/2023 đến tháng 10/2025. Kết quả và kết luận: Trong chẩn đoán sỏi OMC, siêu âm có độ nhạy 87,34%, độ đặc hiệu 40% và chẩn đoán giãn đường mật 85,71% trường hợp, gợi ý tắc nghẽn. CHT có độ nhạy 97,46%, độ đặc hiệu 80%, giá trị chẩn đoán đúng 96,43%, nên được chỉ định khi siêu âm tính nhưng lâm sàng và sinh hóa vẫn nghi ngờ sỏi OMC. Chỉ số Kappa (k = 0,1404) cho thấy có sự tương đồng thấp giữa siêu âm và CHT.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18899ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT NỘI SOI HAI CỔNG CÙNG BÊN GIẢI ÉP TRONG BỆNH LÝ THOÁI HÓA CỘT SỐNG THẮT LƯNG Ở BỆNH NHÂN TRÊN 60 TUỔI2026-09-14T13:13:02+07:00Nguyễn Hữu Huỳnh Hảihainguyendr.vn@gmail.comLê Khâm Tuântapchiyhocvietnam@gmail.comHoàng Minh Tútapchiyhocvietnam@gmail.comTrương Triển Khangtapchiyhocvietnam@gmail.comTrần Thượngtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Côngtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật nội soi 2 cổng cùng bên điều trị bệnh lý thoái hóa cột sống thắt lưng ở bệnh nhân trên 60 tuổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu 24 bệnh nhân (BN) thoát vị đĩa đệm và hẹp ống sống thắt lưng được phẫu thuật nội soi 2 cổng cùng bên tại bệnh viện STO Phương Đông từ 4/2025 đến 2/2026. Kết quả: Tuổi trung bình là 67,88 ± 5,69, tỉ lệ nữ/ nam là: 2. Vị trí tổn thương chủ yếu ở L45 và hẹp ống sống là nguyên nhân phổ biến chiếm 58,4%. Tăng huyết áp là bệnh nền kèm theo phổ biến chiếm 37,5%. Thời gian phẫu thuật trung bình là 81,04 ± 40,27 phút, lượng máu mất trung bình là 30,5ml. Có 1 BN yếu chân sau mổ và 1 BN bị tái phát phải phẫu thuật lại. Thời gian đi lại sau mổ là 4,96±1,55 tiếng và thời gian nằm viện trung bình là 19,1 giờ tính từ lúc phẫu thuật. Phẫu thuật giải ép 2 bên chiếm đa số với 70,8%. Có sự cải thiện đáng kể mức độ đau (VAS) lưng và đau rễ trước mổ (5,62±1,23 và 7,96±0,36) so với thời điểm đi lại (2,13±0,68 và 1,33±0,56) và tiếp tục cải thiện tại thời điểm 1 tháng (1±0,79 và 1,08±0,83) và sau 3 tháng (0,8± 0,14 và 1±0,62). Kết quả tốt và rất tốt theo Macnab là 83,3% Kết luận: Phẫu thuật nội soi 2 cổng ở BN trên 60 tuổi là một phẫu thuật an toàn, hiệu quả, nên được triển khai rộng rãi.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18900PHẪU THUẬT NỘI SOI MỘT VỊ TRÍ: BƯỚC TIẾN MỚI TRONG PHẪU THUẬT XÂM LẤN TỐI THIỂU ĐIỀU TRỊ BƯỚU BUỒNG TRỨNG VÀ NANG DÂY CHẰNG RỘNG Ở TRẺ EM2026-09-14T13:27:35+07:00Đinh Việt Hưngviethungcaisan@gmail.comNguyễn Kim Văn Hiệptapchiyhocvietnam@gmail.comThái Thìntapchiyhocvietnam@gmail.comLê Văn Giàutapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Phẫu thuật nội soi qua 3 hoặc 4 cổng là phương pháp truyền thống trong điều trị bướu buồng trứng và nang dây chằng rộng ở trẻ em. Cùng với sự phát triển của phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, phẫu thuật nội soi một vị trí (Single-site surgery) đã ra đời như một bước tiến mới. Tuy nhiên, các báo cáo về ứng dụng kỹ thuật này trong điều trị bướu buồng trứng và nang dây chằng rộng ở trẻ em còn hạn chế. Nghiên cứu này nhằm mô tả kinh nghiệm bước đầu triển khai phẫu thuật nội soi một vị trí cho các bệnh lý trên, đồng thời phân tích những ưu và nhược điểm của phương pháp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các bệnh nhi được phẫu thuật nội soi một vị trí cắt bướu bảo tồn mô buồng trứng và cắt nang dây chằng rộng tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 trong khoảng thời gian từ tháng 1/2022 đến tháng 1/2026. Báo cáo hồi cứu, mô tả loạt ca. Kết quả: Có tất cả 25 trường hợp bệnh nhi nữ với chẩn đoán bướu buồng trứng và nang dây chằng rộng được phẫu thuật nội soi 1 vị trí. Tuổi trung bình lúc phẫu thuật 11,36 tuổi (7-15 tuổi), thời gian phẫu thuật trung bình 73,4 phút (40-125 phút), không trường hợp nào cần truyến máu trong lúc mổ, không trường hợp nào cần thêm vị trí trocar trong mổ, không trường hợp nào phải chuyển mổ hở và không trường hợp nào phải đặt dẫn lưu sau mổ. Tất cả các bệnh nhi được rút nội khí quản ngay sau mổ. Thời gian hậu phẫu trung bình 1,92 ngày (1-4 ngày), hậu phẫu không biến chứng. Kết quả giải phẫu bệnh gồm: 17 bướu quái trưởng thành, 1 bọc bì, 7 nang cạnh ống. Thời gian theo dõi trung bình 21,52 tháng (1-42 tháng), không dấu hiệu tái phát. Kết luận: Phẫu thuật nội soi một vị trí là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả, một lựa chọn thay thế tuyệt vời cho phẫu thuật nội soi thông thường để điều trị bệnh lý phần phụ. Sử dụng một vị trí vào trocar ở rốn duy nhất có thể được mở rộng thay vì ba đến bốn vị trí trocar, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cắt bỏ và lấy khối u buồng trứng/phần phụ mà vẫn đảm bảo tính thẩm mỹ khi gần như không để lại sẹo phẫu thuật.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18901ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CÁC TỔN THƯƠNG ÁC TÍNH TÁ TRÀNG TRÊN VÀ DƯỚI BÓNG VATER2026-09-14T13:50:02+07:00Thái Nguyên Hưngthainguyenhung70@gmail.comThái Diệp Anhtapchiyhocvietnam@gmail.comNghiên cứu hồi cứu với mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật (PT) tổn thương ác tính tá tràng nguyên phát hay thứ phát. Kết quả: 34 bệnh nhân (BN), Nam 20 BN, Nữ 14 BN, Tuổi TB 64±8,48. Tiền sử đã PT 26,5%. Đái tháo đường (ĐTĐ) 44,1%. Lâm sàng: Đau bụng 91,2%, nôn 58,8%, ỉa phân đen 8,8%, nôn máu 5,9%, tắc ruột 5,9%, Hẹp môn vị (HMV) 44,1%; lồng ruột 2,9%. Có 6 nhóm UT xâm lấn tá tràng (TT): Nhóm GIST tá tràng; Ung thư dạ dày (UTDD) xâm lấn TT; Ung thư đại tràng (UTĐT) phải xâm lấn TT; Adenocarcinome (AC) tá tràng; Ulympho TT; Leiomyoma TT; Phẫu thuật: PT Triệt căn 26/30 BN (86,7%): Cắt đoạn tá tràng và cắt hang vị, Dẫn lưu mỏm (DLM) tá tràng hay cắt TT hình chêm nối vị tràng hoặc dẫn lưu tá tràng. PT palliative 4/30 BN (13,3%): Cắt đại tràng (ĐT) phải và nối vị tràng hoặc nối vị tràng và nối tắt hồi ĐT ngang. Không có BN tử vong (TV), biến chứng 3/34 BN (8,8%) rò miệng nối sau cắt đoạn TT (2BN rò nhỏ, 1 BN rò trung bình) điều trị nội. Kết luận: 6 nhóm tổn thương ác tính tá tràng: GIST tá tràng; UTDD xâm lấn TT; UTĐT phải xâm lấn TT; AC tá tràng; U lympho TT; Leiomyoma TT; Phẫu thuật cắt đoạn TT, cắt hang vị, dẫn lưu mỏm tá tràng giảm áp đạt kết quả tốt với tỷ lệ biến chứng và TV thấp. Cắt khối tá tụy chỉ định khi khối ung thư xâm lấn bóng Vater hay thành tá tràng và đầu tụy.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18902MỐI LIÊN QUAN GIỮA SA SÚT TRÍ TUỆ VÀ KẾT CỤC NGẮN HẠN CỦA HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP Ở NGƯỜI RẤT CAO TUỔI2026-09-14T14:14:35+07:00Nguyễn Ngọc Hoành Mỹ Tiêntien.nnhm@umc.edu.vnDương Trường Sơntapchiyhocvietnam@gmail.comThân Hà Ngọc Thểtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Sa sút trí tuệ (SSTT) trên bệnh nhân hội chứng vành cấp (HCVC) rất cao tuổi đang trở nên phổ biến và đáng lo ngại bởi tác động bất lợi đến tiên lượng ngắn hạn cũng như dài hạn. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại không có nhiều nghiên cứu hay dữ liệu về vấn đề này. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát mối liên quan của SSTT với các kết cục lâm sàng ngắn hạn trên người bệnh HCVC rất cao tuổi. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, trên người rất cao tuổi (≥ 80 tuổi) nhập viện vì HCVC tại Khoa Tim mạch cấp cứu can thiệp - Bệnh viện Thống Nhất và Khoa Tim mạch can thiệp - Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Đánh giá nhận thức bằng thang MMSE, điểm cắt chẩn đoán SSTT là khi điểm MMSE < 20. Phân tích hồi quy Cox để khảo sát mối liên quan của SSTT với các biến số kết cục ngắn hạn. Kết quả: Nghiên cứu bao gồm 212 bệnh nhân HCVC rất cao tuổi, trong đó tỷ lệ SSTT là 44%. Bệnh nhân có SSTT có nguy cơ tử vong sau 3 tháng cao hơn so với nhóm không SSTT (HR=3,7; KTC95%: 1,5–9,5; p=0,006). SSTT cũng liên quan với tăng nguy cơ tái nhập viện mọi nguyên nhân, tái nhập viện do tim mạch, với HR lần lượt là 2,7 (KTC95%: 1,6–4,4) và 2,6 (KTC95%: 1,5–4,3). Tuy nhiên, các mối liên quan này không còn ý nghĩa thống kê sau khi hiệu chỉnh các yếu tố nguy cơ trong mô hình đa biến. Không ghi nhận sự khác biệt về tỷ lệ điều trị tái tưới máu mạch vành xâm lấn giữa hai nhóm. Kết luận: Tỷ lệ SSTT ở bệnh nhân HCVC rất cao tuổi trong nghiên cứu là 44%. SSTT liên quan với xu hướng gia tăng nguy cơ tử vong, tái nhập viện ngắn hạn, gợi ý đây là một yếu tố tiên lượng bất lợi cần được lưu ý trong đánh giá, quản lý toàn diện bệnh nhân HCVC rất cao tuổi.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18903KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT GÃY KÍN MONTEGGIA Ở NGƯỜI LỚN BẰNG KẾT HỢP XƯƠNG TRỤ NẸP VÍT TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP2026-09-14T14:23:12+07:00Mai Đức Thuậnthuanmd108@gmail.comNguyễn Bình Khươngtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy kín Monteggia ở người trưởng thành bằng kết hợp xương trụ bằng nẹp vít tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên 31 bệnh nhân gãy kín Monteggia ở người trưởng thành được điều trị phẫu thuật bằng kết hợp xương trụ bằng nẹp vít tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp từ 01/2020 đến 06/2024. Kết quả điều trị được đánh giá dựa trên tình trạng liền xương trên X quang và chức năng khớp khuỷu theo thang điểm Mayo Elbow Performance Score (MEPS). Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 36,68 ± 12,68 tuổi, nam chiếm 58,1%. Cơ chế chấn thương trực tiếp chiếm 71%. Phân loại theo Bado, đa số là loại I chiếm 61,3%. Sau phẫu thuật, tất cả các trường hợp chỏm xương quay được nắn chỉnh về vị trí giải phẫu, không ghi nhận trường hợp trật lại chỏm quay. Hầu hết bệnh nhân đạt liền xương tốt sau 6 – 12 tháng theo dõi và chức năng khớp khuỷu theo thang điểm MEPS đạt kết quả tốt và rất tốt ở đa số trường hợp. Kết luận: Phẫu thuật kết hợp xương trụ bằng nẹp vít là phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn đối với gãy Monteggia ở người trưởng thành, giúp phục hồi giải phẫu ổ gãy và cải thiện chức năng khớp khuỷu.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18904CÁC HÌNH THÁI TỔN THƯƠNG ÁC TÍNH TÁ TRÀNG, ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA CÁC HÌNH THÁI TỔN THƯƠNG ÁC TÍNH TÁ TRÀNG2026-09-14T14:29:25+07:00Thái Nguyên Hưngthainguyenhung70@gmail.comThái Diệp Anhtapchiyhocvietnam@gmail.comNghiên cứu hồi cứu với mục tiêu: 1. Mô tảcác hình thái tổn thương ác tính ở tá tràng 2. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các hình thái tổn thương tá tràng. Kết quả: 34 Bệnh nhân (BN), Nam 20 bệnh nhân, Nữ 14 bệnh nhân, Tuổi trung bình 64±8,48. Tiền sử đã mổ 26,5%. Đái tháo đường 44,1%. Lâm sàng: Đau bụng 91,2%, nôn 58,8%, ỉa phân đen 8,8%, nôn máu 5,9%, tắc ruột 5,9%, Hẹp môn vị44,1%; Lồng ruột 2,9%. Xét nghiệm: Thiếu máu trung bình và nặng 41,2%. Bạch cầu≥ 10 G/L 53%. Albumin ≤ 30 g/L 47%. Nội soi dạ dàychẩn đoán 50% số GIST D2, gối dưới tá tràng, Nội soi dạ dày 100% số ung thư xâm lấn tá tràng gây biến dạng môn vị, hẹp môn vị; 14,3% (2 BN) ung thưxâm lấn tá tràng. Chụp cắt lớp phát hiện 100% GIST tá tràng. Chụp cắt lớp vi tính phát hiện 14,3 % ung thư dạ dày xâm lấn tá tràng. Kết luận: Các nhóm tổn thương ác tính tá tràng: 6 nhóm, nhóm GIST tá tràng (1); Nhóm ung thư dạ dày (UTDD) xâm lấn tá tràng (2) nhóm ung thư đại tràng phải (UTĐT) xâm lấn tá tràng (3); Nhóm AC tá tràng (4); Nhóm U lympho tá tràng (5); Nhóm Leiomyoma tá tràng (6) Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng: - Nhóm GIST tá tràng (6/34 bệnh nhân, 17,6 %); 100%dưới Vater, đau bụng 100%, xuất huyết tiêu hóa (50%), Nội soi dạ dày xác định 50% GIST D2 và gối dưới. Chụp cắt lớp vi tính chẩn đoán 100% GIST tá tràng. - Nhóm UT đại tràng phải xâm lấn tá tràng (10/34 bệnh nhân, 29,4%): 100% đau bụng và tắc ruột, bán tắc ruột. Khối UT ≥ 5cm hay < 5 cm và thâm nhiễmchiếm 90%. Nội soi dạ dày lỗ rò tá tràng 10% (1 bệnh nhân). - Nhóm UTDD xâm lấn tá tràng (14/34 bệnh nhân, 41,2%): Đau bụng 85,7%, nôn 64,3%, hẹp môn vị 78,6%. Nội soi dạ dày 100%biến dạng môn vị. Hẹp môn vị; 2 bệnh nhân (14,3%) UT dạ dày xâm lấn tá tràng. - Nhóm AC tá tràng (1/34 bệnh nhân,2,9%): NSDD khối U sùi môn vị gây hẹp môn vị. - Nhóm U lymphô tá tràng (2/34 bệnh nhân, 5,9%): 2 bệnh nhân U lympho D4, 100% đau bụng, 1 bệnh nhân tắc ruột. Chụp cắt lớp chẩn đoán 100%. - Nhóm Leiomyoma (2,9%): Đau bụng, nôn máu, ỉa phân đen. Chụp cắt lớp vi tính: thoát thuốc từ động mạch đầu tụy vào DII.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18905KÍCH THƯỚC RĂNG CỬA, MỐI LIÊN QUAN GIỮA SỰ CHEN CHÚC RĂNG CỬA VĨNH VIỄN HAI HÀM VÀ KHỚP CẮN Ở TRẺ 8-10 TUỔI TẠI HÀ NỘI2026-09-14T14:33:30+07:00Hoàng Thị Quỳnh Trangquynhtrang210988@gmail.comNguyễn Đại Phongtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Hồng Dươngtapchiyhocvietnam@gmail.comMai Thị Hoantapchiyhocvietnam@gmail.comHà Hải Anhtapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Minh Trítapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Văn Quangtapchiyhocvietnam@gmail.comTrương Đình Khởitapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Xác định kích thước gần-xa răng cửa vĩnh viễn và mối liên quan giữa chen chúc răng cửa hai hàm với khớp cắn ở trẻ 8-10 tuổi tại Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 224 trẻ 8-10 tuổi. Kích thước gần-xa răng cửa và khớp cắn được đánh giá trên mô hình số hoá ba chiều. Mối liên quan giữa chen chúc răng trước với sai khớp cắn theo Angle và tương quan răng hàm sữa thứ hai được phân tích bằng kiểm định phù hợp. Kết quả: Tỷ lệ chen chúc răng trước là 52,68%; kích thước gần-xa một số răng cửa vĩnh viễn ở trẻ trai lớn hơn so với trẻ gái (p<0,05). Chen chúc răng cửa liên quan có ý nghĩa thống kê với sai khớp cắn theo Angle (p<0,001), trong đó Angle II làm tăng nguy cơ chen chúc khoảng 9,8-10,2 lần. Chen chúc cũng liên quan với tương quan răng hàm sữa thứ hai dạng bước gần ở hàm trên và bước xa ở cả hai hàm (p<0,01). Kết luận: Nghiên cứu cho thấy chen chúc răng cửa là tình trạng phổ biến ở trẻ 8-10 tuổi, kích thước gần-xa của một số răng cửa vĩnh viễn có sự khác biệt theo giới tính. Chen chúc răng cửa có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với sai khớp cắn theo Angle và tương quan răng hàm sữa thứ hai, đặc biệt ở nhóm Angle II và một số dạng tương quan tận cùng răng hàm sữa thứ hai. Những kết quả này góp phần hỗ trợ phát hiện sớm nguy cơ chen chúc và định hướng điều trị chỉnh nha dự phòng trong giai đoạn răng hỗn hợp.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18906VIÊM RUỘT HOẠI TỬ Ở TRẺ SƠ SINH NON THÁNG: CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TỬ VONG TỪ MỘT NGHIÊN CỨU CẮT NGANG2026-09-14T14:44:01+07:00Nguyễn Đức Toàntoanped@gmail.comVũ Thị Nhungtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Kiến Mậutapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Viêm ruột hoại tử (NEC) là một bệnh lý nghiêm trọng đặc trưng bởi tình trạng viêm và hoại tử niêm mạc ruột, chủ yếu do thiếu máu cục bộ tại ruột. Bệnh thường kèm theo sự phát triển quá mức của vi khuẩn sinh hơi trong lòng ruột, dẫn đến tình trạng hơi thâm nhập vào thành ruột (pneumatosis intestinalis) và có thể lan vào hệ thống tĩnh mạch cửa (portal venous gas). Hậu quả nặng nề bao gồm viêm phúc mạc, thủng ruột và thậm chí tử vong nếu không được can thiệp kịp thời. Đây vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và gánh nặng bệnh tật ở trẻ sơ sinh non tháng, đặc biệt là những trẻ có cân nặng rất thấp (very low birth weight). Tại Việt Nam, khoảng 80–90% các trường hợp viêm ruột hoại tử xảy ra ở nhóm trẻ sinh non tháng[2], với tỉ lệ tử vong lên tới 50% ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân[1]. Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến tử vong trong viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang từ 01/2022 đến 08/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả: Trong khoảng thời gian nghiên cứu, có tổng cộng 101 trẻ sơ sinh non tháng được chẩn đoán viêm ruột hoại tử, với tuổi thai trung vị 31,9 tuần (khoảng tứ phân vị 28,0–33,6 tuần), cân nặng lúc sinh trung vị 1300 g (1100–2000 g) và tỷ lệ trẻ cực non chiếm 22,8%. Các triệu chứng lâm sàng chính bao gồm chướng bụng (99,0%), dịch dẫn lưu dạ dày màu nâu (75,2%), tiêu máu (33,7%) và suy hô hấp (59,4%). Tại thời điểm nặng nhất, các bất thường cận lâm sàng thường gặp là giảm tiểu cầu (37,6%), rối loạn đông máu (36,6%) và toan chuyển hóa (35,6%); cấy máu dương tính ở 23,8% trường hợp, trong đó Candida spp. và coagulase-negative Staphylocci đều chiếm 29,2%. Hình ảnh học cho thấy hơi trong thành ruột trên siêu âm bụng (82,2%) và dịch tự do ổ bụng (49,5%), cùng với quai ruột giãn chướng hơi (59,4%) và hơi trong thành ruột (46,5%) trên X-quang bụng. Theo phân độ Bell cải tiến, các mức độ gồm IIA (31,7%), IIB (33,7%), IIIA (7,9%) và IIIB (26,7%). Các bệnh lý kèm theo phổ biến là nhiễm trùng huyết (68,3%), bệnh màng trong (56,4%), viêm phổi (45,5%) và còn ống động mạch (27,7%). Về điều trị, thời gian nuôi ăn tĩnh mạch hoàn toàn có trung vị 8 ngày (5–10 ngày), tỷ lệ phẫu thuật là 33,7% và dẫn lưu ổ bụng trước phẫu thuật chiếm 26,7%. Tỷ lệ tử vong chung là 19,8%. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy, toan máu nặng pH < 7,2 (OR = 12,1, KTC 95%: 2,0 – 71,5) và giảm tiểu cầu (OR = 5,0, KTC 95%: 1,2 – 22,0) là hai yếu tố độc lập có liên quan đến tử vong. Kết luận: Giảm tiểu cầu (< 100×109/L) và toan máu nặng (pH < 7,2) là hai yếu tố liên quan độc lập với tử vong, do đó việc phát hiện sớm và xử trí kịp thời các bất thường này có thể góp phần hạn chế diễn tiến nặng và cải thiện kết cục điều trị viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh non tháng.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18907NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN SỎI NIỆU QUẢN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HẢI PHÒNG2026-09-14T15:11:20+07:00Nguyễn Văn Longtapchiyhocvietnam@gmail.comLê Thị Yếnltyen@hpmu.edu.vnNguyễn Bảo Trântapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Thị Thuý Hiếutapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Văn Điềutapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Nhận xét giá trị của siêu âm trong chẩn đoán sỏi niệu quản tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh trên 166 bệnh nhân được chẩn đoán xác định sỏi niệu quản bằng chụp cắt lớp vi tính, có đầy đủ kết quả siêu âm và chụp cắt lớp vi tính, thu thập tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng từ tháng 01/2024 đến tháng 03/2025. Giá trị chẩn đoán của siêu âm được đánh giá thông qua độ nhạy, độ đặc hiệu theo vị trí và kích thước sỏi và các dấu hiệu gián tiếp, với CLVT làm tiêu chuẩn tham chiếu. Kết quả: Trong 166 bệnh nhân, nam chiếm 71,08%, tuổi trung bình 47,9 ± 14,47. Siêu âm phát hiện sỏi niệu quản ở 72,29% trường hợp. Giá trị chẩn đoán của siêu âm thay đổi theo vị trí sỏi: cao nhất ở 1/3 trên (độ nhạy 80,33%; độ đặc hiệu 98,10%), tiếp đến 1/3 dưới (68,13%; 100%) và thấp nhất ở 1/3 giữa (64,29%; 91,45%). Theo kích thước, độ nhạy của siêu âm trong việc phát hiện sỏi >5 mm là 88,46%, với sỏi 3–5 mm là 61,45%; siêu âm không phát hiện được các trường hợp sỏi <3 mm. Trong phát hiện dấu hiệu giãn đài bể thận và niệu quản, siêu âm có độ nhạy cao (93,98%), trong khi độ nhạy đối với thâm nhiễm quanh niệu quản thấp (9,80%) nhưng độ đặc hiệu cao (97,39%). Kích thước sỏi đo trên siêu âm và chụp cắt lớp vi tính không khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), với hệ số tương quan mức trung bình (r = 0,594; p < 0,05). Kết luận: Siêu âm có giá trị trong chẩn đoán sỏi niệu quản, đặc biệt với sỏi kích thước lớn và vị trí 1/3 trên. Phương pháp này có độ nhạy cao trong phát hiện các dấu hiệu gián tiếp của tắc nghẽn nhưng hạn chế trong phát hiện sỏi nhỏ và đánh giá các thay đổi viêm quanh niệu quản. Siêu âm có thể được sử dụng như phương tiện thăm dò ban đầu, góp phần định hướng chẩn đoán và giảm nhu cầu sử dụng CLVT trong một số trường hợp.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18908GÁNH NẶNG ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT VÀ ĐẶC ĐIỂM TIẾN TRIỂN CỦA U NHÚ THANH QUẢN2026-09-14T15:24:55+07:00Nguyễn Thành Tuấnnttuan@uhsvnu.edu.vnĐặt vấn đề: U nhú thanh quản (recurrent respiratory papillomatosis – RRP) là bệnh lý lành tính của đường hô hấp do nhiễm human papillomavirus (HPV), đặc trưng bởi sự xuất hiện của các khối u nhú trên niêm mạc thanh quản và xu hướng tái phát nhiều lần. Bệnh thường gây khàn tiếng kéo dài, khó thở và có thể lan rộng xuống đường hô hấp dưới. Mặc dù bản chất là lành tính, RRP thường đòi hỏi can thiệp phẫu thuật lặp lại nhiều lần nhằm duy trì đường thở và cải thiện chức năng phát âm. Điều này tạo ra gánh nặng đáng kể cho bệnh nhân, gia đình và hệ thống y tế. Tuy nhiên, dữ liệu về đặc điểm tiến triển và gánh nặng điều trị của bệnh tại Việt Nam còn hạn chế. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, diễn tiến và đánh giá gánh nặng điều trị phẫu thuật ở bệnh nhân u nhú thanh quản tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca bệnh được thực hiện trên các bệnh nhân được chẩn đoán xác định u nhú thanh quản bằng nội soi và mô bệnh học tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh. Các biến số nghiên cứu bao gồm tuổi, giới, triệu chứng lâm sàng, vị trí tổn thương, mức độ lan rộng của sang thương và số lần phẫu thuật trong quá trình theo dõi. Dữ liệu được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả. Kết quả: Khàn tiếng là triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất ở bệnh nhân u nhú thanh quản. Tổn thương thường gặp nhất ở tầng thanh môn, đặc biệt tại bờ tự do dây thanh. Một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân cần phẫu thuật nhiều lần trong quá trình theo dõi do tính chất tái phát của bệnh. Các trường hợp có tổn thương lan rộng ở nhiều vị trí của thanh quản có xu hướng cần nhiều lần phẫu thuật hơn so với các trường hợp tổn thương khu trú. Kết luận: U nhú thanh quản là bệnh lý có xu hướng tái phát kéo dài và gây gánh nặng điều trị đáng kể do phải phẫu thuật lặp lại nhiều lần. Việc nhận diện sớm mức độ lan rộng của bệnh và theo dõi lâu dài có vai trò quan trọng trong quản lý bệnh nhân và giảm thiểu gánh nặng điều trị.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18909KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ CHỈ SỐ HUYẾT HỌC VÀ TÌNH TRẠNG THIẾU SẮT Ở PHỤ NỮ MANG THAI TẠI TRUNG TÂM Y TẾ BÌNH LIÊU, QUẢNG NINH NĂM 20252026-09-14T15:34:21+07:00Nguyễn Thị Huyênhuyenhh169hmtu@gmail.comLê Văn Thêmtapchiyhocvietnam@gmail.comLèo Xuân Dũngtapchiyhocvietnam@gmail.comThiếu máu ở phụ nữ mang thai là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng, đặc biệt tại các khu vực miền núi và vùng khó khăn. Việc đánh giá các chỉ số huyết học kết hợp bilan sắt có vai trò quan trọng trong chẩn đoán và định hướng nguyên nhân thiếu máu. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm một số chỉ số huyết học, tình trạng thiếu sắt và một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại Trung tâm Y tế Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 275 phụ nữ mang thai đến khám và quản lý thai nghén từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2025. Các đối tượng được xét nghiệm công thức máu và định lượng sắt huyết thanh, ferritin huyết thanh. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 25,66 ± 6,71. Tỷ lệ thiếu máu là 37,5%; trong đó thiếu máu nhẹ chiếm 55,3%, thiếu máu vừa chiếm 44,7%. Đa số trường hợp thiếu máu có đặc điểm hồng cầu nhỏ, nhược sắc; MCV và MCHC giảm, RDW tăng. Nồng độ ferritin <30 ng/mL gặp ở 38,8% trường hợp thiếu máu. Khoảng cách sinh dưới 24 tháng và tình trạng thiếu sắt có liên quan có ý nghĩa thống kê với thiếu máu (p<0,05). Kết luận: Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại Trung tâm Y tế Bình Liêu còn ở mức cao. Thiếu máu chủ yếu có đặc điểm hồng cầu nhỏ, nhược sắc. Tình trạng thiếu sắt có liên quan có ý nghĩa thống kê với thiếu máu. Việc sàng lọc định kỳ các chỉ số huyết học và dự trữ sắt có ý nghĩa quan trọng trong phát hiện sớm và dự phòng thiếu máu trong thai kỳ.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18910MỐI LIÊN QUAN GIỮA TỶ SỐ ACID URIC/HDL-CHOLESTEROL (UHR) VỚI CHỨC NĂNG THẬN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 22026-09-14T15:44:42+07:00Hồ Ngọc Lợihongocloi@ump.edu.vnTrần Trương Trung Tínhtapchiyhocvietnam@gmail.comLê Quốc Tuấntapchiyhocvietnam@gmail.comLương Linh Lytapchiyhocvietnam@gmail.comLê Trọng Nhântapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Tỷ số acid uric/HDL-cholesterol (UHR) được xem là chỉ số phản ánh đồng thời rối loạn chuyển hóa và tình trạng viêm, tuy nhiên mối liên quan giữa UHR và chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Mục tiêu: Khảo sát mối liên quan giữa UHR và chức năng thận ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 55 bệnh nhân có bệnh thận mạn (BTM) và 55 bệnh nhân không có BTM, lựa chọn theo phương pháp bắt cặp 1:1 theo tuổi và giới. Tương quan Spearman đánh giá mối liên quan giữa UHR và các biến lâm sàng, cận lâm sàng. Hồi quy logistic đa biến xác định các yếu tố liên quan đến BTM. Kết quả: Bệnh nhân có BTM có UHR cao hơn đáng kể so với nhóm không BTM (p = 0,0003). UHR tương quan nghịch với eGFR (r = −0,34; p = 0,0003). Trong mô hình hồi quy logistic đa biến, UHR có mối liên quan có ý nghĩa với BTM sau khi hiệu chỉnh các yếu tố khác (OR = 1,18; KTC 95%: 1,06–1,30; p = 0,002). Diện tích dưới đường cong ROC của mô hình dự báo là 0,7613. Kết luận: Tỷ số acid uric/HDL-cholesterol (UHR) có mối liên quan với chức năng thận ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 và có thể là một chỉ dấu sinh học đơn giản, hữu ích trong đánh giá nguy cơ BTM.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18912OXCARBAZEPINE TRONG KIỂM SOÁT CO GIẬT Ở TRẺ SƠ SINH THẤT BẠI VỚI PHENOBARBITAL VÀ LEVETIRACETAM: BÁO CÁO LOẠT CA2026-09-14T16:40:32+07:00Nguyễn Minh Trítapchiyhocvietnam@gmail.comTrang Thị Hoàng Maitapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Kiến Mậutapchiyhocvietnam@gmail.comVõ Đức Trívoductri2000@gmail.comĐặt vấn đề: Việc kiểm soát co giật sơ sinh thất bại với các thuốc chống động kinh kinh điển (như Phenobarbital và Levetiracetam) luôn là một thách thức lớn trong thực hành lâm sàng. Đối với những trẻ không có tổn thương não cấp tính nhưng kháng trị với phác đồ chuẩn này, các nguyên nhân di truyền, đặc biệt là bệnh lý kênh ion, cần được nghĩ tới. Nhóm bệnh lý này thường ít đáp ứng với cơ chế tăng cường GABA thông thường nhưng lại có thể được kiểm soát tốt bằng các thuốc chẹn kênh Natri, mở ra hướng tiếp cận điều trị trúng đích dựa trên cơ chế bệnh sinh. Mô tả ca bệnh: Chúng tôi báo cáo loạt ca gồm 3 trẻ sơ sinh khởi phát co giật rất sớm (từ 24 giờ đến 7 ngày tuổi). Kiểu hình cơn nổi bật là gồng cứng (tonic) hoặc cơn co giật nối tiếp (sequential), đi kèm các dấu hiệu rối loạn thần kinh thực vật rõ rệt như tím tái và ngưng thở. Các nguyên nhân tổn thương não cấp tính và rối loạn chuyển hóa đều đã được loại trừ. Cả 3 bệnh nhân đều thất bại trong việc kiểm soát cơn với Phenobarbital và Levetiracetam. Kết quả giải trình tự gen thế hệ mới sau đó xác định các biến thể dị hợp tử trên gen KCNQ2 (gồm 1 đột biến lệch khung và 2 đột biến sai nghĩa). Quyết định điều trị thay thế bằng thuốc chẹn kênh Natri là Oxcarbazepine (10 mg/kg/ngày) được tiến hành. Kết quả lâm sàng ghi nhận sự đáp ứng ngoạn mục: cả 3 trẻ đều cắt cơn hoàn toàn trong vòng 24 đến 72 giờ dùng thuốc và duy trì phát triển tâm vận thuận lợi trong quá trình theo dõi. Kết luận: Nhận diện sớm kiểu hình cơn gồng cứng, cơn co giật nối tiếp ở trẻ sơ sinh kháng trị với Phenobarbital và Levetiracetam là dấu hiệu để định hướng đến bệnh lý kênh ion. Oxcarbazepine cho thấy hiệu quả vượt trội và an toàn, nên được cân nhắc như một liệu pháp điều trị ưu tiên hoặc điều trị thử nghiệm sớm trong khi chờ đợi kết quả di truyền, giúp tối ưu hóa kết cục thần kinh cho trẻ.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18913TỶ LỆ TỬ VONG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRONG SUY HÔ HẤP Ở TRẺ SƠ SINH NON THÁNG TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 12026-09-14T17:24:46+07:00Nguyễn Đức Toàntoanped@gmail.comĐồng Thị Thùy Dungtapchiyhocvietnam@gmail.comPhạm Thị Thanh Tâmtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong giai đoạn sơ sinh. Hơn 90% trẻ được nhập vào khoa Hồi sức sơ sinh đều biểu hiện suy hô hấp nặng, đòi hỏi phải can thiệp hỗ trợ hô hấp tích cực [1]. Trên thế giới và tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, vẫn còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu và cụ thể về vấn đề này tại trung tâm của chúng tôi. Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định các yếu tố liên quan đến tử vong do suy hô hấp ở nhóm trẻ sơ sinh non tháng nhập khoa Hồi sức sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1. Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến tử vong do suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng tại khoa Hồi sức sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang từ 01/01/2025 đến 30/06/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả: Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận 145 trường hợp trẻ sơ sinh non tháng bị suy hô hấp. Trung vị tuổi thai là 34,0 tuần (khoảng tứ phân vị: 29,4 – 35,0 tuần), trung vị cân nặng lúc sinh là 1.900 g (1.300 – 2.300 g) và tỷ lệ trẻ cực non chiếm 12,4%. Các nguyên nhân suy hô hấp thường gặp nhất bao gồm: suy hô hấp do bệnh lý ngoại khoa (36,6%), hội chứng suy hô hấp cấp tính (34,5%) và viêm phổi (24,1%). Các phương pháp điều trị chủ yếu được áp dụng là: thở máy xâm lấn (74,5%), thở máy không xâm lấn (73,1%), liệu pháp thay thế surfactant (34,5%) và sử dụng caffeine (35,2%). Biến chứng của suy hô hấp xảy ra ở 31,0% trẻ, trong đó loạn sản phế quản phổi chiếm 9,0%. Kết quả điều trị ghi nhận: trẻ xuất viện chiếm 87,0%, tử vong chiếm 13,0%. Các yếu tố liên quan độc lập đến tỷ lệ tử vong bao gồm: tuổi thai < 28 tuần (OR = 30,95; 95% CI: 3,12 – 306,86; p = 0,003); sử dụng steroid trước sinh (OR = 0,022; 95% CI: 0,002 – 0,199; p = 0,001); có chỉ định bơm surfactant (OR = 0,045; 95% CI: 0,003 – 0,644; p = 0,022); bơm surfactant từ 2 lần trở lên (OR = 19,45; 95% CI: 1,22 – 308,33; p = 0,035); và toan chuyển hóa lúc nhập viện (OR = 6,72; 95% CI: 1,34 – 33,56; p = 0,020). Kết luận: Nguyên nhân chính gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng là suy hô hấp do bệnh lý ngoại khoa (36,6%) và hội chứng suy hô hấp cấp tính (34,5%), trong đó thở máy xâm lấn được sử dụng ở 74,5% trường hợp. Tỷ lệ tử vong tổng thể là 13,0%. Các yếu tố liên quan đến tử vong bao gồm tuổi thai < 28 tuần, sử dụng steroid trước sinh, có chỉ định bơm surfactant, bơm surfactant ≥ 2 lần, toan chuyển hóa lúc nhập viện và thở máy xâm lấn. Việc xây dựng chiến lược quản lý thai kỳ hiệu quả, chẩn đoán sớm và điều trị phù hợp là rất cần thiết để giảm tỷ lệ tử vong ở nhóm trẻ này.