Tạp chí Y học Việt Nam https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj <p><strong>1. T&ecirc;n cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o in (b&aacute;o in, tạp ch&iacute; in):</strong></p> <p><strong>Tổng hội Y học Việt Nam</strong></p> <p><strong>Địa chỉ:</strong> 68A B&agrave; Triệu, Phường Cửa Nam, Th&agrave;nh phố H&agrave; Nội</p> <p><strong>Điện thoại:</strong> 024 39431866&nbsp;</p> <p><strong>2. T&ocirc;n chỉ, mục đ&iacute;ch:</strong></p> <p>- Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng; ch&iacute;nh s&aacute;ch, ph&aacute;p luật của Nh&agrave; nước về y học;</p> <p>- Phổ biến những th&agrave;nh tựu khoa học, c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu, kiến thức khoa học trong nước v&agrave; quốc tế về nghiệp vụ y tế.</p> <p><strong>3. Đối tượng phục vụ: </strong>Hội vi&ecirc;n Tổng hội Y học Việt Nam, c&aacute;c c&aacute;n bộ y tế, sinh vi&ecirc;n y, dược v&agrave; bạn đọc quan t&acirc;m.</p> <p><strong>4. Thể thức xuất bản: </strong>Ấn phẩm in</p> <p><strong>5. Ấn phẩm ch&iacute;nh:</strong></p> <p>- T&ecirc;n gọi: Tạp ch&iacute; Y học Việt Nam.</p> <p>- Ng&ocirc;n ngữ thể hiện: Tiếng Việt, tiếng Anh.</p> <p>- Kỳ hạn xuất bản: 03 kỳ/th&aacute;ng tiếng Việt v&agrave; 02 kỳ/năm tiếng Anh.</p> <p>- Thời gian ph&aacute;t h&agrave;nh: Ng&agrave;y 15&amp;30 h&agrave;ng th&aacute;ng;</p> <p>- Khu&ocirc;n khổ: 19cmx27cm;</p> <p>- Số trang: 380 trang kỳ tiếng Việt v&agrave; 180 trang kỳ tiếng Anh.</p> <p>&nbsp;</p> Vietnam Medical Association vi-VN Tạp chí Y học Việt Nam 1859-1868 KẾT QUẢ TẠO HÌNH DỊ TẬT HAI NGÓN TAY CÁI BẰNG KỸ THUẬT BILHAUT-CLOQUET https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18231 Đặt vấn đề: Dị tật thừa ngón tay cái là tình trạng thừa ngón phổ biến nhất ở nhóm người da trắng và châu Á, xảy ra ở khoảng 0,8 đến 1,4 /1.000 ca sinh. Tình trạng thừa ngón tay cái là kết quả của việc trục quay trụ của đĩa bàn tay không hình thành và/hoặc không phân biệt được. Mục đích của việc tái tạo lý tưởng cho dị tật hai ngón cái là tạo ra ngón tay cái có chức năng tốt, đốt ngón tay cái ổn định, sẹo tối thiểu và biến dạng móng tối thiểu. Quy trình Bilhaut-Cloquet thực hiện trong đó các phần của cả hai ngón tay cái sẽ được kết hợp với nhau. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không nhóm chứng. Nhóm bệnh nhân được chẩn đoán và chỉ định tạo hình hai ngón cái bằng kỹ thuật Bilhaut-Cloquet (có bất cân xứng về kích thước móng hai bên) từ 2018-2025. Các bệnh nhân được phẫu thuật với kỹ thuật bởi cùng một nhóm phẫu thuật viên. Theo dõi sau phẫu thuật đánh giá kết quả theo thang điểm Tada, Horii và Tien cải tiến. Kết quả: Từ năm 2018-2025 có 20 bệnh nhân dị tật hai ngón tay cái được phẫu thuật theo phương pháp Bilhaut-Cloquet với độ tuổi trung bình là 7 (từ 1-31 tuổi); tỷ lệ nam/nữ: 9/11; theo phân loại Wassel bệnh nhân ở loại IV và II chiếm tỷ lệ nhiều nhất (40% và 25%); thời gian theo dõi trung bình sau phẫu thuật là 31 tháng. Kết quả tốt theo thang điểm Tada chiếm 85%; theo thang điểm Tien chiếm 83,3%; theo thang điểm Horii đạt 100%. Kết luận: Phương pháp Bilhaut-Cloquet là một thách thức về mặt kỹ thuật so với cắt bỏ ngón thừa thông thường. Tuy nhiên, kỹ thuật cho kết quả khả quan mong muốn đặc biệt với những trường hợp thừa ngón có bất cân xứng về kích thước móng tay. Bùi Mai Anh Trần Xuân Thạch Vũ Trung Trực Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18231 ĐÁNH DẤU MÔ CƠ TIM TRONG DỰ ĐOÁN HẸP ĐỘNG MẠCH VÀNH CÓ Ý NGHĨA Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG VÀNH MẠN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18232 Phương pháp nghiên cứu: Với thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, chúng tôi đã tiến hành trên 57 bệnh nhân mắc hội chứng vành mạn. Tất cả bệnh nhân được siêu âm tim qua thành ngực, chụp cắt lớp vi tính động mạch vành và chụp động mạch vành qua da. Kết quả: Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu là 63,3 ± 8,8 tuổi, có 49,1% bệnh nhân là nữ. Chỉ số trung bình của sức căng trục dọc thất trái trên siêu âm đánh dấu mô cơ tim trên các mặt cắt 4 buồng, 2 buồng, 3 buồng và trung bình lần lượt là: - 20,1 ± 2,9; -18,1 ± 2,7; -18,8 ± 2,9 và -19,0 ± 2,7 (%). Có 21 bệnh nhân (36,8%) có hẹp ít nhất 1 nhánh động mạch vành trên chụp động mạch vành qua da. Độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, diện tích dưới đường cong của chỉ số sức căng trục dọc thất trái trong dự đoán hẹp động mạch vành có ý nghĩa khi chọn điểm cắt -18,0% là 77,8%, 71,4%, 75,5% và 0,8075 [0,683 - 0,933]. Kết luận: Chỉ số sức căng trục dọc thất trái trên siêu âm đánh dấu mô cơ tim có giá trị tương đối cao trong dự đoán hẹp động mạch vành có ý nghĩa. Hoàng Văn Lê Võ Minh Duy Nguyễn Sinh Huy Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18232 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN ĐAU DÂY THẦN KINH TỌA BẰNG ĐIỆN CHÂM, XOA BÓP BẤM HUYỆT KẾT HỢP NHÃN CHÂM https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18233 Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị người bệnh đau dây thần kinh tọa bằng điện châm, xoa bóp bấm huyệt kết hợp nhãn châm.Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng có đối chứng. [][]Sáu mươi bệnh nhân được chia làm hai nhó[][]m. Nhóm nghiên cứu gồm 30 bệnh nhân được điều trị bằng điện châm, xoa bóp bấm huyệt kết hợp nhãn châm. Nhóm đối chứng gồm 30 bệnh nhân điều trị bằng điện châm và xoa bóp bấm huyệt. Kết quả: Sau 14 ngày điều trị nhóm nghiên cứu cải thiện mức độ đau theo thang điểm VAS, độ giãn cột sống thắt lưng Schöber, nghiệm pháp Lasègue và chức năng sinh hoạt hàng ngày tốt hơn nhóm chứng (p < 0,05). Kết luận: Phương pháp điện châm và xoa bóp bấm huyệt kết hợp nhãn châm có kết quả điều trị tốt hơn điện châm và xoa bóp bấm huyệt trong điều trị bệnh nhân đau thần kinh tọa. Đặng Thị Huyền Nga Phạm Thị Thanh Bình Trần Như Quỳnh Chung Thị Cẩm Nhung Trần Thị Thu Trang Vũ Thị Ánh Tuyết Ngô Thị Lan Hương Nguyễn Thị Thanh Tú Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18233 CÁC YẾU TỐ DỰ ĐOÁN ĐÁP ỨNG THÔNG KHÍ NẰM SẤP TRÊN BỆNH NHÂN CÓ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP TIẾN TRIỂN THEO DÕI BẰNG CẮT LỚP TRỞ KHÁNG LỒNG NGỰC https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18234 Mục tiêu: Xác định các yếu tố dự đoán đáp ứng với thông khí tư thế nằm sấp ở bệnh nhân có hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) được theo dõi bằng cắt lớp trở kháng lồng ngực. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu quan sát tiến cứu trên 17 bệnh nhân ARDS nặng được thông khí nhân tạo năm sấp và đo EIT 24 lần. Các đặc điểm ban đầu và dữ liệu EIT được thu thập trước và sau nằm sấp. Bệnh nhân được phân loại là "đáp ứng" nếu P/F tăng > 20mmHg sau khi nằm sấp 6 giờ. Mối tương quan giữa các yếu tố ban đầu và đáp ứng lâm sàng được phân tích bằng các thuật toán kiểm định trên SPSS. Kết quả: 17 bệnh nhân ARDS nặng được tiến hành 24 lần thông khí nằm sấp và đo EIT có P/F trung bình 93,23; SOFA trung bình 11,76. Tuổi trung bình là 51,88 ± 22,34, nam giới chiếm 64,7% và có 35,3% bệnh nhân béo phì. 17 lần (70,8%) được phân loại là có đáp ứng với thông khí nằm sấp. Phân tích hồi quy logistic đơn biến cho thấy bệnh nhân có giảm thông khí vùng phổi sau (TVP) ban đầu có khả năng đáp ứng với nằm sấp cao gấp 11,67 lần (KTC 95%: 1,49 - 91,54; p = 0,019). Tương tự, tình trạng giảm thông khí vùng phổi phụ thuộc nhất (TVROI4) ban đầu cũng liên quan đáng kể đến đáp ứng (OR = 2,43; 95% CI: 0,997-5,91; p = 0,048). Trong khi đó, tỷ lệ A/P thấp có xu hướng dự báo đáp ứng tốt hơn (OR = 0,161; 95% CI: 0,023 - 1,128; p = 0,066), nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê, có thể do cỡ mẫu hạn chế. Phân tích tương quan cho thấy mô hình phân bố khí không đồng nhất mang tính tiên lượng này có liên quan đến các đặc điểm lâm sàng ban đầu, bao gồm BMI cao hơn (r = -0,453, p = 0,026) và điểm LIS cao hơn (r = 0,472, p = 0,02). Kết luận: Các chỉ số EIT ban đầu phản ánh sự phân bố khí không đồng nhất, cụ thể là tình trạng giảm TVP và tỷ lệ A/P > 1 là những yếu tố tiên lượng mạnh mẽ đáp ứng với thông khí nằm sấp. Nguyễn Thị Kiều Trinh Đỗ Ngọc Sơn Trần Hữu Thông Bùi Thị Hương Giang Đinh Văn Trung Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18234 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT NỘI SOI UNG THƯ ĐẠI TRÀNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18235 Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm phẫu thuật nội soi cắt đại tràng do ung thư tại Bệnh viện K. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu 144 bệnh nhân ung thư đại tràng được điều trị phẫu thuật nội soi triệt căn tại bệnh viện K từ tháng 6 đến 12/2025. Kết quả: Tuổi trung bình là 60,28 ± 12,96, nam giới 59%, BMI 18,5 - < 25 là 84,1%, thang điểm ASA1 là 55,6%, xuất hiện bệnh < 3 tháng 85,4%. Các triệu chứng thường gặp đau bụng 57,8%, rối loạn tiêu hóa 35,4%, đại tiện phân máu 29,9%. Huyết sắc tố trước mổ < 100g/l 9%, CEA trước mổ < 5ng/ml 63,9%, u ở vị trí đại tràng sigma 45,1%, u xâm lấn > 1/2 chu vi 70,9%, u sùi 73,6%, cT3 và cT4 là 88,2%, cN là 74,3%. Thời gian mổ trung bình là 159,6 ± 33,1phút, 72,9% ca hoàn thành <180 phút, hậu môn nhân tạo bảo vệ 8,3%, ung thư biểu mô tuyến biệt hóa vừa 52,1%, giai đoạn I,II,III là 19,4%, 47,2%, 33,3%. Số hạch vét được trung bình 19,5 ± 9,0. Thời gian trung tiện 3,0 ± 0,9 ngày; thời gian nằm viện hậu phẫu 7,9 ± 2,0 ngày. Biến chứng sớm gồm chảy máu miệng nối 0,7%, xì miệng nối khu trú 0,7%, xì miệng nối gây viêm phúc mạc toàn bộ 0,7%, bán tắc/tắc ruột 0,7% và nhiễm trùng vết mổ 1,4%. Phân tích đơn biến cho thấy tuổi ≥ 65, thời gian mổ ≥180 phút và biến chứng sau mổ liên quan đến kéo dài thời gian nằm viện. Kết luận: Phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng tại Bệnh viện K an toàn, ít biến chứng và có thời gian hồi phục khả quan. Nguyễn Mạnh Hùng Vũ Thanh Phương Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18235 ĐÁNH GIÁ LỰA CHỌN VÀ HIỆU QUẢ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ TRONG TỔN THƯƠNG TIỀN UNG THƯ CỔ TỬ CUNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18236 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá phương pháp điều trị ở bệnh nhân CIN II, CIN III, CIS. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả hồi cứu được tiến hành trên 290 bệnh nhân CIN II, CIN III và CIS được điều trị bằng LEEP hoặc CKC tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 01/2022-12/2024. Kết quả: Tổng số 290 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu. Lựa chọn phương pháp điều trị có mối liên quan đến tuổi, số con, tình trạng nhiễm HPV và đặc biệt mức độ tổn thương mô bệnh học. Bệnh nhân ≥40 tuổi chủ yếu được chỉ định LEEP (85,1%; p < 0,001), nhóm chưa con phần lớn được điều trị bằng LEEP (87,3%; p = 0,009). Kết quả HPV DNA cho thấy nhóm nhiễm HPV16 có tỷ lệ CKC cao hơn (p = 0,019). Tuy nhiên, phân tích hồi quy đa biến khẳng định mô bệnh học trước can thiệp là yếu tố quyết định mạnh mẽ nhất: bệnh nhân CIN III/CIS có nguy cơ được chỉ định CKC cao hơn nhiều lần so với CIN II (OR = 0,01; 95% CI: 0,004-0,023; p < 0,001). CKC lấy được mẫu mô sâu và rộng hơn (1,59 cm so với 1,06 cm; p < 0,001), giúp đảm bảo diện cắt an toàn hơn ở tổn thương CIN III+. Kết luận: Lựa chọn phương pháp điều trị CIN phụ thuộc chủ yếu vào mức độ tổn thương trên sinh thiết. LEEP phù hợp cho CIN II và phụ nữ trẻ chưa con nhờ tính đơn giản, ít xâm lấn và bảo tồn chức năng sinh sản. CKC là lựa chọn an toàn hơn cho CIN III/CIS nhờ khả năng lấy mẫu rộng và sâu, giảm nguy cơ bỏ sót tổn thương và tái phát. Cá thể hóa chỉ định dựa trên mô bệnh học và đặc điểm sản khoa giúp tối ưu hiệu quả điều trị và bảo tồn chức năng sinh sản. Nguyễn Văn Thắng Đào Minh Hưng Nguyễn Hữu Hoàng Minh Kim Ngọc Thắng Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18236 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐAU TRONG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH PHẪU THUẬT TRƯỢT ĐỐT SỐNG THẮT LƯNG TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18237 Mục tiêu: Mô tả thực trạng quản lý đau trong chăm sóc người bệnh phẫu thuật trượt đốt sống thắt lưng tại Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108 năm 2025. Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang 200 người bệnh được chẩn đoán trượt đốt sống thắt lưng có chỉ định phẫu thuật tại Khoa Chấn thương chỉnh hình cột sống - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Số liệu nghiên cứu được thu thập thông qua phỏng vấn người bệnh sau phẫu thuật, sử dụng bộ công cụ Strategic Clinical Quality Indicator of Postoperative Pain (SCQIPP) kết hợp với thang điểm đánh giá mức độ đau VAS (Visual Analog Scale). Phân tích số liệu trên SPSS 25.0. Kết quả: Điểm đau của người bệnh có sự thay đổi rõ rệt giữa trước và sau phẫu thuật, tỷ lệ đau nhiều giảm từ 58% ở ngày nhập viện xuống 0,5% ở ngày ra viện, tỷ lệ đau nhẹ tăng từ 2% trước phẫu thuật lên 77,5% ở ngày ra viện. Tất cả người bệnh đều được sử dụng các phương pháp giảm đau, trong đó 46,0% người bệnh được sử dụng phương pháp giảm đau cạnh sống tự điều khiển. Phần lớn người bệnh đánh giá cao về việc quản lý đau sau phẫu thuật: 68,0% đồng ý và 30,5% rất đồng ý về việc điều dưỡng sắp xếp phòng bệnh thoải mái, yên tĩnh và tiện nghi. Kết luận: Kết quả cho thấy mô hình quản lý đau hiện tại là phù hợp và cần tiếp tục duy trì, hoàn thiện để nâng cao chất lượng chăm sóc. Bùi Thị Thanh Vân Phạm Trọng Thoan Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18237 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG THỜI GIAN NẰM VIỆN Ở BỆNH NHÂN ÁP XE GAN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18238 Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm phân tích đặc điểm điều trị và các yếu tố tiên lượng liên quan tới thời gian nằm viện của bệnh nhân áp xe gan tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 196 bệnh nhân áp xe gan từ 01/2018 đến 08/2023. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án gồm các kết quả lâm sàng, cận lâm sàng, phương pháp điều trị, thời gian nằm viện và phân tích bằng SPSS 25.0. Kết quả: Điều trị chủ yếu bằng kháng sinh Cephalosporin (67,3%), Metronidazole (55,6%), và chọc hút mủ (61,7%). Kích thước ổ áp xe trung bình 63,3 mm, đa số >50 mm (62,2%). Vi khuẩn Klebsiella pneumoniae chiếm ưu thế (dữ liệu vi sinh từ 69,2% mẫu mủ). Thời gian hết sốt trung bình 7,9 ± 6,6 ngày, thời gian nằm viện 13,8 ± 7,6 ngày, tỷ lệ khỏi bệnh 97,4%. Ổ áp xe lớn (>50 mm), chọc hút mủ và yếu tố nguy cơ kéo dài thời gian nằm viện (p<0.05). Kết luận: Điều trị kháng sinh kết hợp với chọc hút mủ đạt hiệu quả cao, nhưng ổ áp xe lớn hoặc có bệnh nền có thể làm tăng thời gian nằm viện. Nguyễn Xuân Hoàn Nguyễn Thị Huyền Trang Nguyễn Thị Loan Mai Thanh Bình Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18238 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN NẤM DA MẶT TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18239 Nấm da mặt (tinea faciei) là nhiễm nấm nông ở lớp biểu bì do các vi nấm thuộc nhóm nấm sợi dermatophyte gây ra, biểu hiện trên vùng da nhẵn của mặt. Tổn thương thường có dạng hình vòng, ranh giới rõ, kèm vảy da, mụn nước hoặc mụn mủ tập trung ở rìa tổn thương. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu được thực hiện trên 105 bệnh nhân được chẩn đoán nấm da mặt từ tháng 9/2024 đến tháng 8/2025 tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, nhằm mô tả đặc điểm dịch tễ và một số yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy nam giới chiếm 53,3%, nữ giới chiếm 46,7%; tuổi trung bình 25,5 ± 18,7 tuổi (dao động 0,5 - 81 tuổi). Bệnh khởi phát chủ yếu vào mùa hè (80,0%), tiếp theo là mùa đông (14,2%). Tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử bản thân mắc nấm da là 39,0% và tiền sử gia đình có người mắc nấm da là 12,4%. Có 9,5% sống trong môi trường nhà ở ẩm ướt và 42,0% có nuôi chó mèo. Trước khi đến khám, đa số bệnh nhân đã sử dụng thuốc bôi (82,9%), 12,3% dùng thuốc uống và 4,8% chưa điều trị. Ma Vân Anh Akhan Onglouang Trần Thị Huyền Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18239 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KIỂM SOÁT CẬN THỊ Ở TRẺ EM BẰNG ATROPIN 0,05% TẠI BỆNH VIỆN MẮT HÀ NỘI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18240 Đặt vấn đề: Cận thị ở trẻ em đang gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu, đặc biệt tại châu Á, làm gia tăng nguy cơ biến chứng nguy hiểm. Atropin 0,05% đã được chứng minh hiệu quả trong kiểm soát tiến triển cận thị trên thế giới, nhưng bằng chứng tại Việt Nam còn hạn chế. Mục tiêu: Đánh giá kết quả ban đầu kiểm soát tiến triển cận thị ở trẻ em bằng atropin 0,05% tại Bệnh viện Mắt Hà Nội. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu chùm ca bệnh trên 24 bệnh nhi (48 mắt) từ 6-15 tuổi, được chẩn đoán cận thị tiến triển nhanh hoặc có nguy cơ cao, điều trị bằng atropin 0,05% và theo dõi ít nhất 24 tháng tại Bệnh viện Mắt Hà Nội từ 10/2024 - 02/2025. Kết quả: Sau 24 tháng, độ cầu tương đương (SE) tăng từ -4,30 D lên -4,89 D; chiều dài trục nhãn cầu (AL) tăng từ 25,13 mm lên 25,25 mm. Tỷ lệ mắt có tốc độ tăng của chiều dài trục nhãn cầu ở mức chậm đạt tới 93,8% (p<0,001). Tỷ lệ kiểm soát thành công theo tiêu chí Viện Nghiên cứu Cận thị Thế giới là 58,3% sau 24 tháng. Kích thước đồng tử chỉ tăng khoảng 1mm cho thấy atropin không gây giãn đồng tử quá mức và biên độ điều tiết giảm làm tăng khả năng dung nạp với atropine của bệnh nhân. Kết luận: Atropin 0,05% là biện pháp hiệu quả trong kiểm soát tiến triển cận thị ở trẻ em, đặc biệt khi sử dụng trong thời gian dài 24 tháng. Nguyễn Mạnh Hiếu Hoàng Trần Thanh Nguyễn Khánh Huyền Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18240 ĐẶC ĐIỂM CƠ HỌC VÀ PHÂN BỐ KHÍ VÙNG PHỔI TRONG THÔNG KHÍ NHÂN TẠO TƯ THẾ NẰM SẤP Ở BỆNH NHÂN CÓ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP TIẾN TRIỂN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18242 [][]Mục tiêu: Nhận xét sự thay đổi về cơ học và phân bố khí vùng phổi thông qua kỹ thuật cắt lớp trở kháng lồng ngực (EIT- Electrical Impedance Tomography) trong thông khí nhân tạo tư thế nằm sấp ở người bệnh có hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát mô tả, chọn mẫu toàn bộ bệnh nhân ARDS được chỉ định thông khí nhân tạo nằm sấp được thực hiện kỹ thuật EIT tại Trung tâm Hồi sức tích cực - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 5 năm 2024 đến tháng 9 năm 2025. Các thông số cơ học phổi đo bằng máy thở và các thông số TVP, TVROI4, tỷ lệ A/P đo bằng EIT tại các thời điểm nghiên cứu. Phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS. Kết quả: Nghiên cứu gồm 17 người bệnh ARDS được thông khí nằm sấp và đo EIT 24 lần. Tuổi trung bình 51,88 ± 22,34; nam giới chiếm 64,7%; BMI trung bình 23,31 ± 3,92 kg/m². Bệnh mạn tính thường gặp nhất là tăng huyết áp (41,2%) và suy tim (23,5%). Điểm SOFA trung bình 11,76 ± 3,01; APACHE II 21,2 ± 5,99; LIS 2,85 ± 0,34. Phần lớn bệnh nhân khởi phát trên 3 ngày (70,6%); thời gian từ khởi phát đến khi thông khí nằm sấp là 2,7 ± 0,44 ngày. Trước nằm sấp, Cstat trung bình 24,06 ± 1,68 mL/cmH₂O; Pplat trung vị 25 cmH₂O; Pdriv trung vị 15,5 cmH₂O. Khí máu động mạch cho thấy suy hô hấp nặng với P/F 93,23 ± 22,58; PaCO₂ trung vị 49 mmHg; pH 7,31; HCO₃⁻ 26,94 mmol/L. EIT ghi nhận phân bố thông khí không đồng đều, ưu thế vùng trước (TVA 56%) so với vùng sau (TVP 44%), tỷ lệ A/P = 1,49. Phân bố giữa phổi trái và phải tương đối cân đối (48% so với 52%), tuy nhiên thông khí tại vùng phụ thuộc nhất thấp (TVROI4 trung bình 7,5%). Sau nằm sấp, Cstat tăng, Pplat và Pdriv giảm; PaO₂/FiO₂ cải thiện rõ. Phân bố thông khí trở nên đồng đều hơn với giảm tỷ lệ A/P và tăng thông khí vùng phụ thuộc. Kết luận: Thông khí nằm sấp giúp cải thiện cơ học phổi, tăng oxy hóa máu và làm đồng đều phân bố thông khí ở bệnh nhân ARDS nặng. Nguyễn Thị Kiều Trinh Đỗ Ngọc Sơn Trần Hữu Thông Bùi Thị Hương Giang Đinh Văn Trung Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18242 ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN NHỊP TIM TRÊN ĐIỆN TÂM ĐỒ 24 GIỜ Ở BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ VIỆN TIM TP.HCM https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18243 Đặt vấn đề: Rối loạn nhịp tim thường có tính chất thoáng qua nên dễ bị bỏ sót trên điện tâm đồ (ECG) thường quy, đòi hỏi phải sử dụng ECG ghi liên tục (Holter ECG) để phát hiện. Tuy nhiên, dữ liệu hệ thống về đặc điểm RLNT ở bệnh nhân ngoại trú ổn định tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ các loại RLNT và mô tả các đặc điểm lâm sàng, bệnh nền liên quan trên Holter ECG 24 giờ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên các bệnh nhân ngoại trú ≥ 18 tuổi tại Viện Tim TP.HCM. Loại trừ: thời gian ghi < 20 giờ, đang dùng thuốc chống loạn nhịp. Số liệu được xử lý bằng SPSS 27 để tính toán tần suất và xác định yếu tố nguy cơ qua hồi quy đa biến. Kết quả: Trong tổng số 376 bệnh nhân tham gia, mệt mỏi là triệu chứng phổ biến nhất (54%), cao hơn so với hồi hộp (25%). Tỷ lệ ghi nhận RLNT nặng là 28,5% và RLNT nguy hiểm là 22,1%. Phân tích đa biến cho thấy suy tim (OR = 9,92) và ngoại tâm thu là các yếu tố nguy cơ độc lập chính đối với RLNT nguy hiểm. Kết luận: Gánh nặng RLNT ở bệnh nhân ngoại trú là đáng kể, với suy tim và ngoại tâm thu thất là các yếu tố dự báo quan trọng. Holter ECG đóng vai trò thiết yếu trong chẩn đoán sớm và phân tầng nguy cơ. Trần Ngọc Mạnh Nguyễn Tấn Dũng Đỗ Đức Thịnh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18243 ĐẶC ĐIỂM NỘI SOI, MÔ BỆNH HỌC VÀ KẾT QUẢ CẮT POLYP KHÔNG CUỐNG Ở ĐẠI TRỰC TRÀNG ≥20 MM QUA NỘI SOI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18244 Đặt vấn đề: Cắt polyp không cuống có kích thước lớn ở đại trực tràng qua nội soi có nguy cơ chảy máu cao. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm nội soi, mô bệnh học và kết quả cắt polyp không cuống kích thước ≥20 mm ở đại trực tràng qua nội soi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 31 bệnh nhân có 35 polyp không cuống ≥20 mm ở đại tràng và trực tràng. Tất polyp không cuống ở đại trực tràng được cắt bằng kỹ thuật cắt niêm mạc nội soi (EMR) hoặc cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD) kết hợp với kẹp clip khép diện cắt. Lấy polyp làm giải phẫu bệnh. Kết quả: Bệnh nhân có 1 polyp chiếm tỷ lệ cao nhất là 87,1%. Vị trí polyp ở đại tràng nhiều hơn trực tràng. Polyp tân sinh chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 77,1%, kế đến là polyp không tân sinh chiếm 14,3%. Có 3 polyp ung thư chiếm tỷ lệ 8,6%. Có 26 polyp (74,3%) được cắt bằng kỹ thuật EMR và 9 polyp (25,7%) bằng kỹ thuật ESD. Tỷ lệ cắt polyp thành công là 97,1% (34/35), Có 1 polyp cắt bằng kỹ thuật ESD thất bại chiếm tỷ lệ 2,9%. 34 polyp được kẹp clip khép diện cắt sau cắt EMR hoặc ESD thành công 100%. 100% bệnh nhân không có biến chứng, tai biến trong vòng 30 ngày sau thủ thuật. Kết luân: Polyp không cuống ≥20 mm ở đại trực tràng có tỷ lệ ung thư cao. Điều trị polyp không cuống ≥20 mm ở đại trực tràng bằng kỹ thuật cắt EMR hoặc ESD kết hợp với kẹp clip khép diện cắt có hiệu quả cao phòng ngừa biến chứng chậm. Nguyễn Thanh Liêm Lê Thị Thúy Loan Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18244 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở BỆNH NHÂN VIÊM DA CƠ ĐỊA NGƯỜI LỚN TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18245 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân viêm da cơ địa người lớn; khảo sát mối liên quan giữa mức độ bệnh theo SCORAD và điểm chất lượng cuộc sống theo DLQI. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 126 bệnh nhân ≥18 tuổi được chẩn đoán viêm da cơ địa theo tiêu chuẩn Hanifin & Rajka cải tiến tại Bệnh viện Da liễu Cần Thơ và Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Mức độ bệnh được đánh giá bằng SCORAD; CLCS đo bằng DLQI. Xử lý số liệu bằng SPSS 26.0. Kết quả: Tuổi trung bình là 45,12 ± 21,56 năm, nam chiếm 55,6%. Hầu hết bệnh nhân có ngứa (97,6%) và thương tổn viêm da cơ địa (98,4%). Giai đoạn cấp chiếm 38,9%. Điểm SCORAD trung bình 33,78 ± 14,22, trong đó mức độ trung bình chiếm nhiều nhất (57,1%). DLQI ghi nhận đa số bệnh nhân bị ảnh hưởng nhiều đến CLCS (57,9%). Mức độ nặng SCORAD và CLCS theo DLQI (p <0,05) cho thấy mối liên quan thuận có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Bệnh nhân viêm da cơ địa trong nghiên cứu có triệu chứng lâm sàng điển hình, trong đó ngứa là nổi bật nhất. Phần lớn bệnh nhân có mức độ bệnh trung bình và CLCS bị ảnh hưởng đáng kể. Mối tương quan giữa SCORAD và DLQI khẳng định mức độ bệnh càng nặng thì CLCS càng suy giảm. Huỳnh Anh Đào Trương Ngọc Kim Châu Nguyễn Thế Anh Nguyễn Minh Phú Trần Thảo Sương Trần Gia Hưng Nguyễn Thị Thùy Trang Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18245 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM DA TIẾP XÚC BÀN TAY MẠN TÍNH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18246 Mở đầu: Viêm da tiếp xúc bàn tay mạn tính là một bệnh da phổ biến, thường biểu hiện kéo dài, dai dẳng, hiệu quả điều trị còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian mắc bệnh và điều kiện môi trường sống. Các phương pháp điều trị bao gồm loại bỏ yếu tố gây bệnh, thuốc thoa có hoặc không kết hợp với thuốc uống. Mục tiêu: mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị viêm da tiếp xúc bàn tay mạn tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ gồm 50 bệnh nhân viêm da tiếp xúc bàn tay mạn tính năm 2025. Kết quả: nhóm tuổi > 45 chiếm ưu thế (50%). Vị trí thương tổn lòng bàn tay chiếm 44%. Trong các yếu tố tiếp xúc gây bệnh, xà phòng chiếm tỷ lệ cao nhất với (36%), tiếp theo là kim loại (24%). Trong các phương pháp điều trị, dưỡng ẩm được sử dụng cho toàn bộ bệnh nhân (100%), loại bỏ yếu tố gây bệnh và mang găng tay khi làm việc lần lượt là (90%) và (80%). Corticoid tại chỗ được dùng cho (84%) bệnh nhân. Phần lớn có thời gian điều trị kéo dài trên 4 tuần (60%), trong khi chỉ (40%) điều trị dưới hoặc bằng 4 tuần. Sau điều trị, phần lớn bệnh nhân có đáp ứng hoàn toàn (56%), tiếp đến là đáp ứng một phần (34%), chỉ có (10%) không đáp ứng. Tỷ lệ bệnh nhân tái phát > 1 tháng chiếm (84%), và 1 tháng chiếm (16%). Kết luận: Lòng bàn tay là vị trí thương tổn thường gặp nhất. Xà phòng là yếu tố gây bệnh thường gặp nhất. Đa số các bệnh nhân được điều trị phối hợp thuốc thoa và thuốc uống. Dưỡng ẩm được sử dụng cho toàn bộ bệnh nhân. Sau 8 tuần điều trị, lâm sàng của bệnh nhân cải thiện rõ rệt nhất. Tác dụng phụ tại chỗ và toàn thân nhẹ, thoáng qua. Lê Thu Hiền Trần Gia Hưng Nguyễn Thị Thuỳ Tramg Phạm Thanh Thảo Lạc Thị Kim Ngân Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18246 KẾT QUẢ XẠ PHẪU GAMMA KNIFE KIỂM SOÁT U BAO SỢI THẦN KINH VIII TỒN LƯU SAU PHẪU THUẬT https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18247 Đặt vấn đề: U bao sợi thần kinh VIII (UBSTK VIII) là u lành tính tại góc cầu-tiểu não, thường được điều trị bằng phẫu thuật khi u lớn hoặc có triệu chứng chèn ép. Tuy nhiên, mô u có thể còn tồn lưu sau mổ, vì cần bảo tồn các cấu trúc chức năng như dây thần kinh mặt và ốc tai. Xạ phẫu Gamma Knife là phương pháp bổ trợ ít xâm lấn, giúp kiểm soát sự phát triển của u và hạn chế biến chứng thần kinh. Mặc dù có nhiều báo cáo quốc tế về hiệu quả của phương pháp này, dữ liệu trong nước về UBSTK VIII tồn lưu sau mổ vẫn còn hạn chế. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của xạ phẫu Gamma Knife trong kiểm soát u tồn lưu, góp phần tối ưu hóa chiến lược điều trị đa mô thức cho bệnh nhân. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả kiểm soát khối u và tính an toàn của xạ phẫu Gamma Knife ở bệnh nhân VIII (UBSTK VIII) tồn lưu sau phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 50 bệnh nhân UBSTK VIII tồn lưu sau phẫu thuật, được thu nhận trong giai đoạn 5/2022-12/2023 tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Tuổi trung vị nhóm nghiên cứu là 53 tuổi. Các trường hợp được lập kế hoạch xạ phẫu với liều theo khuyến nghị thực hành (liều ngoại biên thường 12 Gy, liều tối đa khoảng 24 Gy), sau đó theo dõi định kỳ bằng lâm sàng và MRI. Lịch theo dõi sau điều trị gồm các mốc 6, 12, 24 và 36 tháng; mỗi lần tái khám đều đánh giá diễn biến triệu chứng, biến chứng và thay đổi kích thước khối u. Kết quả: Trong nhóm nghiên cứu, thời gian trung bình từ phẫu thuật đến xạ phẫu là 9,6 ± 4,1 tháng; 82% bệnh nhân được xạ phẫu trong vòng 12 tháng đầu sau mổ. Trước điều trị, triệu chứng thường gặp gồm đau đầu (84%), giảm thính lực (70%), ù tai (30,61%), liệt mặt (28%) và mất thăng bằng (18%). Về hình ảnh học, u bên trái chiếm 72%, kích thước trung bình 27,9 ± 8,4 mm, thể tích trung bình 6,5 ± 6,4 cm³. Sau xạ phẫu, tỷ lệ kiểm soát u đạt 98% (u ổn định hoặc giảm kích thước), chỉ có 1 trường hợp (2%) tăng kích thước ở thời điểm 6 tháng. Về an toàn, ghi nhận 2 trường hợp đau dây V (4%), không ghi nhận trường hợp mới giảm thính lực hay liệt mặt sau điều trị; tỷ lệ sống còn tại thời điểm đánh giá đạt 100%. Kết luận: Xạ phẫu Gamma Knife là phương pháp điều trị bổ trợ hiệu quả và an toàn cho UBSTK VIII tồn lưu sau phẫu thuật, với tỷ lệ kiểm soát u cao, cải thiện lâm sàng tốt và tỷ lệ biến chứng nặng thấp. Kết quả này ủng hộ việc tích hợp Gamma Knife vào chiến lược điều trị đa mô thức nhằm tối ưu hóa kiểm soát bệnh và chất lượng sống cho người bệnh. Nguyễn Thanh Nhật Tâm Lê Minh Huân Phan Quang Sơn Huỳnh Tiền Đức Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18247 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN NHIỄM NẤM ASPERGILLUS PHỔI TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18248 Nhiễm nấm Aspergillus phổi tại các đơn vị hồi sức tích cực đang là một thách thức do chẩn đoán khó và tỉ lệ tử vong cao. Nghiên cứu mô tả bệnh trên 38 bệnh nhân nhiễm nấm Aspergillus phổi tại khoa Hồi sức tích cực bệnh viện Bạch Mai và bệnh viên Đại học Y Hà Nội giai đoạn 2017 - 2024. Yếu tố nguy cơ thường gặp nhất là dùng kháng sinh phổ rộng (84,4%), dùng corticoid (68,4%), COPD (42,1%). Các triệu chứng lâm sàng thường gặp là suy hô hấp, sốt dai dẳng. Hình ảnh cắt lớp vi tính phổi: halo sign, hình hang, liềm hơi. Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân nhiễm nấm Aspergillus phổi có biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu, thường xảy ra ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ như COPD, dùng corticoid, dùng kháng sinh phổ rộng kéo dài. Nuôi cấy thấy Aspergillus, tổn thương phổi trên chụp CT scanner là các đặc điểm cận lâm sàng chính. Phạm Thị Tuyết Dung Lê Thị Diễm Tuyết Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18248 SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN XƠ GAN XUẤT HUYẾT DO VỠ GIÃN TĨNH MẠCH DẠ DÀY VÀ THỰC QUẢN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18249 Mục tiêu: So sánh các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mức độ nặng của bệnh gan giữa hai nhóm bệnh nhân xơ gan nhập viện vì xuất huyết tiêu hóa (XHTH) do vỡ giãn tĩnh mạch dạ dày (TMDD) và do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản (TMTQ). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, hồi cứu có phân tích, so sánh trên 150 bệnh nhân xơ gan có XHTH do vỡ giãn tĩnh mạch, được chia thành hai nhóm: nhóm vỡ giãn TMDD (n=38) và nhóm vỡ giãn TMTQ (n=112), điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/2024 đến 12/2024. Phép kiểm T-test, Mann-Whitney và Chi bình phương được sử dụng để so sánh. Kết quả: So với nhóm vỡ giãn TMTQ, nhóm vỡ giãn TMDD có tỷ lệ nôn ra máu cao hơn (82% so với 46%; p < 0,001), tỷ lệ rối loạn huyết động lúc nhập viện cao hơn đáng kể (21% so với 3%; p < 0,001) và nồng độ hemoglobin (Hb) trung bình thấp hơn (74,7 g/L so với 85,2 g/L; p = 0,046). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi, giới tính, nguyên nhân xơ gan, các bệnh đồng mắc và điểm số Child-Pugh trung bình giữa hai nhóm. Kết luận: Nhóm vỡ giãn TMDD biểu hiện bệnh cảnh ban đầu nặng hơn với mất máu cấp ồ ạt hơn. Kết quả này có thể giúp định hướng chẩn đoán và nhận diện sớm bệnh nhân có nguy cơ diễn tiến nặng. Nguyễn Thị An Thuyên Võ Thị Mỹ Dung Trương Phi Hùng Phan Trung Nhân Hồ Tấn Phát Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18249 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN GIỮA HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA VỚI UNG THƯ DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18250 Mục tiêu: Phân tích một số yếu tố liên quan giữa hội chứng chuyển hoá (HCCH) với ung thư dạ dày (UTDD) tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 62 bệnh nhân UTDD tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên. Kết quả: Trong nghiên cứu, tuổi trung bình là 71,45 ± 11,21 năm; nam giới chiếm đa số (71,0%). Tỷ lệ bệnh nhân mắc HCCH là 48,4%.Vị trí tổn thương thường gặp nhất là hang vị (54,8%), ít gặp nhất là phình vị (3,2%). Hình ảnh đại thể loét (58,0%), sùi (6,5%). Về mô bệnh học, ung thư biểu mô tuyến (67,7%); độ ác tính thấp (77,4%). Nồng độ CEA ≥5 ng/ml (61,3%) và CA72-4 ≥7 U/ml (40,3%). Tỷ lệ HCCH cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân có khối u tại hang vị, có nhiều hơn một khối u, kích thước khối u ≥3 cm, nồng độ CA72-4 ≥7 U/ml và mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến so với các nhóm còn lại (p<0,05). Kết luận: HCCH có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với một số đặc điểm của UTDD, bao gồm vị trí khối u tại hang vị, số lượng khối u >1, kích thước khối u ≥3 cm, nồng độ CA72-4 ≥7 U/ml và mô bệnh học ung thư biểu mô tuyến. Những kết quả này gợi ý vai trò của rối loạn chuyển hoá trong sự tiến triển của UTDD. Lương Thị Hương Loan Nguyễn Thị Phương Lan Nguyễn Thị Thu Thuỷ Nguyễn Thị Hiền Phan Duy Nguyên Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18250 ĐẶC ĐIỂM HỘI CHỨNG GAN THẬN Ở BỆNH NHÂN XƠ GAN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18251 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hội chứng gan thận và phân tích một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân xơ gan tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu kết hợp hồi cứu trên 125 bệnh nhân xơ gan có hội chứng gan thận điều trị từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2025. Chẩn đoán và phân loại hội chứng gan thận dựa theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Cổ trướng Quốc tế. Các đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và kết cục được thu thập và phân tích. Kết quả: Bệnh nhân chủ yếu là nam giới (96%), tuổi trung bình 57,7 ± 11,4. Hội chứng gan thận - tổn thương thận cấp tính (HRS-AKI) chiếm 89,6%, trong đó giai đoạn 1A và 1B chiếm đa số. Nồng độ ure và creatinin huyết thanh tăng dần theo mức độ nặng của bệnh, trong khi eGFR giảm rõ rệt (p < 0,05). Thiếu máu nặng (22,3%) gặp ở HRS-AKI nhiều hơn so với HRS-CKD, (p < 0,05). Tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân HRS-AKI (36,6%) cao hơn so với HRS-CKD (7,7%), (p < 0,05). Kết luận: Hội chứng gan thận ở bệnh nhân xơ gan chủ yếu biểu hiện dưới dạng cấp tính, tiến triển theo các giai đoạn với sự gia tăng ure, creatinin và giảm mức lọc cầu thận, thường kèm thiếu máu và có tiên lượng tử vong cao hơn so với thể mạn. Đồng Đức Hoàng Trần Ngọc Thúy Ngô Khánh Linh Dương Ngọc Lan Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18251 SÂU RĂNG TRẺ EM VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18252 Khảo sát tình trạng sâu răng trẻ em vùng duyên hải Nam Trung Bộ (DHNTB) giữa hai thập niên, từ năm 1999 đến năm 2019 để cung cấp các thông tin hữu ích về tình trạng sâu răng sữa, sâu răng vĩnh viễn và tình trạng chăm sóc dự phòng, điều trị bảo tồn sâu răng cho trẻ em. Kết quả cho thấy: Tình trạng sâu răng sữa ở trẻ em 6 - 8 tuổi ở mức cao, từ 91,3% đến 99,1% với số răng sâu trung bình ở mỗi cá thể từ 5,13 răng đến 6,16 răng. Sâu răng sữa trẻ em lứa tuổi này không có xu hướng giảm xuống. hầu hết các răng sữa sâu không được điều trị bảo tồn để giữ răng đến tuổi thay răng sinh lý. Tình trạng sâu răng vĩnh viễn có xu hướng gia tăng theo tuổi cả về tỷ lệ sâu và chỉ số DMFT. Hầu hết trẻ em hai lứa tuổi nhỏ có răng vĩnh viễn sâu không được điều trị trong hai thập niên qua. Ở hai nhóm tuổi lớn hơn có tỷ lệ các răng vĩnh viễn sâu được điều trị bảo tồn cao hơn nhưng còn ở mức thấp. Sau hai thập niên, tình trạng sâu răng trẻ em hai nhóm tuổi lớn hơn giảm xuống đáng kể cả về tỷ lệ sâu và chỉ số DMFT. Số răng sâu ở các trẻ em hai nhóm tuổi này được điều trị bảo tồn cũng cao hơn nhưng còn ở mức thấp. Trịnh Đình Hải Trịnh Hải Anh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18252 CĂN NGUYÊN CỦA ĐỘNG KINH KHỞI PHÁT TRƯỚC 1 TUỔI VÀ MỐI LIÊN QUAN GIỮA CĂN NGUYÊN VỚI TUỔI KHỞI PHÁT https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18253 Mục tiêu: Tìm hiểu một số căn nguyên của bệnh động kinh khởi phát trước 1 tuổi và phân tích mối liên quan giữa căn nguyên với tuổi khởi phát. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 112 trẻ bị động kinh dưới 3 tuổi đang điều trị tại Trung tâm Thần kinh, Bệnh viện Nhi Trung ương. Trẻ được chia 3 nhóm theo độ tuổi khởi phát cơn động kinh là: nhóm sơ sinh (0 - 28 ngày), nhóm 29 ngày - 6 tháng và nhóm 7 tháng - 11 tháng. Các yếu tố được phân tích gồm tần suất cơn, bất thường trên cộng hưởng từ sọ não, đột biến gen, bất thường nhiễm sắc thể và rối loạn chuyển hóa. Phân tích thống kê sử dụng kiểm định Chi-square hoặc Fisher’s exact test, p < 0,05 có ý nghĩa thống kê. Kết quả: Tỷ lệ cơn hàng ngày cao nhất ở nhóm khởi phát sơ sinh (58,8%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,02). Tỷ lệ cộng hưởng từ sọ não bất thường khác biệt giữa các nhóm (p = 0,011), cao nhất ở nhóm khởi phát 7 tháng - 11 tháng (95,1%). Đột biến gen được phát hiện ở 48,1% trường hợp làm xét nghiệm; bất thường nhiễm sắc thể và rối loạn chuyển hóa ghi nhận với tỷ lệ đáng kể nhưng không khác biệt theo nhóm tuổi khởi phát (p > 0,05). Kết luận: Tuổi khởi phát động kinh trong năm đầu đời có liên quan đến mức độ nặng của cơn và tỷ lệ bất thường cấu trúc não. Đánh giá hình ảnh học và di truyền học sớm có vai trò quan trọng trong định hướng chẩn đoán và điều trị. Đỗ Thanh Hương Đào Thị Nguyệt Hoàng Thị Cúc Vũ Thị Duyên Lê Thị Thùy Dung Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18253 TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE QUANH RĂNG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18254 Trong mấy thập niên qua, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước thì các hoạt động chăm sóc sức khỏe để nâng cao sức khỏe cho cộng đồng cũng được quan tâm, bao gồm cả các hoạt động chăm sóc răng miệng cho cộng đồng. Trong lĩnh vực răng hàm mặt, Có nhiều chương trình tuyên truyền chăm sóc răng miệng, phòng bệnh cho cộng đồng được triển khai, các sản phẩm chăm sóc răng miệng như kem chải răng, bàn chải, các loại nước súc miệng … cũng phổ biến và dễ tiếp cận. Các thay đổi này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe quanh răng cộng đồng. Qua nghiên cứu diễn biến sức khỏe quanh răng cộng đồng người trưởng thành vùng duyên hải Nam Trung Bộ (DHNTB) qua các thập niên từ 1999 đến 2019, chúng tôi rút ra được kết luận là: • Năm 1999, tỷ lệ người trưởng thành có viêm lợi hoặc viêm quanh răng ở mức cao trên 97%. Số trung bình vùng lục phân có túi quanh răng gia tăng theo tuổi. Tỷ lệ người có 3 vùng lục phân lành mạnh trở nên ở mức thấp và không vượt quá 8,7%. Có một tỷ lệ đáng kể người trưởng thành không có thói quen đánh răng. • Năm 2019, tỷ lệ người có chảy máu lợi ở mức từ 35,5% đến 49,7%, tăng theo lứa tuổi. Tỷ lệ người có chảy máu lợi giảm dần theo tuổi. Tỷ lệ người không có túi lợi từ 88,2% đến 97 0% tùy theo nhóm tuổi. Tỷ lệ người có túi lợi giảm xuống theo tuổi. Tỷ lệ người có 3 vùng lục phân trở lên không có túi quanh răng từ 66,7% đến 100%, và tỷ lệ này giảm dần theo tuổi. • So sánh sức khỏe quanh răng cộng đồng người trưởng thành ở đây sau hai thập niên cho thấy có sự cải thiện đáng kể tỷ lệ người có mô quanh răng lành mạnh tăng lên. Số trung bình vùng lục phân có túi lợi giảm xuống. Trịnh Hải Anh Trịnh Đình Hải Đỗ Thị Thu Hương Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18254 NGHIÊN CỨU PHỐI HỢP PROPOFOL VÀ KETAMIN TRONG KHỞI MÊ ĐẶT MASK THANH QUẢN CHO PHẪU THUẬT BỎNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18255 Mục tiêu: Đánh giá kết quả khởi mê đặt mask thanh quản bằng phối hợp propofol-ketamin trong phẫu thuật cắt hoại tử, ghép da ở bệnh nhân bỏng người lớn. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp lâm sàng, không đối chứng trên 30 bệnh nhân ≥ 18 tuổi, ASA I-III, được phẫu thuật cắt hoại tử bỏng, ghép da dưới gây mê toàn thân tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác. Khởi mê bằng phối hợp propofol-ketamin, đặt mask thanh quản và duy trì mê bằng propofol truyền tĩnh mạch. Đánh giá thời gian mất ý thức, thời gian đủ điều kiện đặt mask, điều kiện đặt mask thanh quản, biến đổi nhịp tim, huyết áp động mạch trung bình và các biến cố trong quá trình khởi mê. Kết quả: Thời gian mất ý thức trung bình 58,60 ± 9,40 giây, thời gian đủ điều kiện đặt mask thanh quản 179,30 ± 17,80 giây. Liều propofol khởi mê trung bình là 108,63 ± 28,78 mg, liều ketamin trung bình 44,70 ± 8,10 mg, kết hợp fentanyl 100 µg cho tất cả các trường hợp. Điều kiện đặt mask thanh quản tốt và rất tốt ở 100% trường hợp, tất cả đều đặt thành công ngay lần đầu, trong đó có 3 trường hợp cần bổ sung propofol để đạt điều kiện đặt mask thuận lợi. Nhịp tim và huyết áp giảm nhẹ sau khởi mê, tăng nhẹ sau đặt mask nhưng vẫn trong giới hạn sinh lý. Không ghi nhận trường hợp tụt huyết áp, nhịp tim chậm hoặc phải sử dụng thuốc vận mạch. Kết luận: Phối hợp propofol-ketamin trong khởi mê đặt mask thanh quản cho phẫu thuật cắt hoại tử, ghép da ở bệnh nhân bỏng giúp khởi mê nhanh, điều kiện đặt mask thuận lợi và duy trì huyết động ổn định. Phương pháp này an toàn và có thể áp dụng trong các phẫu thuật bỏng thời gian ngắn. Nguyễn Trung Phong Nguyễn Văn Quỳnh Trần Phi Hùng Võ Văn Hiển Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18255 HIỆU QUẢ CỦA NEFOPAM TIÊM TĨNH MẠCH TRONG MỔ ĐỐI VỚI NHU CẦU FENTANYL VÀ KIỂM SOÁT ĐAU SAU PHẪU THUẬT BỎNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18256 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của nefopam tiêm tĩnh mạch trong mổ đối với nhu cầu fentanyl và mức độ đau sau phẫu thuật ở bệnh nhân bỏng, đồng thời khảo sát một số tác dụng không mong muốn. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, tiến cứu, phân nhóm ngẫu nhiên trên 160 bệnh nhân bỏng được phẫu thuật cắt hoại tử và ghép da. Nhóm nghiên cứu (n=80) được tiêm tĩnh mạch nefopam 20 mg trong 15 phút cuối cuộc mổ và sử dụng PCA fentanyl sau mổ; nhóm chứng (n=80) chỉ sử dụng PCA fentanyl. Đánh giá điểm đau VAS khi nghỉ và vận động tại các thời điểm từ 0 đến 24 giờ sau mổ, tổng lượng fentanyl tiêu thụ, số lần bolus và các tác dụng không mong muốn. Kết quả: Hai nhóm tương đồng về đặc điểm ban đầu. Nhóm nefopam có tổng lượng fentanyl tiêu thụ thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p<0,05) và số lần bolus giảm. Điểm VAS khi nghỉ và vận động không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm tại các thời điểm theo dõi. Các tác dụng không mong muốn không khác biệt đáng kể giữa hai nhóm. Kết luận: Nefopam tiêm tĩnh mạch trong mổ giúp giảm nhu cầu fentanyl sau mổ mà không làm thay đổi đáng kể mức độ đau. Nefopam có thể là một thành phần hữu ích trong giảm đau đa mô thức ở bệnh nhân bỏng. Võ Văn Hiển Trần Phi Hùng Lê Ngọc Anh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18256 SÂU CHÂN RĂNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN NGƯỜI CAO TUỔI ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN E https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18257 Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa tình trạng sâu chân răng và một số yếu tố trong thực hành vệ sinh răng miệng và phục hình răng trên người cao tuổi đến khám tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện E năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 125 bệnh nhân khám tại khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện E. Nghiên cứu đánh giá qua phiếu câu hỏi về thói quen ăn uống, vệ sinh răng miệng và khám trong miệng đánh giá sâu chân răng, tình trạng phục hình răng. Kết quả: Một số yếu tố liên quan đến tình trạng sâu chân răng như sau: Người có thu nhập thấp (<6.2 triệu đồng/tháng) có nguy cơ sâu chân răng cao gấp 4 lần so với nhóm thu nhập cao (OR = 0.24, p < 0.001). Nhóm chải răng ≤1 lần/ngày có nguy cơ sâu chân răng cao hơn nhóm chải 2 lần (OR = 0.18, p = 0.008). Người không sử dụng chỉ nha khoa có nguy cơ sâu chân răng cao gấp 4.3 lần (OR = 0.23, p = 0.02). Thói quen ăn đồ ngọt thường xuyên làm tăng nguy cơ sâu chân răng (OR = 0.36, p = 0.01). Phục hình tháo lắp có liên quan đến tỷ lệ sâu chân răng cao hơn (OR = 0.37, p = 0.008). Kết luận: Sâu chân răng có mối liên hệ chặt chẽ đến thói quen đánh răng và sử dụng chỉ nha khoa, ăn đồ ăn ngọt thường xuyên và có phục hình tháo lắp trong miệng. Nhóm đối tượng có thu nhập thấp dễ bị ảnh hưởng hơn nên cần được thúc đầy tuyên truyền và giáo dục răng miệng. Đỗ Thị Thu Hương Nguyễn Thị Phương Anh Trần Thị Ngọc Anh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18257 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TẠO HÌNH MI MẮT TRÊN QUA ĐƯỜNG DƯỚI CUNG MÀY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18258 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phẫu thuật tạo hình mi mắt trên qua đường dưới cung mày để điều trị tình trạng thừa da mi mắt trên. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu các trường hợp phẫu thuật tạo hình mi mắt trên qua đường dưới cung mày từ 08.2020 đến 08.2025. Hồ sơ bệnh án, hình ảnh trước và sau phẫu thuật, các biến chứng, kết quả thẩm mỹ và mức độ hài lòng của bệnh nhân được thu thập và phân tích. Kết quả: Có 85 bệnh nhân với độ tuổi trung bình 53,2± 8,7 tuổi (32 - 70 tuổi). Tất cả các bệnh nhân đều là nữ (100%). Tỷ lệ bệnh nhân “hài lòng” và “rất hài lòng” sau phẫu thuật đạt 95,3%. Kết quả thẩm mỹ “cải thiện nhiều” và “cải thiện rất nhiều” là 89,4%%. Không có biến chứng nghiêm trọng liên quan đến phẫu thuật. Kết luận: Phẫu thuật tạo hình mi mắt trên qua đường dưới cung mày là một phẫu thuật an toàn và hiệu quả. Nguyễn Văn Phùng Nguyễn Công Cữu Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18258 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ CĂN NGUYÊN GIẢM HAI HOẶC BA DÒNG TẾ BÀO MÁU NGOẠI VI TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC HUẾ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18259 Mục tiêu: Phân tích các nguyên nhân gây giảm hai hoặc ba dòng tế bào máu ngoại vi ở bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 221 bệnh nhân giảm hai hoặc ba dòng tế bào máu ngoại vi. Các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên được thu thập và phân tích. Kết quả: Giảm hai dòng tế bào máu chiếm tỷ lệ cao hơn so với giảm ba dòng (70,58% so với 29,42%), trong đó kiểu hình thiếu máu kết hợp giảm tiểu cầu là thường gặp nhất (33,93%). Các biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng nhìn chung không điển hình; tuy nhiên, tỷ lệ giảm bạch cầu hạt trung tính nặng (<0,5 G/L) chiếm 4,52%. Hai nhóm nguyên nhân thường gặp nhất là tác dụng phụ của hóa trị ung thư (24,89%) và bệnh lý xơ gan (khoảng 26%). Nhóm bệnh chưa xác định được nguyên nhân chiếm 38,46%. Kết luận: Giảm hai dòng tế bào máu ngoại vi là tình trạng thường gặp tại bệnh viện đa khoa, với căn nguyên chủ yếu liên quan đến bệnh lý gan mạn tính và hóa trị ung thư. Kết quả nghiên cứu góp phần phản ánh đặc điểm thực tế của bệnh nhân giảm hai hoặc ba dòng tế bào máu ngoại vi, qua đó hỗ trợ định hướng tiếp cận chẩn đoán và quản lý bệnh nhân trong thực hành lâm sàng. Nguyễn Quỳnh Châu Hà Nữ Thùy Dương Nguyễn Văn Quang Nguyễn Huy Hoàng Hồ Hải Bằng Nguyễn Minh Đức Nguyễn Khánh Huyền Hoàng Trọng Thanh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18259 TÌNH TRẠNG LỢI VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CHĂM SÓC SỨC KHOẺ RĂNG MIỆNG TRÊN NHÓM SINH VIÊN NGÀNH Y KHOA TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18260 Mục tiêu: Đánh giá tình trạng lợi và kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) chăm sóc sức khoẻ răng miệng (SKRM) ở sinh viên ngành Y khoá. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 240 sinh viên Y Khoa năm 5 trường Đại học Y Dược Thái Bình, thu thập dữ liệu liên quan kiến thức, thái độ về bệnh nha chu và thực hành chăm sóc SKRM, và tình trạng lợi. Kết quả: Tỷ lệ sinh viên có kiến thức tốt chiếm 33,8%, thực hành tốt chiếm 32,1%, trong khi thái độ tích cực chiếm 55,4%. Nhóm được học môn Răng Hàm Mặt (RHM) có tỷ lệ kiến thức tốt và trung bình cao hơn rõ rệt so với nhóm không được học (p <0,001), đồng thời có thái độ tích cực cao hơn (p <0,01). Thực hành chăm sóc SKRM chủ yếu ở mức trung bình và không có sự khác biệt giữ hai nhóm (p>0,01). Về tình trạng răng miệng, viêm lợi mức độ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (52,1%) và không có sự khác biệt giữa hai nhóm. Kết luận: Việc học môn RHM có liên quan đến cải thiện kiến thức và thái độ chăm sóc sức khỏe răng miệng của sinh viên Y khoa, tuy nhiên thực hành và tình trạng lợi còn hạn chế, cho thấy cần tăng cường giáo dục dự phòng và đào tạo kỹ năng thực hành trong chương trình đào tạo. Nguyễn Tri Quyết Trương Thị Mai Anh Phan Thị Bích Hạnh Lê Viết Lãm Lê Thùy Trang Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18260 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT MẤT VỮNG C1-C2 DO CHẤN THƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18261 Đặt vấn đề: Kỹ thuật bắt vít đa trục khối bên C1 và chân cung C2 của Harms là một chọn lựa thích hợp ở bệnh nhân mất vững C1-C2 do chấn thương vì hiếm gây tổn thương động mạch đốt sống và dễ nắn chỉnh, cố định C1- C2 hơn. Cần có các nghiên cứu đánh giá hiệu quả phẫu thuật của phương pháp này để ứng dụng trên thực hành lâm sàng. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả phẫu thuật mất vững C1-C2 do chấn thương tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca, trên bệnh nhân chấn thương mất vững C1- C2 được phẫu thuật bằng phương pháp bắt vít chân cung C2 - khối bên C1 tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/2019 đến 03/2022. Kết quả: Có 56 bệnh nhân thoả tiêu chuẩn được đưa vào nghiên cứu, tuổi trung bình là 38,63 ± 16,32. Thời gian phẫu thuật trung bình là 140 ± 30,15 phút với lượng máu mất trung bình là 200 ± 125,12 ml. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả sau 3 tháng, 6 tháng cho thấy bệnh nhân đều phục hồi tốt về vận động, cảm giác và cơ vòng, phục hồi tủy theo thang điểm ASIA so với trước mổ. Nắn chỉnh di lệch C1-C2 tốt, tỉ lệ liền xương đạt 92,85%. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy phương pháp phẫu thuật có hiệu quả phục hồi tốt về vận động, cảm giác và cơ vòng sau 3 tháng, 6 tháng với tỉ lệ liền xương cao. Huỳnh Tiền Đức Phan Quang Sơn Lê Minh Huân Nguyễn Thanh Nhật Tâm Đàng Quốc Duận Nguyễn Thanh Lịch Nguyễn Ngọc Tú Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18261 KHẢO SÁT TỶ LỆ HỒI PHỤC THỊ LỰC TRONG BỆNH LÝ VIÊM MŨI XOANG DO NẤM XÂM LẤN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18262 Mở đầu: Viêm xoang do nấm xâm lấn cấp tính (Acute invasive fungal sinusitis - AIFS) là bệnh lý nguy hiểm đe doạ tính mạng, diễn tiến nhanh thường gặp ở bệnh nhân (BN) suy giảm miễn dịch với nhiều biến chứng nguy hiểm, trong đó biến chứng mắt (với biểu hiện như lồi mắt, giảm thị lực, liệt vận nhãn…) là một trong những biểu hiện lâm sàng nặng nề, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống sau điều trị. Trong khi các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào tỷ lệ sống còn, các dữ liệu về khả năng hồi phục thị lực sau tổn thương thần kinh thị do nấm xâm lấn vẫn còn hạn chế. Ngoài ra mối quan hệ giữa tác nhân gây bệnh, thời gian can thiệp, và mức độ tổn thương ban đầu với sự hồi phục thị lực cũng cần được tìm hiểu và làm rõ. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, tác nhân vi sinh và tổn thương lâm sàng giữa nhóm BN mất thị lực hoàn toàn và nhóm giảm thị lực một phần. Khảo sát tỷ lệ hồi phục thị lực sau điều trị của từng nhóm BN AIFS, tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ năm 2022 đến năm 2025. Đối tượng và phương pháp: hồi cứu trên 30 BN AIFS có biến chứng mắt tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ năm 2022 đến năm 2025, chia thành Nhóm 1 (mất thị lực hoàn toàn) và Nhóm 2 (giảm thị lực một phần). Kết quả lâm sàng được đánh giá tại mốc 01 tháng sau can thiệp. Kết quả: Nhóm 1 (n=12) có tỷ lệ nhiễm Mucorales cao (75%) so với Nhóm 2 (chủ yếu Aspergillus). Sau điều trị, 100% BN Nhóm 1 không hồi phục thị lực. Nhóm 2 có tỷ lệ cải thiện thị lực đạt 33,3%. Tỷ lệ hồi phục vận nhãn ở cả hai nhóm tương đương (lần lượt là 40% và 50%). Kết luận: Mất thị lực hoàn toàn do Mucorales là yếu tố tiên lượng xấu. Cần can thiệp tích cực cho nhóm giảm thị lực trong thời gian sớm nhất để cải thiện thị lực. Lý Xuân Quang Nguyễn Văn Thành Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18262 ĐẶC ĐIỂM TỦY ĐỒ CỦA HỘI CHỨNG SUY TỦY XƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG I https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18263 Đại cương: Suy tủy xương là hội chứng được đặc trưng bởi sự giảm trong sản xuất tế bào gốc tạo máu tại tủy xương, dẫn đến tình trạng giảm các tế bào máu ngoại vi. Các bất thường được phát hiện trên phết dịch tủy như tình trạng giảm tế bào, loạn sản và sự hiện diện của các tế bào bất thường, có thể cung cấp manh mối giá trị về các vấn đề tủy xương tiềm ẩn như suy tủy, loạn sinh tủy, bệnh lý ác tính... Do đó, nghiên cứu này với mục đích trả lời cho câu hỏi “Tỷ lệ mật độ dòng bạch cầu, dòng hồng cầu và dòng tiểu cầu trên tiêu bản tủy đồ trong hội chứng suy tủy ở trẻ em là bao nhiêu?”. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ mật độ tế bào trong tủy đồ của bệnh nhân chẩn đoán hội chứng suy tủy và sự tương quan của mật độ dòng hồng cầu tương ứng với chỉ số hồng cầu lưới. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, với 21 bệnh nhi được chẩn đoán liên quan đến hội chứng suy tủy tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 01/2025 - 4/2025. Kết quả nghiên cứu: Mật độ trung bình dòng bạch cầu thấp, với Neutrophil 24% (14-37.5), Lymphocyte cao 44% (27-69). Dòng hồng cầu chủ yếu dừng ở giai đoạn Orthochromic normoblast chiếm 85.7%, nhưng mật độ thấp. Megakaryocyte (tiểu cầu) chỉ hiện diện 57.1% và có mật độ biến thiên lớn (5- 300/mm²). Chưa thấy mối tương quan tuyến tính rõ rệt giữa RET% và mật độ Orthochromic normoblast (R² = 0.0023). Kết luận: Các bất thường về mật độ tế bào trong tủy đồ có hỗ trợ chẩn đoán hội chứng suy tủy xương. Chỉ số RET không thay thế được khảo sát tủy đồ nhưng có thể là chỉ dấu gián tiếp cho hoạt động sinh máu. Tuy nhiên, điều này cần được chứng minh ở các nghiên cứu có quy mô lớn hơn. Hồ Diệu Hiền Đào Thanh Hiền Nguyễn Thị Mai Anh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18263 TỶ LỆ TÁI PHÁT VÀ HÓA ÁC CỦA U NHÚ ĐẢO NGƯỢC MŨI XOANG: 63 CA LÂM SÀNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18264 Mở đầu: U nhú đảo ngược mũi xoang (Inverted Papilloma - IP) là một bệnh lý lành tính (0,5-4% tổng số các khối u vùng mũi xoang) nhưng có đặc điểm xâm lấn cục bộ phức tạp, tỷ lệ tái phát cao sau phẫu thuật (12-20%) và tiềm năng chuyển dạng ác tính thành ung thư biểu mô tế bào gai (SCC) (5-15%). Việc xác định chính xác vị trí chân bám và quản lý dài hạn là yếu tố then chốt để cải thiện tiên lượng. Mục tiêu: Tổng hợp các bằng chứng y văn cập nhật trong 10 năm gần đây về cơ chế tái phát và các yếu tố nguy cơ hoá ác của IP; (2) Khảo sát đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, hình ảnh học và kết quả điều trị trên 63 bệnh nhân (BN) tại Việt Nam. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang trên 63 BN được chẩn đoán và phẫu thuật điều trị IP từ năm 2019 đến 2025. Các biến số gồm: dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, đặc điểm hình ảnh (dày xương, vân não), vị trí giải phẫu và kết quả theo dõi. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 56,4; tỷ lệ nam/nữ là 1,4:1. Triệu chứng nghẹt mũi chiếm ưu thế (88,9%). Tỷ lệ tái phát chung là 17,46% (11/63 ca), thời gian tái phát dao động từ 6 tháng đến 30 năm. Các trường hợp tái phát sớm (<2 năm) thường do không xử lý triệt để chân bám trong lần phẫu thuật đầu. Tỷ lệ hoá ác là 1,58% (1/63 ca). Dấu hiệu dày xương khu trú trên CT-scan xuất hiện ở 61,9% BN và có giá trị định vị chân bám chính xác cao. Kết luận: U nhú đảo ngược mũi xoang tại Việt Nam có đặc điểm dịch tễ và lâm sàng tương đồng với y văn thế giới. Tỷ lệ tái phát 17,46% nhấn mạnh tầm quan trọng của phẫu thuật định hướng chân bám và vai trò của việc mài bỏ xương viêm. Hoá ác tuy hiếm gặp nhưng để lại hậu quả nặng nề, đòi hỏi quy trình theo dõi hậu phẫu nghiêm ngặt và kéo dài tối thiểu 5-10 năm. Lý Xuân Quang Nguyễn Văn Thành Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18264 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC VÀ THEO DÕI NỒNG ĐỘ TACROLIMUS TRÊN BỆNH NHÂN GHÉP THẬN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18265 Mục tiêu: Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và theo dõi nồng độ Tacrolimus (TAC) trên bệnh nhân ghép thận. Đối tượng: 72 Bệnh nhân ghép thận tại Bệnh viện Quân y 175. Phương pháp: Hồi cứu, mô tả hàng loạt ca từ tháng 07/2023 đến tháng 11/2025. Kết quả: Tất cả bệnh nhân được điều trị theo phác đồ T-MMF-P và trong đó có 93,1% BN được sử dụng thuốc dẫn nhập Basiliximab trước ghép. Sau ghép, chức năng thận cải thiện rõ với eGFR tăng từ 7,5 lên 67,95 ml/phút/1,73m²; tỷ lệ thải ghép cấp thấp (1,39%), nhiễm trùng tiểu (UTI) chiếm tỷ lệ cao (25%). Nồng độ Tacrolimus đáy (C₀) giảm dần từ 9,04 xuống 6,27 ng/mL sau 12 tháng, không ảnh hưởng đáng kể đến eGFR (p = 0,554). Độ biến thiên nồng độ trong cá thể (IPV) trung vị 25,24%, 64% bệnh nhân có CV% > 20%, liên quan nguy cơ thải ghép hoặc độc tính có thể do sự kém tuân thủ, một số bệnh lý hoặc tương tác thuốc làm tăng nồng độ thuốc. Giá trị MLVI/SD 1,74 ng/ml (0,41-8,29), cho thấy dao động nồng độ thuốc đáng kể. Kết luận: Tất cả BN sử dụng phác đồ T-MMF-P phù hợp với khuyến cáo KDIGO 2020 có eGFR trung vị 67,95 mL/phút/1,73m² cải thiện rõ và tỷ lệ thải ghép cấp thấp. Tuy nhiên, biến thiên nồng độ Tacrolimus còn cao (CV% trung vị 25,24%), với 64% bệnh nhân có CV% > 20%, làm tăng nguy cơ thải ghép và độc tính. Cần tăng cường theo dõi nồng độ thuốc và tối ưu hóa phác đồ theo C0 để cải thiện kết quả lâu dài sau ghép thận. Lê Trung Lâm Nguyễn Văn Thuận Phan Thanh Trường Lê Hoàng Anh Lương Thị Thu Hương Trần Thịnh Thanh Thảo Trần Thị Thu Thủy Nguyễn Đức Chính Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18265 ĐÁNH GIÁ SỰ BIẾN ĐỔI VÀ GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG TỬ VONG CỦA CHỈ SỐ LƯỢNG NƯỚC NGOÀI MẠCH PHỔI (EVLWI) Ở BỆNH NHÂN SỐC NHIỄM KHUẨN BỎNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP PiCCO https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18266 Mục tiêu: Đánh giá sự biến đổi của chỉ số lượng nước ngoài mạch phổi (EVLWI) và giá trị tiên lượng tử vong của chỉ số này ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn bỏng bằng phương pháp PiCCO. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên 22 bệnh nhân bỏng nặng có sốc nhiễm khuẩn điều trị tại Khoa Hồi sức cấp cứu, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác. EVLWI được đo tại các thời điểm T0 (chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn), T6, T12, T24 và T48 giờ. Phân tích mối tương quan giữa EVLWI với lactate, ScvO₂, PCT, CVP và liều noradrenaline; giá trị dự báo tử vong đánh giá bằng đường cong ROC. Kết quả: EVLWI tăng cao trong 48 giờ đầu. Ở nhóm sống sót, EVLWI giảm từ 11,49 xuống 8,25 ml/kg; trong khi nhóm tử vong tăng từ 14,42 lên 15,78 ml/kg. EVLWI tương quan thuận với lactate, PCT, CVP, liều noradrenaline và tương quan nghịch với ScvO₂ (p < 0,001). AUC dự báo tử vong của EVLWI là 0,875; ngưỡng tối ưu 13,05 ml/kg (độ nhạy 81,25%, độ đặc hiệu 83,33%). Kết luận: EVLWI tăng cao ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn bỏng và liên quan chặt chẽ với rối loạn huyết động. Theo dõi EVLWI bằng PiCCO có giá trị trong đánh giá phù phổi, theo dõi diễn biến và dự báo tử vong. Hoàng Văn Vụ Nguyễn Thái Ngọc Minh Lê Quang Thảo Võ Văn Hiển Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18266 NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA THOÁI HÓA KHỚP ĐÙI CHÈ NGUYÊN PHÁT VÀ CHỈ SỐ INSALL - SALVATI TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18267 Thoái hóa khớp đùi - chè là một trong những bệnh lý phổ biến, bệnh gây đau, giảm chức năng vận động và tàn tật. Chỉ số Insall - Salvati bất thường đã được chứng minh có liên quan đến thoái hóa khớp đùi chè. Vì vậy đề tài thực hiện với Mục tiêu: Đánh giá mức độ tương quan giữa vị trí xương bánh chè với mức độ thoái hóa khớp đùi chè ở bệnh nhân thoái hóa khớp đùi chè nguyên phát tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 50 khớp gối ở 32 bệnh nhân bị thoái hóa khớp gối nguyên phát theo tiêu chuẩn ACR 1991, được chụp X quang khớp gối thẳng nghiêng tư thế chịu lực và đánh giá thoái hóa theo thang điểm Kellgren và Lawrence. Dữ liệu được phân tích và xử lý bằng phần mềm SPSS 25.0. Kết quả: Chỉ số Insall-Sanvati trung bình ở nhóm nghiên cứu 1,27±0,22. Mức độ thoái hóa có tương quan thuận mức độ trung bình với nghề nghiệp (r=0.41, p<0,05), tương quan thuận mức độ cao với chỉ số Insall - Sanvati (r=0.75, P< 0,001). Nguyễn Văn Sang Nguyễn Văn Kiên Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18267 HIỆU QUẢ PHẪU THUẬT RĂNG KHÔN HÀM DƯỚI LỆCH NGẦM BẰNG PHƯƠNG PHÁP CÓ SỬ DỤNG PIEZOTOME TẠI BỆNH VIỆN VIỆT NAM - CUBA NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18268 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả phẫu thuật răng khôn hàm dưới lệch ngầm bằng phương pháp có sử dụng Piezotome. Đối tượng: Bệnh nhân được nhổ răng khôn hàm dưới lệch ngầm tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cuba từ tháng 03/2025-04/2025. Phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng. Kết quả: Về đặc điểm hình thái răng khoảng rộng xương, vị trí mọc, hình dạng và số lượng chân răng giữa hai nhóm là tương đồng, không có khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Sau phẫu thuật, nhóm sử dụng Piezotome có mức độ đau thấp hơn rõ rệt so với nhóm không sử dụng tại ngày thứ 1 và ngày thứ 3, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Mức độ sưng nề và hạn chế há miệng ở nhóm Piezotome có xu hướng thấp hơn ở các thời điểm theo dõi, tuy nhiên sự khác biệt chưa đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Đến ngày hậu phẫu thứ 7, các chỉ số lâm sàng ở cả hai nhóm đều cải thiện rõ rệt. Kết luận: Piezotome là phương tiện hỗ trợ hiệu quả trong việc giảm đau sớm sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch ngầm. Nguyễn Thị Ngọc Anh Phùng Thị Thu Hà Phan Thị Bích Hạnh Phạm Thị Huyền Võ Đức Minh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18268 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KÉO DÀI CẲNG CHÂN NÂNG CHIỀU CAO Ở NGƯỜI CÓ TẦM VÓC THẤP https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18269 Mục tiêu: nhằm đánh giá kết quả liền xương, khả năng phục hồi chức năng, thẩm mỹ và sự hài lòng của BN, sau phẫu thuật kéo dài cẳng chân bằng khung cố định ngoài (CĐN) kết hợp đinh nội tuỷ (ĐNT). Đối tượng: là 131 BN có tầm vóc thấp, được phẫu thuật kéo dài cẳng chân nâng chiều cao bằng khung CĐN kết hợp ĐNT, tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Bắc Hà, từ 01/2019 - 05/2024. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang, không nhóm chứng. Kết quả: Có 131 BN (61 nam, 70 nữ), tuổi từ 18 - 40 tuổi. Chiều cao trung bình trước mổ của nam là 161,61 ± 5,59 cm, nữ là 150,75 ± 5,03 cm, mức kéo dài trung bình 7,11 ± 1,17 cm. Thời gian theo dõi là 24,37 ± 10,99 tháng. Tất cả các xương chày đều thẳng trục, không có trường hợp nào mở góc, di lệch sang bên hoặc xoay ngoài, xoay trong. 131BN với 262 ổ kéo, tất cả các xương thẳng trục, có 259/262 (98.86%) xương to, khoẻ, vững như xương chày bình thường, 3/262 (1,14%) can yếu phải ghép xương bổ sung. 114/131 BN phục hồi chức năng bình thường như trước mổ. 17/131 BN đi lại sinh hoạt bình thường, nhưng còn một vài hạn chế nhỏ. Sẹo mổ nhỏ, tương đối thẩm mỹ. Các BN đều hài lòng với kết quả phẫu thuật và cải thiện sự tự tin trong cuộc sống. Kết luận: Kéo dài cẳng chân bằng khung CĐN kết hợp với ĐNT cho kết quả liền xương vững, phục hồi chức năng thẩm mỹ tốt, giúp cải thiện chiều cao và tâm lý cho những người có tầm vóc thấp. Lê Văn Đoàn Nguyễn Phan Ngọc Minh Nguyễn Phan Minh Khoa Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18269 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI HỌC ỐNG TỦY RĂNG HÀM SỮA THỨ NHẤT HÀM DƯỚI TRÊN PHIM CẮT LỚP CHÙM TIA HÌNH NÓN TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18270 Mục tiêu: Mô tả số lượng, hình thái của chân răng hàm sữa thứ nhất hàm dưới và đặc điểm hình thái học ống tủy nhóm răng hàm sữa thứ nhất hàm dưới trên phim cắt lớp chùm tia hình nón tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội. Đối tượng: Trẻ em dưới 10 tuổi được điều trị bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội được chụp CTCB để chẩn đoán các bệnh lý hàm mặt từ tháng 12/2024 đến tháng 05/2025. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả: Chiều dài trung bình của chân răng được xác định lần lượt là 9,67 ± 1,009 mm đối với chân gần, 7,32 ± 1,087 mm đối với chân xa và 7,73 ± 0,886 mm đối với chân xa trong. Chân gần có độ cong trung bình lớn nhất (23,09° ± 9,791°), chủ yếu ở mức cong vừa đến nhiều. Chân xa có độ cong trung bình 16,66° ± 7,197°, thường ở mức cong nhẹ đến vừa, trong khi chân xa trong có độ cong 21,51° ± 4,947°, với 4 trường hợp ghi nhận cong vừa đến nhiều. Ngoài ra, răng có 3 ống tủy chiếm tỷ lệ cao nhất là 46,67%, 4 ống tủy chiếm 28,33%, và 2 ống tủy chiếm 25%. Kiểu cấu hình ống tủy phổ biến nhất là M1-2D1-2 (26,66%), M1D1 (25%), M1D1-2 (20%), M1-2D1 (16,67%), M1DB1DL1 (6,67%) và M1D2 (5%), một trường hợp đặc biệt ở răng R74 và R84 có ống tủy dạng chữ C với hai chân răng hợp nhất, được xếp vào nhóm CsCII (M//D). Kết luận: Chân gần thường dài và có độ cong lớn nhất. Số lượng ống tủy phổ biến là 3-4 ống, với kiểu cấu hình M1-2D1-2 chiếm tỷ lệ cao nhất. Sự xuất hiện hiếm gặp của ống tủy dạng chữ C với hai chân răng hợp nhất nhấn mạnh tính phức tạp của giải phẫu ống tủy và ý nghĩa lâm sàng trong chẩn đoán, điều trị nội nha. Phạm Thị Huyền Đỗ Trọng Hiếu Nguyễn Cao Thắng Nguyễn Thị Ngọc Anh Phan Thị Bích Hạnh Nguyễn Lan Nhi Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18270 PHÂN TÍCH MỐI LIÊN QUAN CỦA CHỈ SỐ PaO2 VÀ TỶ LỆ P/F VỚI TIÊN LƯỢNG Ở BỆNH NHÂN SUY HÔ HẤP CẤP TIẾN TRIỂN TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18271 Mục tiêu: Phân tích mối liên quan của chỉ số áp lực riêng phần oxy máu động mạch (PaO2) và tỷ lệ P/F (PaO2/FiO2) với tiên lượng tử vong ở bệnh nhân suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), đồng thời so sánh giá trị dự báo của các chỉ số oxy hóa máu với một số thang điểm đánh giá mức độ nặng toàn thân. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 41 bệnh nhân được chẩn đoán ARDS theo tiêu chuẩn Berlin 2012, điều trị tại Trung tâm Cấp cứu A9 và Trung tâm Hồi sức tích cực - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2024 đến tháng 8/2025. Các thông tin lâm sàng, khí máu động mạch và các thang điểm đánh giá mức độ nặng (Berlin, SOFA, APACHE II) được thu thập tại thời điểm nhập viện. Khả năng dự báo tử vong của PaO₂, tỷ lệ P/F và các thang điểm được đánh giá bằng diện tích dưới đường cong ROC (AUC). Phân tích hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố tiên lượng độc lập đối với tử vong. Kết quả: Tỷ lệ tử vong chung của nhóm nghiên cứu là 73,2%. Tại thời điểm nhập viện, chỉ số PaO2 thấp có khả năng dự báo nguy cơ tử vong tốt hơn tỷ lệ P/F với diện tích dưới đường cong (AUC) lần lượt là 0,721 (p=0,008) và 0,606 (p=0,283). Trong các thang điểm mức độ nặng, APACHE II cho giá trị dự báo cao nhất với AUC 0,745 và là yếu tố tiên lượng độc lập với nguy cơ tử vong (OR 1,289; p=0,02). Ngoài ra, PaO₂ có tương quan thuận chặt chẽ với tỷ lệ P/F (Rs=0,835; p<0,001) và tương quan nghịch với phân loại Berlin. Kết luận: Các thang điểm phản ánh mức độ nặng toàn thân, đặc biệt là APACHE II, có giá trị dự báo tử vong tốt hơn các chỉ số oxy hóa máu đơn thuần ở bệnh nhân ARDS. Đào Xuân Cơ Nguyễn Hồng Sơn Nguyễn Hải Hoàng Vũ Tưởng Lân Lương Quốc Chính Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18271 KẾT QUẢ TRUNG HẠN CỦA KỸ THUẬT CERAB TRONG ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG HẸP TẮC ĐỘNG MẠCH CHỦ - CHẬU HAI BÊN TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18272 Mục tiêu: Đánh giá kết quả trung hạn của kỹ thuật tái tạo chỗ chia động mạch chủ bằng stent phủ (CERAB) trong điều trị hẹp tắc động mạch chủ - chậu hai bên tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 20 bệnh nhân được chẩn đoán hẹp tắc động mạch chủ - chậu hai bên và được điều trị bằng kỹ thuật CERAB tại Khoa Phẫu thuật Mạch máu, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 05/2022 đến tháng 01/2024. Các chỉ tiêu đánh giá gồm tỷ lệ thành công kỹ thuật, biến chứng chu phẫu, tỷ lệ lưu thông mạch và cải thiện lâm sàng trong thời gian theo dõi trung hạn. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 67,5 ± 9,2; nam chiếm 75%. Tỷ lệ thành công kỹ thuật đạt 95% mẫu nghiên cứu. Chỉ số ABI cải thiện từ 0,44 ± 0,11 trước can thiệp lên 0,65 ± 0,12 sau can thiệp (p<0,001). Có 1 trường hợp tắc mạch chu phẫu do huyết khối ngay sau can thiệp, đã xử trí kịp thời. Thời gian theo dõi trung bình là 19,4 ± 6,2 tháng. Tỷ lệ lưu thông nguyên phát tại thời điểm 24 tháng là 80%; tỷ lệ lưu thông thứ phát đạt 89%. Kết luận: Kỹ thuật CERAB là phương pháp điều trị ít xâm lấn, an toàn và hiệu quả đối với tổn thương hẹp tắc động mạch chủ - chậu hai bên. Kết quả trung hạn bước đầu cho thấy tỷ lệ thành công kỹ thuật cao, cải thiện huyết động và lâm sàng rõ rệt, với tỷ lệ lưu thông mạch khả quan. Lâm Văn Nút Lê Đức Tín Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18272 THỰC TRẠNG RỐI LOẠN NHẬN THỨC VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CAO TUỔI SAU ĐỘT QUỴ NÃO https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18273 Mục tiêu: Mô tả thực trạng rối loạn nhận thức (RLNT) và phân tích một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi sau đột quỵ não. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 188 người bệnh ≥60 tuổi sau đột quỵ. Chức năng nhận thức đánh giá bằng MMSE. Các yếu tố lâm sàng và chức năng được thu thập qua NIHSS, ADL, IADL, CFS, GDS, PSQI và bệnh kèm. Hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan độc lập với điểm MMSE. Kết quả: Tuổi trung bình 79 ± 10; nam 54,3%. Điểm NIHSS trung bình 15 ± 11; MMSE 15 ± 7,6. Tỷ lệ RLNT là 76,6%, trong đó mức trung bình và nặng chiếm tỷ lệ cao nhất (30,9% và 35,1%). Mức độ nặng đột quỵ và suy giảm chức năng sinh hoạt tăng theo mức độ RLNT (p < 0,001). Người bệnh RLNT nặng có tình trạng suy yếu, trầm cảm và rối loạn giấc ngủ cao hơn. Không ghi nhận khác biệt về loại đột quỵ và bệnh tim mạch kèm theo giữa các nhóm. Hồi quy đa biến cho thấy NIHSS (β = −0,32; p < 0,001) và GDS (β = −0,26; p = 0,044) liên quan nghịch, trong khi IADL liên quan thuận (β = 0,72; p = 0,011) với điểm MMSE. Kết luận: RLNT rất phổ biến ở người cao tuổi sau đột quỵ. Mức độ nặng đột quỵ, suy giảm hoạt động sinh hoạt phức tạp và triệu chứng trầm cảm là các yếu tố liên quan độc lập với chức năng nhận thức. Cần sàng lọc và can thiệp sớm RLNT ở nhóm người bệnh này. Vũ Thu Hương Hồ Hoàng Dung Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18273 KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM Ở SINH VIÊN TRƯỜNG Y DƯỢC, ĐẠI HỌC DUY TÂN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18274 Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ các yếu tố nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm và các yếu tố liên quan ở sinh viên Trường Y Dược, Đại học Duy Tân. Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, được tiến hành thông qua phỏng vấn 308 sinh viên Trường Y Dược, Đại học Duy Tân. Kết quả: Tỷ lệ sinh viên hút thuốc hiện tại là 6,5%, nam giới có xu hướng hút thuốc cao so với nữ giới. 82,8% sinh viên từng uống rượu bia và 68,8% có sử dụng trong 12 tháng qua. Chỉ 2,6% đạt khuyến nghị về dụng rau quả của WHO. Phần lớn sinh viên không đạt mức hoạt động thể chất tối thiểu theo khuyến nghị. Kết luận: Sinh viên vẫn tồn tại nhiều hành vi nguy cơ sức khỏe, đặc biệt ở nhóm sinh viên nam, đòi hỏi các can thiệp toàn diện trong môi trường đại học. Lê Nguyễn Quỳnh Trân Bùi Đức Hào Cù Vĩnh Hoa Trần Thị Nguyệt Minh Nguyễn Thị Phương Thảo Nguyễn Song Hiếu Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18274 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH HỌC BỆNH NHÂN CHẢY MÁU NÃO CẤP TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI GIAI ĐOẠN 2024-2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18275 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học ở bệnh nhân chảy máu não cấp (ICH) tại Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2024-2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 208 bệnh nhân chẩn đoán chảy máu não (ICH) tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2024 đến tháng 8/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 64,5±13,1; nam giới chiếm ưu thế với tỷ lệ nam/nữ là 1,9/1. Tỷ lệ tăng huyết áp khi nhập viện là 88,9%, trong đó 25,5% là tăng huyết áp cấp cứu. Điểm Glasgow trung bình khi nhập viện là 12±3 điểm và điểm NIHSS trung bình là 15±11, cho thấy đa số bệnh nhân có rối loạn ý thức và thiếu hụt thần kinh ở mức độ trung bình đến nặng. Về đặc điểm hình ảnh học, thể tích khối máu tụ trung bình là 39,63 ml. Chảy máu vùng sâu chiếm tỷ lệ cao nhất (58,7%), tiếp theo là chảy máu thùy não (24%) và chảy máu dưới lều (17,3%). Tỷ lệ chảy máu não thất (IVH) kèm theo là 48,56%. Nhóm bệnh nhân có chảy máu não thất có thể tích khối máu tụ lớn hơn rõ rệt so với nhóm không có chảy máu não thất. Kết luận: Chảy máu não cấp trong nghiên cứu chủ yếu gặp ở bệnh nhân lớn tuổi, nam giới và có tỷ lệ tăng huyết áp cao khi nhập viện. Đặc điểm hình ảnh học thường gặp là chảy máu vùng sâu với thể tích khối máu tụ tương đối lớn và tỷ lệ chảy máu não thất cao. Những đặc điểm này góp phần phản ánh mức độ nặng của bệnh và có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá và quản lý bệnh nhân chảy máu não cấp. Đào Xuân Cơ Nguyễn Hồng Sơn Nguyễn Thị Thư Vũ Tưởng Lân Lương Quốc Chính Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18275 GIÁ TRỊ KẾT HỢP PHÂN LOẠI PI‑RADS TRÊN CỘNG HƯỞNG TỪ ĐA THÔNG SỐ THEO PHIÊN BẢN 2.1 VÀ TỶ TRỌNG PSA TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18276 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả lâm sàng khi kết hợp cộng hưởng từ đa thông số (mpMRI) trên những bệnh nhân có sinh thiết tiền liệt tuyến tại Bệnh viện E. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 128 bệnh nhân nam nghi ngờ UTTTL, được chụp mpMRI tuyến tiền liệt và sinh thiết tuyến tiền liệt 12 mẫu dưới hướng dẫn siêu âm qua trực tràng. Hình ảnh MRI được phân tích theo phân loại phiên bản 2.1 (PI‑RADS v2.1), kết hợp với PSA tỷ trọng (PSAD). Kết quả MRI và PSAD được đối chiếu với mô bệnh học STTTL. Kết quả: Trong số 128 bệnh nhân, có 59 bệnh nhân (46,1%) được xác định UTTTL trên mô bệnh học. Giá trị PSAD trung bình ở nhóm ung thư cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không ung thư (p < 0,05). mpMRI có độ nhạy cao trong phát hiện UTTTL, đặc biệt ở nhóm PI‑RADS 4-5. Khi kết hợp PI‑RADS với PSAD (ngưỡng 0,15 ng/mL/cm³), độ đặc hiệu và độ chính xác chẩn đoán tăng lên rõ rệt, đồng thời làm giảm tỷ lệ sinh thiết âm tính không cần thiết, nhất là ở nhóm PI‑RADS 3. Kết luận: Cả điểm theo (PIRADS v2.1) và PSAD đều có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong việc phát hiện ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng một cách riêng lẻ. Khi kết hợp giữa điểm PIRADS v2.1 và PSAD đã cải thiện đáng kể độ chính xác trong việc chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt, nâng cao hiệu quả phân tầng nguy cơ và tối ưu hóa chỉ định sinh thiết tuyến tiền liệt trong thực hành lâm sàng. Nguyễn Văn Sang Đàm Thị Huế Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18276 GIÁ TRỊ CỦA CẮT LỚP VI TÍNH XƯƠNG THÁI DƯƠNG TRONG CHẨN ĐOÁN MỘT SỐ BIẾN CHỨNG CỦA CHOLESTEATOMA https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18277 Mục tiêu: Đánh giá giá trị của cắt lớp vi tính (CLVT) xương thái dương trong phát hiện biến chứng của cholesteatoma bẩm sinh và mắc phải. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 121 bệnh nhân (80 mắc phải, 41 bẩm sinh) điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương và Bệnh viện Nhi Trung Ương (11/2022-12/2024), so sánh các phát hiện trên CLVT với phẫu thuật. Kết quả: Độ chính xác của CLVT đạt 92,4% đối với hở màng não; 96,7% sa màng não; 89,1% tổn thương xoang Sigma; 95,9% tổn thương đoạn 2 ống thần kinh mặt; và 98,9% đối với tổn thương đoạn 3 ống thần kinh mặt, rò và mòn ống bán khuyên. Kết luận: CLVT xương thái dương có giá trị cao trong phát hiện các biến chứng cholesteatoma, đặc biệt là các tổn thương xương và cấu trúc giải phẫu quan trọng. Chử Thị Hồng Ninh Nguyễn Minh Tâm Đoàn Thị Hồng Hoa Đặng Tiến Trường Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18277 MỐI LIÊN QUAN GIỮA THỜI GIAN KHỞI PHÁT VÀ ĐIỀU TRỊ TÚI PHÌNH VỚI KẾT QUẢ THẦN KINH TỐT Ở BỆNH NHÂN CHẢY MÁU DƯỚI NHỆN DO VỠ PHÌNH MẠCH NÃO https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18279 Mục tiêu: Tìm hiểu mối liên quan giữa thời gian khởi phát và điều trị túi phình với kết quả thần kinh tốt ở bệnh nhân chảy máu dưới nhện do vỡ phình động mạch não. Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu trên 200 bệnh án của bệnh nhân chảy máu dưới nhện do vỡ phình động mạch não điều trị tại trung tâm Đột quỵ và khoa Phẫu thuật thần kinh từ tháng 8 năm 2023 đến hết tháng 8 năm 2024. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 59, nữ giới chiếm đa số 54,5%. Triệu chứng khởi phát thường gặp là đau đầu, chiếm 88,5%, vị trí túi phình thường gặp nhất nằm ở tuần hoàn não trước, chiếm 81,5%. Đa phần bệnh nhân bị tổn thương não ở mức độ I chiếm 59% tính theo phân độ WFNS. Có 79% bệnh nhân đạt chức năng thần kinh tốt sau 1 tháng ra viện. Phân tích hồi quy logistic đa biến ghi nhận các yếu tố liên quan đến kết quả chức năng thần kinh tốt gồm WFNS nhập viện độ I (OR = 4,9, KTC 95%: 1,1-22,4; p=0,039), túi phình ở tuần hoàn não trước (OR = 4,6, KTC 95%: 1,5-14,0; p=0,007). Các bệnh nhân được xử trí túi phình trong vòng 24 giờ kể từ khi khởi phát bệnh có khả năng đạt chức năng thần kinh tốt cao hơn tại thời điểm 1 tháng sau khi ra viện. Kết luận và khuyến nghị: Bệnh nhân chảy máu dưới nhện do vỡ phình động mạch não nên được can thiệp túi phình trước 24 giờ sau khi khởi phát bệnh sẽ có được chức năng thần kinh tốt hơn sau ra viện 1 tháng. Trần Hữu Thông Lương Quốc Chính Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18279 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG CÓ SUY HÔ HẤP Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18280 Mục tiêu: Nhận xét kết quả điều trị viêm phổi cộng đồng có suy hô hấp ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 165 trẻ từ 1 tháng đến 15 tuổi được chẩn đoán viêm phổi cộng đồng có suy hô hấp, điều trị nội trú tại Trung tâm Hô hấp - Bệnh viện Nhi Trung ương từ 01/6/2023 đến 31/5/2024. Các chỉ số đánh giá bao gồm thời gian thở oxy, thời gian nằm viện, đáp ứng kháng sinh và kết quả điều trị. Kết quả: Thời gian điều trị nội trú trung bình là 8,3 ± 0,3 ngày, thời gian thở oxy trung bình là 3,2 ± 1,1 ngày; 77,5% bệnh nhân điều trị dưới 10 ngày và 86% cần hỗ trợ oxy dưới 5 ngày. SpO₂ lúc nhập viện có liên quan có ý nghĩa thống kê với thời gian điều trị và thời gian thở oxy (p < 0,05). Tỷ lệ đáp ứng với kháng sinh ban đầu đạt 76,4%. Không ghi nhận trường hợp tử vong hay chuyển hồi sức tích cực. Kết luận: Trẻ viêm phổi cộng đồng có suy hô hấp có diễn tiến thuận lợi khi được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. SpO₂ lúc nhập viện có giá trị trong tiên lượng mức độ nặng và thời gian điều trị. Vũ Thị Thanh Huyền Lê Thị Hồng Hanh Lê Thị Thu Hiền Lê Thị Thùy Dung Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18280 KẾT QUẢ REALTIME-PCR ĐA MỒI XÁC ĐỊNH VI KHUẨN Ở NGƯỜI BỆNH VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG NHẬP VIỆN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18281 Mục tiêu: Đánh giá kết quả căn nguyên vi khuẩn bằng xét nghiệm Realtime-PCR đa mồi ở người bệnh viêm phổi mắc phải cộng đồng nhập viện tại Bệnh viện Quân y 103. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu trên 34 người bệnh được chẩn đoán VPMPCĐ điều trị tại Trung tâm Nội Hô hấp và khoa Hồi sức Nội, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 7/2024 đến 10/2025. Người bệnh được khám lâm sàng, xét nghiệm máu, chụp Xquang và xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn bán định lượng và Realtime-PCR đa mồi đờm. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 64,06 ± 16,94 tuổi, nam/nữ là 2,4/1. Sốt (82,35%), ho (91,17%), khó thở (70,58%), đông đặc phổi (100%), đông đặc ≥ 2 thuỳ phổi (52,94%), bạch cầu và CRP tăng cao. Tỷ lệ phát hiện 1 tác nhân vi khuẩn bằng xét nghiệm Realtime-PCR đa mồi là 52,94%. Tỷ lệ phát hiện S. pneumoniae nhiều nhất (52,94%), tiếp đến là H. influenzae (32,35%) và K. pneumoniae (23,53%). Kết quả nuôi cấy phù hợp Realtime-PCR đa mồi là 100%. Kết luận: Người bệnh VPMPCĐ nhập viện thường là nam giới, tuổi cao, nhiều bệnh đồng mắc, nhiều triệu chứng. Xét nghiệm Realtime-PCR đa mồi phát hiện được nhiều vi khuẩn hơn xét nghiệm cấy khuẩn. S. pneumoniae gặp nhiều nhất (52,94%). Kết quả nuôi cấy phù hợp với Realtime-PCR đa mồi. Nguyễn Thị Thanh Hoài Tạ Bá Thắng Phạm Thị Kim Nhung Vũ Minh Dương Đào Ngọc Bằng Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18281 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẮC RUỘT DO BÃ THỨC ĂN SAU CẮT ĐOẠN DẠ DÀY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18282 Nghiên cứu hồi cứu mô tả với 2 mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng của tắc ruột do bã thức ăn sau cắt dạ dày cũng như một số nguyên nhân khác. 2. Đánh giá kết quả phẫu thuật TRBTA. Kết quả nghiên cứu: 8 BN, Nam 50%, Nữ 50%, Tuổi TB: 68,9 ±3,18. Tiền sử (TS) Cắt DD bán phần75%. Lâm sàng: Đau bụng cơn 75%, Nôn 75%, bí trung đại tiện 75%, quai ruột nổi và rắn bò 75%; CLVT khẳng định khối BTA 62,5%. Phẫu thuật 100%: Bóp đẩy BTA xuống đại tràng 12,5%; Mở ruột lấy BTA 75 % (3 BN mở quai đi cách miệng nối dạ dày-ruột < 30cm, 1 ca đẩy khối bà thức ăn lên DD, mở DD lấy BTA). Kích thước (KT) khối BTA ≤ 5 cm 25%; KT khối BTA > 5 cm 75%; Vị trí khối BTA: hỗng tràng 50% (1 ca BTA ở hỗng tràng và ở DD); Hồi tràng 50%. Không có BN tử vong; 2 BN nhiễm trùng vết mổ (25%). Kết luận: 8 BN TRBTA, nam 4 BN (50%), nữ 4 BN (50%), Tuổi TB: 68,9 ±3,18; Tiền sử: Đã cắt DD bán phần 75%. 1) Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng: Đau bụng cơn 75%; Buồn nôn, nôn 75%; Bí trung đại tiện 75%; Quai ruột nổi và rắn bò 75%; Chụp CLVT xác định khối BTA 62,5%; 2) Kết quả phẫu thuật: Điều trị phẫu thuật 100; + Phương pháp mổ: Bóp đẩy BTA xuống đại tràng 12,5%; Đẩy BTA lên DD và mở dạ dày lấy BTA 12,5%; Mở ruột lấy BTA 75%.+Vị trí khối BTA: BTA ở quai đi cách miệng nối < 30 cm 50%, Khối BTA cách góc HMT < 1m 50%; 1 BN có 2 khối BTA (ở DD và ở hỗng tràng). + Kích thước (chiều dài nhất) khối BTA ≤ 5 cm 25%; kích thước > 5 cm 75%; +Loại bã thức ăn: BTA thực vật 100% (Phytobezoars). Thái Nguyên Hưng Trần Đại Mạnh Phan Văn Cương Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18282 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGƯỜI BỆNH NGỘ ĐỘC CẤP METHANOL BẰNG PHÁC ĐỒ PHỐI HỢP LỌC MÁU TÍCH CỰC VÀ ETHANOL ĐƯỜNG UỐNG TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18283 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị của phác đồ phối hợp lọc máu tích cực và ethanol đường uống ở người bệnh ngộ độc cấp methanol tại Bệnh viện Quân y 175. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu có can thiệp theo thực hành lâm sàng thường quy, đánh giá trước - sau điều trị, tiến hành trên 35 người bệnh được chẩn đoán ngộ độc cấp methanol điều trị bằng phác đồ phối hợp lọc máu tích cực và ethanol đường uống tại Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 12/2022 đến tháng 12/2024. Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu trên 35 người bệnh ngộ độc methanol, tuổi trung bình 48,6 ± 13,2, chủ yếu là nam giới (88,6%); nguồn phơi nhiễm chủ yếu là rượu không rõ nguồn gốc (82,9%). Thời gian từ uống đến nhập viện trung vị 18 giờ. Người bệnh nhập viện với biểu hiện lâm sàng đa dạng và tình trạng nhiễm toan chuyển hóa nặng. Lọc máu được thực hiện sớm (trung vị 4 giờ), 40,0% cần ≥ 2 lần lọc; 100% sử dụng ethanol. Thời gian hồi phục pH > 7,3 trung vị 18 giờ, thời gian nằm viện trung bình 7 ngày. Sau điều trị, mức độ nặng theo PSS cải thiện rõ rệt (p < 0,001). Tỷ lệ hồi phục hoàn toàn đạt 68,6%, di chứng 17,1% và tử vong 14,3%. Kết luận: Phác đồ phối hợp lọc máu tích cực và ethanol đường uống có hiệu quả trong cải thiện nhanh tình trạng lâm sàng và rối loạn chuyển hóa, góp phần nâng cao tỷ lệ hồi phục và giảm mức độ nặng ở người bệnh ngộ độc cấp methanol. Lê Minh Phong Bùi Đức Thành Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18283 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN VIÊM ÂM ĐẠO Ở PHỤ NỮ ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI DƯƠNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18284 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số căn nguyên viêm âm đạo ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Hải Dương. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 88 phụ nữ được chẩn đoán viêm âm đạo, đến khám tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Phụ sản Hải Dương từ tháng 11/2023 đến tháng 01/2024. Các đối tượng được khai thác đặc điểm lâm sàng, tiền sử sản phụ khoa và làm xét nghiệm dịch âm đạo bằng phương pháp soi tươi và nhuộm Gram. Kết quả: Viêm âm đạo thường gặp ở nhóm tuổi 30 - 40 (33%). Tiền sử sản phụ khoa thường gặp gồm viêm sinh dục 56,8%, nạo hút thai 19,3% và sảy thai 14,8%. Đa số bệnh nhân có triệu chứng cơ năng (89,8%), trong đó thường gặp nhất là ra khí hư 73,9%, ngứa rát âm hộ 56,8%. Các triệu chứng khác gồm đau khi giao hợp 35,4% và khí hư có mùi hôi 28,4%; 51,1% trường hợp có phối hợp nhiều triệu chứng. Trong số các trường hợp có khí hư, khí hư trắng hoặc xám chiếm tỷ lệ cao nhất (36,9%) tiếp theo là khí hư vàng như mủ 29,2%. Xét nghiệm dịch âm đạo cho thấy 87,5% trường hợp có bạch cầu. Căn nguyên viêm âm đạo thường gặp nhất là trực khuẩn gram âm (58%), tiếp theo là cầu khuẩn (28,5%) và nấm Candida (25%); Trichomonas vaginalis gặp với tỷ lệ thấp (2,3%). Kết luận: Viêm âm đạo chủ yếu gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, có liên quan tới tiền sử sản phụ khoa, với biểu hiện lâm sàng đa dạng. Các xét nghiệm cận lâm sàng, đặc biệt là soi tươi và nhuộm Gram dịch âm đạo, cho thấy tình trạng rối loạn hệ vi sinh âm đạo và có vai trò quan trọng trong xác định căn nguyên cũng như định hướng điều trị phù hợp. Đỗ Văn Hoãn Phạm Thị Luyến Trần Thị Bích Thảo Nguyễn Thị Ngọc Trần Thị Thúy Quỳnh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18284 THỰC TRẠNG TỤT HUYẾT ÁP KHI THAY ĐỔI TƯ THẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI KHỚP VAI TƯ THẾ NGỒI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18285 Đặt vấn đề: Tụt huyết áp trong phẫu thuật nội soi khớp vai sử dụng tư thế ngồi (BCP - beach chair position) là một vấn đề thường gặp trong gây mê hồi sức, nhưng chưa được quan tâm đúng mức. Tăng huyết áp, đái tháo đường, tuổi cao… là một số yếu tố được cho là có liên quan đến tình trạng này. Tại Việt Nam và trên thế giới chưa có báo cáo nào về mối liên hệ giữa các yếu tố này và tình trạng tụt huyết áp ở phẫu thuật có sử dụng BCP. Mục tiêu:Đánh giá tình trạng tụt huyết áp và một số yếu tố liên quan khi thay đổi tư thế trong phẫu thuật nội soi khớp vai tư thế ngồi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát trên đối tượng bệnh nhân mổ nội soi khớp vai có sử dụng tư thế BCP. Kết quả: Tỉ lệ tụt huyết áp là 100%, với 77,14% tụt huyết áp nặng. Tụt huyết áp xảy ra từ phút đầu tiên sau khi thay đổi tư thế vào kéo dài từ 10-12 phút, 18/35 bệnh nhân có tụt huyết áp nặng. Lượng dịch truyền trung bình là 871 ± 143,19ml, lượng ephedrine cần để cấp cứu tụt huyết áp trung bình là 14,6 ± 4,41mg. Nguy cơ tụt huyết áp nặng có xu hướng tăng 3 lần nếu có tăng huyết áp, tăng 8 lần nếu có đái tháo đường và tăng 2,1 lần nếu trên 65 tuổi, tuy nhiên khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Tụt huyết áp sau khi thay đổi tư thế là một biến chứng thường xuyên xảy ra trong phẫu thuật khớp vai có sử dụng tư thế ngồi, nguy cơ này tăng lên nếu bệnh nhân trên 65 tuổi, có bệnh tiểu đường hoặc tăng huyết áp. Phạm Quang Minh Nguyễn Văn Sơn Đỗ Phương Linh Lưu Xuân Võ Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18285 MỐI LIÊN QUAN GIỮA BÉO TRUNG TÂM VÀ KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT CÙNG MỘT SỐ CHỈ SỐ CHUYỂN HÓA Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 CÓ BMI KHÔNG BÉO PHÌ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18286 Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ béo trung tâm và mối liên quan giữa béo trung tâm với tình trạng kiểm soát chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có BMI không béo phì. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 85 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có BMI từ 18,5 đến dưới 25,0 kg/m², điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025. Các chỉ số nhân trắc, sinh hóa và chuyển hóa được thu thập và phân tích. Kết quả: Tỷ lệ béo trung tâm là 62,4%. Nhóm có béo trung tâm có HbA1c trung bình cao hơn (8,0 ± 1,3 so với 7,2 ± 1,0%; p = 0,003), tỷ lệ kiểm soát đường huyết chưa đạt mục tiêu cao hơn (67,9% so với 40,6%; p = 0,014), triglycerid cao hơn và HDL-C thấp hơn có ý nghĩa thống kê. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy béo trung tâm là yếu tố độc lập liên quan đến kiểm soát đường huyết kém (OR hiệu chỉnh = 2,84; 95%CI: 1,12-7,18; p = 0,028), cùng với thời gian mắc bệnh ≥ 5 năm và điều trị insulin. Kết luận: Béo trung tâm phổ biến và là yếu tố độc lập liên quan đến kiểm soát chuyển hóa kém ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có BMI không béo phì. Nguyễn Hoàng Trung Tống Đức Minh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18286 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ SAU 3 THÁNG Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO DIỆN RỘNG KÈM PHÙ NÃO ÁC TÍNH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18287 Mục tiêu: Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết cục chức năng không thuận lợi sau 3 tháng ở bệnh nhân nhồi máu não diện rộng kèm phù não ác tính được phẫu thuật mở sọ giải áp bán cầu. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả kết hợp phân tích trên 52 bệnh nhân được phẫu thuật mở sọ giải áp bán cầu do nhồi máu não diện rộng kèm phù não ác tính tại Bệnh viện Quân y 103, từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2025. Kết cục chức năng được đánh giá bằng thang điểm Rankin sửa đổi (mRS) tại thời điểm 3 tháng sau phẫu thuật. Kết quả: Các yếu tố liên quan đến kết cục không thuận lợi gồm: tuổi ≥ 60 (p = 0,003), GCS trước mổ < 10 (p = 0,005), NIHSS nhập viện ≥ 20 (p = 0,012), lệch đường giữa > 10 mm (p = 0,006), chuyển dạng xuất huyết trước mổ (p = 0,020) và thời gian từ khởi phát đến phẫu thuật > 48 giờ (p = 0,041). Có tái thông trước mổ liên quan đến kết cục tốt hơn (p = 0,048). Kết luận: Tuổi cao, mức độ nặng lâm sàng và hình ảnh học, phẫu thuật muộn là các yếu tố liên quan đến kết cục không thuận lợi sau 3 tháng ở bệnh nhân nhồi máu não diện rộng kèm phù não ác tính. Trần Anh Đức Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18287 GIÁ TRỊ DỰ ĐOÁN CỦA CÁC CHỈ SỐ NHÂN TRẮC ĐỐI VỚI KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT KÉM Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 CÓ THỪA CÂN, BÉO PHÌ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18288 Mục tiêu: Đánh giá giá trị dự đoán của các chỉ số nhân trắc BMI, vòng eo, WHR, WHtR và BRI đối với kiểm soát đường huyết kém ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có thừa cân, béo phì. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 78 bệnh nhân đái tháo đường type 2 có BMI ≥ 23,0 kg/m², điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025. So sánh các chỉ số nhân trắc giữa nhóm HbA1c đạt và không đạt mục tiêu; đánh giá giá trị dự đoán bằng hồi quy logistic và đường cong ROC. Kết quả: Tỷ lệ kiểm soát đường huyết kém (HbA1c ≥ 7,0%) là 59,0%. Nhóm HbA1c ≥ 7,0% có tất cả 5 chỉ số nhân trắc cao hơn có ý nghĩa thống kê. Sau hiệu chỉnh đa biến, WHtR (OR = 2,19; 95%CI: 1,33-3,61) và BRI (OR = 2,27; 95%CI: 1,35-3,80) có liên quan mạnh nhất với kiểm soát đường huyết kém. Đường cong ROC cho thấy BRI và WHtR có AUC cao nhất lần lượt là 0,789 (95%CI: 0,686-0,893) và 0,782 (95%CI: 0,677-0,887), vượt trội so với BMI (AUC = 0,671). Kết luận: BRI và WHtR là hai chỉ số nhân trắc có giá trị dự đoán tốt nhất đối với kiểm soát đường huyết kém ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 thừa cân, béo phì. Tống Đức Minh Nguyễn Hoàng Trung Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18288 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG CỦA UNG THƯ HẠ HỌNG TẠI BỆNH VIỆN FV THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18289 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xác định một số yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân ung thư hạ họng tại Bệnh viện FV Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, theo dõi dọc, tiến hành trên 57 người bệnh ung thư hạ họng được khám, chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học và điều trị tại bệnh viện FV Thành phố Hồ Chí Minh từ 12/2019 đến 12/2021 theo dõi thời gian sống thêm đến 12/2025. Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu gồm 57 bệnh nhân, tuổi trung bình 59,2 ± 10,8; nam giới chiếm 89,5%. Tỷ lệ hút thuốc và uống rượu lần lượt là 77,2% và 68,4%. Triệu chứng thường gặp nhất là nuốt đau/nuốt vướng (80,7%); 66,7% có hạch cổ. U chủ yếu ở xoang lê (71,9%); đa số ở giai đoạn tiến triển (T3-T4: 73,7%; giai đoạn III-IV: 86,0%) và có di căn hạch (68,4%). Điều trị chủ yếu là phẫu thuật kết hợp xạ trị (49,1%) và hóa xạ trị đồng thời (33,3%). Tỷ lệ sống thêm lần lượt là 93,0% (6 tháng), 84,2% (12 tháng), 68,4% (24 tháng), 49,1% (36 tháng) và 14,0% (48 tháng); thời gian sống trung bình 27,84 ± 2,18 tháng. Phân tích Cox cho thấy di căn hạch, giai đoạn III-IV và điều trị không triệt căn là các yếu tố tiên lượng xấu (p < 0,05). Kết luận: Ung thư hạ họng chủ yếu được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, với tỷ lệ di căn hạch cao và tiên lượng sống còn hạn chế. Các yếu tố như giai đoạn u, tình trạng hạch và phương pháp điều trị có ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian sống thêm Lê Minh Phong Phạm Long Đạo Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18289 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM THÍNH LỰC Ở TRẺ NGHE KÉM TIẾP NHẬN DƯỚI 6 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18290 Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và thính lực ở trẻ nghe kém tiếp nhận dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca, thu thập số liệu 48 trẻ nghe kém tiếp nhận < 6 tuổi khám tại khoa Thính học, Bệnh viện Tai Mũi Họng Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 04/2022 đến tháng 10/2022. Kết quả: Nhóm tuổi từ 2 đến < 3 tuổi chiếm đa số (29,2%). Lý do đến khám thường gặp nhất là không đáp ứng với âm thanh (79,17%). 39,6% sinh nhẹ cân và 16,7% sinh non. 68,85% tai trái và 79,17% tai phải không xuất hiện sóng V khi đo điện thính giác thân não. Ngưỡng nghe trung bình qua đo điện thính giác tình trạng ổn định tai trái là 109,29dB, tai phải là 105,84dB. Tỷ lệ nghe kém mức độ sâu (>90 dB) chiếm 83,33% ở tai trái và 85,42% ở tai phải. Kết luận: Nghe kém tiếp nhận ở trẻ dưới 6 tuổi chủ yếu được phát hiện muộn và đa số ở mức độ sâu. Cần phát hiện chẩn đoán sớm và khai thác các yếu tố nguy cơ ở trẻ, từ đó đề xuất các phương pháp can thiệp sớm và giáo dục sức khỏe. Nguyễn Duy Quốc Khánh Nguyễn Đức Bảo Nguyễn Tòng Khanh Lê Trần Quang Minh Trần Thị Mai Phương Đoàn Lâm Minh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18290 ĐIỀU TRỊ BÀN TAY HỒNG MẤT MẠCH TRONG GÃY TRÊN LỒI CẦU XƯƠNG CÁNH TAY Ở TRẺ EM https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18291 Đặt vấn đề: Gãy trên lồi cầu xương cánh tay (GTLCXCT) là loại gãy thường gặp ở trẻ em, chiếm khoảng 3% các gãy xương ở trẻ và khoảng 55 - 80% các