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18914ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SAU PHẪU THUẬT THÂN CHUNG ĐỘNG MẠCH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 12026-09-14T17:30:21+07:00Huỳnh Trường Thịnhhuynhtruongthinh1998@gmail.comVũ Minh Phúctapchiyhocvietnam@gmail.comMở đầu: Thân chung động mạch (TCĐM) là một dị tật tim bẩm sinh hiếm gặp nhưng có tiên lượng dè dặt. Phẫu thuật (PT) sửa chữa hoàn toàn trong giai đoạn sớm giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống còn; tuy nhiên, các vấn đề tồn lưu và biến chứng muộn, đặc biệt liên quan đến ống nối thất phải – động mạch phổi (ĐMP) và chức năng thất, vẫn là thách thức lớn. Tại Việt Nam, các dữ liệu về kết quả trung và dài hạn sau phẫu thuật TCĐM còn hạn chế. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm bổ sung bằng chứng thực hành lâm sàng trong nước. Mục tiêu: Đánh giá kết quả sau phẫu thuật ≥ 5 năm của bệnh nhân TCĐM tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 thông qua: xác định tỉ lệ tử vong, yếu tố liên quan đến tử vong, tình trạng tái can thiệp sau PT, đặc điểm lâm sàng, hình thái và chức năng tim. Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt trường hợp trên 30 trẻ được chẩn đoán TCĐM và PT sửa chữa hoàn toàn tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 trong giai đoạn 01/2015–09/2020. Các bệnh nhân được theo dõi trên 5 năm sau PT. Đặc điểm lâm sàng, biến chứng, tái can thiệp, hình thái và chức năng tim được đánh giá chủ yếu bằng siêu âm tim. Kết quả: 30 bệnh nhi được đưa vào nghiên cứu, nam 40%, nữ 60%. Chỉ 3,3% các trường hợp có chẩn đoán tiền sản và 10% có hội chứng Digeorge. Tuổi trung vị lúc PT là 81,5 (68-136) ngày với cân nặng trung vị là 4,05 (3,5-5) kg. Tỷ lệ tử vong chung khá cao, 32,1%. Tỷ lệ tử vong sớm (trong 30 ngày đầu sau PT) là 16,7% và tỷ lệ tử vong muộn (sau 30 ngày PT) là 15,4%. Cân nặng lúc phẫu thuật < 4 kg và suy tim nặng trước PT là yếu tố liên quan tử vong. Sau PT 5 năm, đa số trẻ không có triệu chứng suy tim (84,2% NYHA I) hoặc chỉ suy tim nhẹ (15,8% NYHA II). Tuy nhiên, trẻ cần tái can thiệp lại sau lần PT đầu tiên khoảng 4 năm với tỷ lệ cao lên đến 73,6%. Can thiệp lại chủ yếu là thông tim nong ống nối thất phải – ĐMP (57,9%) hoặc PT thay ống nối lớn hơn (47,4%). Bất thường hình thái tim nổi bật là dày thất phải (82,4%), hẹp ống nối thất phải – ĐMP (76,5%) và dãn động mạch chủ (ĐMC) (70,6%). Tỷ lệ giảm chức năng thất phải cao (11,8%), trong khi đó, chức năng thất trái nhìn chung vẫn được bảo tồn. Kết luận: PT sửa chữa toàn bộ TCĐM mang lại kết quả trung và dài hạn khả quan. Theo dõi sát tình trạng ống nối thất phải – ĐMP và chức năng thất phải là yếu tố then chốt nhằm tối ưu kết cục lâu dài cho bệnh nhân.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18915BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH CỦA BẠCH CẦU HẠT CHƯA TRƯỞNG THÀNH (IG) TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM TRÙNG HUYẾT TẠI BỆNH VIỆN QUỐC TẾ BECAMEX2026-09-14T17:33:44+07:00Mông Thị Kiều Trúckieutruc2011@gmail.comLại Thị Thanh Thảotapchiyhocvietnam@gmail.comPhan Nguyễn Liên Anhtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Nhiễm trùng huyết là tình trạng nhiễm trùng nặng với tỷ lệ tử vong cao, chỉ số bạch cầu hạt chưa trưởng thành (IG) được xem là một chỉ điểm sớm, sẵn có và chi phí thấp. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát giá trị của chỉ số bạch cầu hạt chưa trưởng thành và mối liên quan với các dấu ấn viêm ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết điều trị nội trú tại Bệnh viện Quốc tế Becamex. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 19 bệnh nhân ≥18 tuổi được chẩn đoán nhiễm trùng huyết theo tiêu chuẩn Sepsis-3, điều trị nội trú từ tháng 7/2025 đến 12/2025 và có thực hiện xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, cấy máu, CRP hoặc procalcitonin cùng thời điểm. Kết quả: Tuổi trung vị của bệnh nhân là 65 (52–80) tuổi, trong đó 63,2% ≥60 tuổi. Tỷ lệ cấy máu dương tính là 57,9%, vi khuẩn Gram âm chiếm ưu thế, chủ yếu là Escherichia coli. Giá trị IG# trung vị là 0,23 (0,13–1,04) và IG% là 1,7 (0,94–2,84), phân bố lệch phải. IG# có mối tương quan thuận rất mạnh với procalcitonin (PCT) (r = 0,812; p = 0,05), trong khi không có tương quan có ý nghĩa với bạch cầu tổng trong máu ngoại vi (WBC) và CRP. IG% có xu hướng tương quan với PCT nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê. Kết luận: IG, đặc biệt là IG#, có tiềm năng hỗ trợ chẩn đoán sớm và đánh giá mức độ nặng của nhiễm trùng huyết, cần được tiếp tục nghiên cứu trên cỡ mẫu lớn hơn.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18916ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG BIẾN CHỨNG THẦN KINH CẤP TÍNH Ở TRẺ EM MẮC VIÊM MÀNG NÃO MỦ TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 12026-09-14T17:38:18+07:00Phạm Đình Nguyênnguyenpd@nhidong.org.vnDương Minh Toàntapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Thanh Trangtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Viêm màng não mủ do vi khuẩn vẫn là một trong những bệnh lý nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương cấp tính nghiêm trọng nhất ở trẻ em, với tỷ lệ tử vong và di chứng thần kinh cao trên toàn cầu. Mặc dù đã có một số nghiên cứu trong nước về dịch tễ, đề kháng kháng sinh hoặc di chứng lâu dài, dữ liệu về biến chứng cấp tính nội viện và các yếu tố tiên lượng liên quan vẫn còn hạn chế và chưa được hệ thống hóa đầy đủ. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, căn nguyên vi khuẩn học và xác định các yếu tố tiên lượng độc lập của biến chứng thần kinh cấp tính ở trẻ em mắc viêm màng não mủ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thuần tập hồi cứu phân tích trên 80 bệnh nhi từ 1 tháng đến 15 tuổi được chẩn đoán viêm màng não mủ tại Bệnh viện Nhi đồng 1 trong giai đoạn từ tháng 10/2024 đến tháng 10/2025. Dữ liệu lâm sàng, dịch não tủy, vi sinh và biến chứng trong thời gian nằm viện được thu thập từ hồ sơ bệnh án. Phân tích hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố tiên lượng độc lập của biến chứng thần kinh cấp tính. Kết quả: Tỷ lệ xuất hiện ít nhất một biến chứng cấp tính là 43,8%, trong đó biến chứng thần kinh chiếm 40,0%. Các biến chứng thường gặp gồm co giật kéo dài hoặc kháng trị (17,5%), suy hô hấp cần thông khí cơ học (15,0%) và tụ dịch/tụ mủ dưới màng cứng (12,5%). Streptococcus pneumoniae là căn nguyên vi khuẩn được xác định nhiều nhất (18,8%). Phân tích đa biến cho thấy ba yếu tố tiên lượng độc lập của biến chứng thần kinh cấp tính gồm: GCS < 8 lúc nhập viện (OR = 3,95; KTC 95%: 1,65–9,45), nhiễm S. pneumoniae (OR = 4,15; KTC 95%: 1,30–12,8) và protein dịch não tủy > 100 mg/dL (OR = 2,55; KTC 95%: 1,10–5,90). Kết luận: Biến chứng cấp tính, đặc biệt là biến chứng thần kinh, thường gặp ở trẻ viêm màng não mủ. Suy giảm tri giác nặng khi nhập viện, căn nguyên phế cầu và tăng protein dịch não tủy là các yếu tố tiên lượng quan trọng, có thể hỗ trợ nhận diện sớm nhóm bệnh nhi nguy cơ cao và định hướng chiến lược theo dõi, hồi sức tích cực.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18917ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN ỨC GIAI ĐOẠN IV ĐIỀU TRỊ BƯỚC MỘT PHÁC ĐỒ PACLITAXEL-CARBOPLATIN2026-09-14T17:43:46+07:00Nguyễn Thị Ngọcngocnguyeny24.2012@gmail.comHoàng Mạnh Thắngtapchiyhocvietnam@gmail.comVũ Văn Sơntapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Thị Thái Hòatapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tỷ lệ đáp ứng khách quan và tác dụng không mong muốn ung thư biểu mô tuyến ức (UTBMTƯ) giai đoạn IV điều trị bước một phác đồ Paclitaxel–Carboplatin (PC). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, trên 59 bệnh nhân UTBMTƯ giai đoạn IV (WHO 2021; TNM phiên bản 9), chỉ số toàn trạng (ECOG) 0–1, điều trị PC bước một từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2025 tại Bệnh viện K và Bệnh viện Phổi Trung Ương. Đánh giá đáp ứng theo RECIST 1.1, độc tính theo CTCAE v5.0. Kết quả: Tuổi trung bình 52,7 ± 14,8 tuổi; nam 67,8%; ECOG 0: 54,2%. Đau ngực (50,8%), ho (35,6%) và mệt mỏi (33,9%) là triệu chứng phổ biến nhất. Ung thư biểu mô vảy 66,1%; giai đoạn IVB 64,4%; di căn màng phổi 47,5%. Không trường hợp nào đạt đáp ứng hoàn toàn (CR), đáp ứng một phần (PR) 45,8%, bệnh giữ nguyên (SD) 39%, và bệnh tiến triển (PD) 15,2%. Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) 45,8% và tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) 84,8%. Độc tính thường gặp: Thiếu máu (62,7%), thần kinh ngoại biên (52,5%), hạ bạch cầu (45,8%), chủ yếu độ 1–2, không có độc tính độ 4, không có tử vong liên quan điều trị. Kết luận: Phác đồ Paclitaxel-Carboplatin đạt tỷ lệ đáp ứng bệnh trung bình và an toàn, phù hợp với khuyến cáo ưu tiên của NCCN v2.2026 cho UTBMTƯ giai đoạn IV.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18918ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ XỬ TRÍ NHAU TIỀN ĐẠO TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG NAI NĂM 2024 - 20252026-09-14T17:50:21+07:00Lâm Đức Tâmldtam@ctump.edu.vnTrần Minh Tàitapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Thị Lan Phươngtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Nhau tiền đạo là một trong những nguyên nhân chính gây chảy máu trong ba tháng cuối thai kỳ, trong chuyển dạ và sau sinh. Đây là một vấn đề lớn mà các nhà sản khoa phải đối mặt, do những thai phụ với nhau tiền đạo có thể phải nằm ở bệnh viện để theo dõi dài hạn, tăng nguy cơ truyền máu, sinh non, tỷ lệ cắt tử cung tăng, dẫn đến tử suất của mẹ và con đều cao do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu với hai mục tiêu là mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết cục xử trí nhau tiền đạo tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai. Đối tượng và phương pháp: Các sản phụ đến nhập viện và sinh tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai từ 04/2024 – 12/2025. Kết quả: Nhóm tuổi sản phụ dưới 35 chiếm 62,5%. Tiền sử mổ lấy thai chiếm tỷ lệ 40%, nạo hút thai (5%) và tiền sử đã từng bị nhau tiền đạo (2,6%). Có 100% trường hợp được chỉ định chấm dứt thai kỳ bằng phương pháp mổ lấy thai. Tỷ lệ mổ lấy thai cấp cứu (57,5%), mổ chủ động (42,5%). Tỷ lệ sản phụ cần truyền máu trong và sau mổ là 15%. Nghiên cứu chưa ghi nhận các biến chứng hậu phẫu như nhiễm trùng hay tổn thương cơ quan (0%). Phần lớn trẻ sơ sinh có tình trạng sức khỏe tốt với chỉ số APGAR 1 phút ≥7 đạt 95%. Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ có cân nặng sơ sinh <2500g là 32,5%. Kết luận: Yếu tố nguy cơ thường gặp của nhau tiền đạo là tiền sử mổ lấy thai và đây là phương pháp ưu tiên để chấm dứt thai kỳ, chủ yếu là mổ lấy thai cấp cứu. Chưa ghi nhận biến chứng nhiễm trùng và tổn thương cơ quan; tình trạng trẻ sơ sinh non và ngạt còn cao trong nghiên cứu.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18919ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NỘI SOI TÁN SỎI NIỆU QUẢN BẰNG LASER HOLMIUM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ VÀ BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NĂM 2024 - 20262026-09-14T17:58:16+07:00Nguyễn Hải Anhnguyenhaianh12a2@gmail.comPhạm Quốc Anhtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Sỏi tiết niệu là bệnh lý thường gặp ở đường tiết niệu, trong đó sỏi niệu quản chiếm 28%. Theo thời gian tán sỏi nội soi ngược dòng bằng Laser Holmium: YAG ngày càng được phát triển, hoàn thiện, trở thành một phương pháp điều trị rất hiệu quả và không thể thiếu trong điều trị sỏi niệu quản. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, phân độ thận ứ nước trên siêu âm và đánh giá kết quả nội soi tán sỏi niệu quản bằng Laser Holmium: YAG. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu trên 90 bệnh nhân bị sỏi niệu quản tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ và Bệnh viện Trường đại học Y dược Cần Thơ năm 2024-2026. Kết quả: Có 90 bệnh nhân, trong đó có 53 nam (58,9%), 37 nữ (41,1%). Tuổi trung bình 49,81 ± 12,78 tuổi. Kích thước sỏi trung bình là 10,44 ± 3,12mm. Thận ứ nước độ 1 chiếm 63,3% (57 bệnh nhân), ứ nước độ 2 chiếm 30% (27 bệnh nhân), ứ nước độ 3 chiếm 6,7% (6 bệnh nhân). Thời gian phẫu thuật trung bình là 37,11 ± 17,97 phút. Thời gian nằm viện trung bình là 5,32 ± 1,9 ngày. Kết quả phẫu thuật: thành công 96,7% (87 bệnh nhân), thất bại 3,3% (3 bệnh nhân) do sỏi chạy lên thận, sót sỏi to. Không có biến chứng được ghi nhận. Kết luận: Phương pháp nội soi tán sỏi niệu bằng Laser Holmium: YAG là phương pháp an toàn, có tỉ lệ thành công cao và thời gian nằm viện ngắn.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18920KẾT QUẢ NỘI SOI NGƯỢC DÒNG TÁN SỎI THẬN BẰNG MÁY SOI MỀM TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN: 453 TRƯỜNG HỢP2026-09-14T18:10:14+07:00Võ Phúc Ngândrvophucngan97@gmail.comNguyễn Thái Hoàngtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Ngọc Tháitapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Phương pháp nội soi ngược dòng tán sỏi thận bằng máy soi mềm (RIRS) phù hợp với các trường hợp sỏi thận nhỏ hơn 2 cm hoặc sỏi ở vị trí khó tiếp cận như đài thận dưới, có nhiều ưu điểm nổi bật như không gây tổn thương trực tiếp đến mô thận, giảm nguy cơ chảy máu. Chúng tôi tổng kết báo cáo kết quả RIRS số lượng lớn tại Bệnh viện Bình Dân. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả trường hợp (TH) được chẩn đoán sỏi thận được nội soi ngược dòng tán sỏi thận bằng máy soi mềm tại Bệnh viện Bình Dân từ tháng 1/2023-11/2025. Nghiên cứu hồi cứu, mô tả hàng loạt trường hợp. Kết quả: Tất cả có 453 TH sỏi thận được chỉ định tán sỏi thận nội soi ngược dòng bằng máy soi mềm. Nam giới chiếm 53.4%, tuổi trung bình là 50.3. Kích thước sỏi trung bình là 15.4mm, sỏi thận đài dưới chiếm 31.3%. Đặt thông JJ trước phẫu thuật chiếm tỉ lệ 63.4%. Thời gian phẫu thuật trung bình là 69.3 phút, thời gian nằm viện trung bình là 3 ngày. Tỉ lệ sạch sỏi sau 1 tháng đạt 49.4%. Tỷ lệ biến chứng là 14.1%, tiểu máu (0.7%, Clavien - Dindo I), kế đó là sốt, nhiễm khuẩn đường tiết niệu cùng với nhiễm khuẩn huyết lần lượt là 5.5%, 5.5%, và 2.4%. Kết luận: Phương pháp nội soi ngược dòng tán sỏi trong thận bằng máy soi mềm là một phẫu thuật an toàn với tỷ lệ biến chứng thấp, bệnh nhân hồi phục tốt sau mổ.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18921ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP KHÁNG ANDROGEN THẾ HỆ MỚI VÀ ỨC CHẾ PARP TRONG UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT DI CĂN KHÁNG CẮT TINH HOÀN TẠI KHOA TIẾT NIỆU, BỆNH VIỆN CHỢ RẪY: KINH NGHIỆM BƯỚC ĐẦU2026-09-14T18:15:07+07:00Phạm Đức Minhphamducminh159@gmail.comLê Phan Nhật Duytapchiyhocvietnam@gmail.comThái Kinh Luântapchiyhocvietnam@gmail.comNgô Xuân Tháitapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) di căn, kháng cắt tinh hoàn vẫn là một thách thức lớn trong lâm sàng, đòi hỏi các chiến lược điều trị mới. Phối hợp thuốc kháng androgen thế hệ mới và thuốc ức chế PARP giúp cải thiện sống còn rõ rệt nhất trong các phác đồ hiện tại. Chúng tôi báo cáo những trường hợp đầu tiên được điều trị tại khoa Ngoại Tiết niệu, Bệnh viện Chợ Rẫy. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt trường hợp. Những bệnh nhân UTTTL di căn, kháng cắt tinh hoàn được chẩn đoán và điều trị tại khoa Ngoại tiết niệu, Bệnh viện Chợ Rẫy với phác đồ phối hợp kháng androgen thế hệ mới và ức chế PARP từ tháng 4/2024 đến 4/2025. Các biến số lâm sàng, cận lâm sàng và các biến cố bất lợi trong quá trình theo dõi ghi nhận lại. Kết quả: Tất cả 02 trường hợp UTTTL di căn, kháng cắt tinh hoàn được chẩn đoán và điều trị với phác đồ phối hợp Abiraterone và Olaparib. Hai bệnh nhân đều đáp ứng tốt với điều trị, giảm triệu chứng lâm sàng, không tiến triển thêm trên hình ảnh học. Bệnh nhân thứ nhất ghi nhận PSA giảm > 90% sau 6 tháng giảm triệu chứng. Thiếu máu mức độ trung bình đều gặp trên 2 trường hợp, xuất hiện khoảng tháng thứ 3 và cần phải điều chỉnh liều Olaparib để giảm tác dụng phụ. Sau khi điều chỉnh liều 1-2 tháng, cả hai bệnh nhân đều hồi phục và tiếp tục điều trị đủ liều Olaparib. Kết luận: Báo cáo này cung cấp những dữ liệu đầu tiên về việc sử dụng kết hợp Abiraterone và Olaparib trên bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt di căn kháng cắt tinh hoàn tại trung tâm chúng tôi. Những kinh nghiệm ban đầu cho thấy sự phối hợp Abiraterone và Olaparib mang lại hiệu quả tốt, đáp ứng điều trị sớm và ổn định, tuy thiếu máu là tác dụng ngoại ý thường gặp nhưng có thể quản lý được bằng điều trị nội khoa và thay đổi liều dùng hợp lý.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18923BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG: PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG CẮT BƯỚU SCHWANNOMA SAU PHÚC MẠC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC THỦ ĐỨC2026-09-15T00:51:05+07:00Vũ Thiện Phúcdrvtphuc1996@gmail.comPhan Đức Huấntapchiyhocvietnam@gmail.comDương Đại Dươngtapchiyhocvietnam@gmail.comMở đầu: Bướu schwannoma sau phúc mạc là dạng bướu thần kinh hiếm gặp chiếm tỷ lệ dưới 2%, trong các bệnh lý bướu sau phúc mạc. Đa số bướu schwannoma là lành tính, nhưng thường chẩn đoán muộn do không có triệu chứng hoặc triệu chứng mơ hồ. Chẩn đoán xác định bằng kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật. Hiện nay, điều trị chủ yếu là phẫu thuật cắt bướu. Nhưng việc chọn lựa giữa mổ mở và phẫu thuật nội soi để cắt bướu sẽ tùy thuộc vào kích thước, vị trí bướu và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi báo cáo 1 trường hợp lâm sàng bướu schwannoma được phát hiện và điều trị thành công. Ca lâm sàng: Bệnh nhân nữ 25 tuổi, tiền căn chưa ghi nhận bất thường. Nhập viện vì đau âm ỉ hông trái. Chẩn đoán hình ảnh phát hiện khối choán chỗ vùng sau phúc mạc bên trái với kích thước 100 x 50 x 40 mm, độ Hounsfield khoảng 30 HU. Bệnh nhân được phẫu thuật nội soi ổ bụng với 4 trocar, trong quá trình phẫu thuật bóc tách bướu thì phát hiện rách cơ hoành và thấy màng phổi trái, xử trí bằng dẫn lưu màng phổi trái bằng thông oxy 16 Fr, sau khi lấy trọn được bướu thì tiến hành đuổi khí, khâu phục hồi cơ hoành, sau đó rút dẫn lưu màng phổi trái. Thời gian phẫu thuật 155 phút, lượng mất máu 50 mL. Hậu phẫu, bệnh nhân xuất viện ngày thứ 5. Giải phẫu bệnh sau phẫu thuật xác định bướu schwannoma. Kết luận: Bướu schwannoma sau phúc mạc rất hiếm gặp. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào giải phẫu bệnh của bướu sau khi cắt được, triệu chứng lâm sàng thường khá mơ hồ. Phương pháp điều trị chính là phẫu thuật cắt bướu, nhưng mổ mở hoặc phẫu thuật nội soi tùy thuộc vào vị trí và kích thước.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18924VIÊM BÀNG QUANG NHẬP VIỆN: ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH NHÂN VÀ THÁCH THỨC TRONG ĐIỀU TRỊ DO ĐA KHÁNG KHÁNG SINH2026-09-15T00:55:32+07:00Huỳnh Đoàn Phương Maidrhdpmai005@gmail.comHuỳnh Lê Hạtapchiyhocvietnam@gmail.comTrần Đức Việttapchiyhocvietnam@gmail.comHồ Ngọc Trà Nhitapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Viêm bàng quang là bệnh lý phổ biến, thường điều trị ngoại trú, nhưng có trường hợp cần nhập viện điều trị kháng sinh tĩnh mạch. Sự gia tăng vi khuẩn đa kháng, đặc biệt là Enterobacteriaceae sinh men đa kháng, gây khó khăn trong việc lựa chọn phác đồ kháng sinh và kéo dài thời gian nằm viện. Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm, xác định phổ vi khuẩn và mức độ đa kháng kháng sinh, cũng như đánh giá tỷ lệ phù hợp của kháng sinh khởi trị. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu ở bệnh nhân viêm bàng quang nhập viện điều trị kháng sinh tại khoa Niệu nữ - Niệu chức năng, Bệnh viện Bình Dân, từ tháng 01/2025 đến tháng 06/2025. Kết quả: Trong số 81 bệnh nhân, nữ giới chiếm 92,6%, với tuổi trung vị 64,0 (46,0-70,5) tuổi. Escherichia coli chiếm 55,8%, trong đó 45,8% sản xuất men β-lactamase phổ rộng và 12,5% carbapenemase. Carbapenem và amikacin còn hoạt tính tương đối tốt lần lượt là >50,0% và 66,7%. 70,4% bệnh nhân đã dùng kháng sinh ngoại trú trong 90 ngày trước nhập viện. Kháng sinh ban đầu phù hợp theo hướng dẫn bệnh viện ở 23/25 trường hợp; 5/16 có hoạt tính với vi khuẩn theo kháng sinh đồ. Phối hợp kháng sinh chỉ chiếm 19,8%. Thời gian điều trị trung vị là 8 (7-10) ngày. Không có sự khác biệt thống kê về tỷ lệ sinh men đề kháng kháng sinh giữa các nhóm có đái tháo đường và không, lớn tuổi, hay đã dùng kháng sinh ngoại trú trước đó. Kết luận: Viêm bàng quang phải nhập viện có tỷ lệ vi khuẩn sản xuất men đa kháng cao, Escherichia coli là tác nhân chủ yếu. Tiền sử điều trị kháng sinh ngoại trú và bệnh lý mạn tính như đái tháo đường có thể ảnh hưởng đến việc chọn lựa kháng sinh khởi trị.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18925ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN BẾ TẮC ĐƯỜNG TIẾT NIỆU TRÊN CÓ BIẾN CHỨNG NHIỄM KHUẨN2026-09-15T00:59:40+07:00Lâm Thùy Đoanlamthuydoan1412@gmail.comTrần Huỳnh Tuấntapchiyhocvietnam@gmail.comLê Diệp Hải Dươngtapchiyhocvietnam@gmail.comLê Đình Dũngtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Thị Hồng Đàotapchiyhocvietnam@gmail.comLê Trung Hiếutapchiyhocvietnam@gmail.comLê Anh Khoatapchiyhocvietnam@gmail.comTrương Thành Hiếutapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Hoàng Minh Lýtapchiyhocvietnam@gmail.comDư Thị Ngọc Thutapchiyhocvietnam@gmail.comMở đầu: Bế tắc đường tiết niệu trên có thể diễn tiến nặng khi kèm nhiễm khuẩn, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn huyết và suy thận cấp. Giải áp cấp cứu là biện pháp then chốt, nhưng lựa chọn phương pháp tối ưu trong bối cảnh nhiễm khuẩn còn nhiều khác biệt. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân và đánh giá kết quả điều trị giải áp cấp cứu ở bệnh nhân bế tắc đường tiết niệu trên có biến chứng nhiễm khuẩn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả loạt ca có theo dõi ngắn hạn trên 44 bệnh nhân bị bế tắc đường tiết niệu trên có biến chứng nhiễm khuẩn được điều trị giải áp tạm thời tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ và Bệnh viện Trường đại học Y dược Cần Thơ từ tháng 05/2024 đến tháng 11/2025. Kết quả: Tuổi trung bình 61,2±13,3; tỉ lệ nam/nữ 1/1,59. Sốt 47,7%; rung thận (+) 38,6%. Bạch cầu 13,1±5,2; CRP 38,5±95,2; PCT 10,2±17,9. Ứ nước thận độ 1, 2, 3 lần lượt 22,7%; 15,9%; 61,4%. Nguyên nhân thường gặp nhất là sỏi niệu quản (63,6%). Cấy nước tiểu dương tính 18,2%, trong đó Escherichia coli chiếm 7/8 trường hợp. Giải áp bằng TNQND 28 ca và MTRD 16 ca; tỉ lệ thành công 93,2%, không ghi nhận tử vong. Sau can thiệp, bạch cầu, CRP, PCT giảm và eGFR tăng có ý nghĩa thống kê (Wilcoxon: Z từ −4,575 đến −5,497; p < 0,001). Kết luận: Ở bệnh nhân bế tắc đường tiết niệu trên có nhiễm khuẩn, sỏi niệu quản là nguyên nhân chủ yếu và E. coli thường gặp nhất trong các mẫu cấy dương tính. Giải áp tạm thời đạt hiệu quả cao và cải thiện rõ rệt tình trạng viêm cũng như chức năng thậnCopyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18926ĐẶC ĐIỂM VI SINH VÀ CÁC YẾU TỐ TIÊN ĐOÁN VIÊM PHÚC MẠC Ở BỆNH NHÂN LỌC MÀNG BỤNG: NGHIÊN CỨU ĐOÀN HỆ HỒI CỨU TẠI MỘT TRUNG TÂM2026-09-15T01:07:12+07:00Nguyễn Huỳnh Thanh Tuấnnhttuan@uhsvnu.edu.vnTrịnh Thị Kim Chitapchiyhocvietnam@gmail.comVõ Thị Diễm Hàtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Báchtapchiyhocvietnam@gmail.comĐặt vấn đề: Viêm phúc mạc là một biến chứng ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối lọc màng bụng. Việc hiểu rõ đặc điểm vi sinh và các yếu tố tiên đoán viêm phúc mạc có ý nghĩa quan trọng trong việc tối ưu hóa lựa chọn kháng sinh điều trị cũng như xây dựng các chiến lược dự phòng biến chứng này. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm vi sinh của các đợt viêm phúc mạc ở bệnh nhân lọc màng bụng và xác định các yếu tố dự đoán viêm phúc mạc ở bệnh nhân lọc màng bụng. Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu được thực hiện trên các bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối lọc màng bụng tại Khoa Thận – Lọc máu, Bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, trong giai đoạn từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 08 năm 2025. Các thông tin về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng được thu thập từ hồ sơ bệnh án. Đặc điểm vi sinh được xác định dựa trên kết quả cấy dịch lọc màng bụng. Các yếu tố dự đoán viêm phúc mạc được đánh giá bằng ước tính nguy cơ tương đối, với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05. Kết quả: Trong 190 bệnh nhân lọc màng bụng, có 74 bệnh nhân bị viêm phúc mạc với tổng cộng 137 đợt, tương ứng với tỷ lệ 0,32 đợt trên mỗi bệnh nhân-năm. Vi khuẩn gram âm là tác nhân gây bệnh thường gặp nhất (45,30%), tiếp theo là vi khuẩn gram dương (23,36%). Viêm phúc mạc cấy âm chiếm 28,50% số đợt, trong khi viêm phúc mạc do nấm lại hiếm gặp (0,70%). Nghiên cứu cũng xác định một số yếu tố có ý nghĩa tiên đoán viêm phúc mạc ở bệnh nhân lọc màng bụng, bao gồm: hạ kali máu (RR = 27,923), giảm albumin máu (RR = 4,337), viêm cầu thận (RR = 6,891) và đái tháo đường (RR = 2,55) (p < 0,05). Kết luận: Vi khuẩn gram âm là tác nhân chủ yếu gây viêm phúc mạc ở bệnh nhân lọc màng bụng. Trong đó, Pseudomonas aeruginosa là tác nhân thường gặp nhất. Hạ kali máu, giảm albumin máu, viêm cầu thận và đái tháo đường là những yếu tố có giá trị tiên đoán viêm phúc mạc.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18927PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ SẠCH SỎI VÀ BIẾN CHỨNG SAU NỘI SOI NGƯỢC DÒNG TÁN SỎI THẬN BẰNG MÁY SOI MỀM TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN2026-09-15T01:11:11+07:00Võ Phúc Ngândrvophucngan79@gmail.comNguyễn Thái Hoàngtapchiyhocvietnam@gmail.comPhan Thành Thốngtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Nội soi ngược dòng tán sỏi thận bằng máy soi mềm (RIRS) phù hợp với các trường hợp sỏi thận nhỏ hơn 2 cm. Tỷ lệ sạch sỏi sau điều trị bằng RIRS cao, trong khi tỷ lệ biến chứng ở mức thấp. Hiệu quả của phương pháp này có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như kích thước, vị trí sỏi, giải phẫu hệ tiết niệu và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Chúng tôi tổng kết báo cáo các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả RIRS tại Bệnh viện Bình Dân. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả trường hợp (TH) được chẩn đoán sỏi thận được nội soi ngược dòng tán sỏi thận bằng máy soi mềm tại Bệnh viện Bình Dân từ tháng 1/2023-11/2025. Nghiên cứu hồi cứu, mô tả hàng loạt trường hợp. Phân tích hồi quy logistic đơn biến được thực hiện nhằm xác định các yếu tố tiên lượng độc lập đối với biến phụ thuộc. Kết quả: Có 453 TH sỏi thận được chỉ định tán sỏi thận nội soi ngược dòng bằng máy soi mềm. Nam giới chiếm 53.4%, tuổi trung bình là 50.3. Kích thước sỏi trung bình là 15.4mm, sỏi thận đài dưới chiếm 31.3%. Thời gian phẫu thuật trung bình là 69.3 phút, thời gian nằm viện trung bình là 3 ngày. Kết quả sạch sỏi tức thì đạt 41.5%, tỉ lệ sạch sỏi sau 1 tháng đạt 49.4%. Tỷ lệ biến chứng là 14.1%. Tuổi càng cao thì khả năng sạch sỏi sau 1 tháng càng thấp, có ý nghĩa thống kê (p = 0.001), thời gian phẫu thuật lớn hơn 90 phút có nguy cơ không sạch sỏi gấp 2.03 lần, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0.002). Kích thước sỏi liên quan không có ý nghĩa thống kê với tỉ lệ sạch sỏi. Tăng huyết áp, bạch cầu máu ban đầu càng cao, bạch cầu niệu tăng cao có nguy cơ có biến chứng sau mổ (p< 0.05). Kết luận: Phương pháp nội soi ngược dòng tán sỏi thận bằng máy soi mềm là một phẫu thuật an toàn với tỷ lệ biến chứng thấp. Tuổi và thời gian phẫu thuật có liên quan đến tỷ lệ sạch sỏi. Tuổi càng cao thì khả năng sạch sỏi sau 1 tháng càng thấp, thời gian phẫu thuật lớn hơn 90 phút có nguy cơ không sạch sỏi gấp 2.03 lần. Tăng huyết áp, bạch cầu máu ban đầu càng cao, bạch cầu niệu tăng cao có nguy cơ có biến chứng sau mổ.Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18928ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA SỮA HỌC ĐƯỜNG LÊN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ VI CHẤT Ở TRẺ EM SUY DINH DƯỠNG THẤP CÒI TỪ 24 ĐẾN 59 THÁNG TUỔI TẠI BẮC KẠN2026-09-15T01:15:02+07:00Trương Phan Hồng Hàtapchiyhocvietnam@gmail.comNguyễn Quang Dũngnguyenquangdung@hmu.edu.vnNguyễn Xuân Ninhtapchiyhocvietnam@gmail.comMục tiêu: Đánh giá hiệu quả của việc bổ sung 2 loại sữa học đường (sữa bổ sung đa vi chất và sữa tươi thông thường) lên tình trạng dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng (kẽm, sắt, canxi, vitamin D) của trẻ từ 24-59 tháng tuổi bị suy dinh dưỡng thấp còi tại 8 trường mầm non ở Bắc Kạn. Đối tượng và phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng can thiệp cộng đồng có đối chứng, áp dụng mù đơn trong 4 tháng, phân nhóm ngẫu nhiên theo trường học. Tổng cộng 237 trẻ suy dinh dưỡng thấp còi từ 24-59 tháng tuổi đã hoàn tất nghiên cứu (123 trẻ nhóm can thiệp dùng 360 ml/ngày sữa bổ sung đa vi chất và 114 trẻ nhóm đối chứng dùng 360 ml/ngày sữa tươi tiệt trùng). Các chỉ số nhân trắc (chiều cao, cân nặng, WAZ, HAZ, WAZ) được đánh giá định kỳ hàng tháng từ T0 đến T4. Nồng độ kẽm, sắt, canxi toàn phần và vitamin D huyết thanh được xét nghiệm tại thời điểm trước (T0) và sau can thiệp (T4). Kết quả: Sau 4 tháng can thiệp, cả 2 nhóm được bổ sung sữa học đường đều có cải thiện về các chỉ số cân nặng, chiều cao WAZ, HAZ, WHZ, kẽm, ferritin, hemoglobin, canxi và vitamin D huyết thanh so với trước can thiệp. Nhóm sử dụng sữa bổ sung đa vi chất có mức tăng chiều cao (3,30 ± 0,43 cm) cao hơn so với sữa thường (2,69 ± 0,36 cm) (p < 0,05) cũng như cải thiện chỉ số HAZ nhiều hơn (+0,36 ± 0,11 SD so với +0,18 ± 0,13 SD, p< 0,05); sự cải thiện về chiều cao có ý nghĩa thống kê bắt đầu từ sau 3 tháng can thiệp. Mức tăng cân nặng ở nhóm sữa bổ sung vi chất đạt 2,20 ± 0,45 kg, cao hơn so với nhóm sữa thường (1,44 ± 0,30kg, p<0,05), mức cải thiện WAZ lớn hơn (+0,94 ± 0,21 SD so với +0,88 ± 0,26, p<0,05). Nồng độ kẽm huyết thanh ở nhóm sữa bổ sung vi chất tăng 3,33 ± 4,40µg/dL (so với 0,16 ± 4,46 µg/dL ở nhóm sữa thường, p<0,05). Mức thay đổi canxi toàn phần (+0,55 ± 0,35 mmol/L) và vitamin D (+21,66 ± 11,65 ng/mL) ở nhóm sữa bổ sung vi chất cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sữa thường (p<0,05). Không nhận thấy sự thay đổi về nồng độ sắt trong huyết thanh trước và sau can thiệp ở cả 2 nhóm. Kết luận: Bổ sung sữa học đường ở cả loại sữa thường và sữa bổ sung đa vi chất đều giúp cải thiện về chiều cao, cân nặng, các chỉ số Z-score và phục hồi tình trạng vi chất dinh dưỡng (Kẽm, Canxi, vitamin D) và hemoglobin ở trẻ em suy dinh dưỡng thấp còi lứa tuổi mầm non tại Bắc Kạn. Trong đó loại sữa bổ sung đa vi chất có hiệu quả cao hơn so với sữa thường ở các chỉ số nhân trắc và vi chất dinh dưỡng.Copyright (c) 2026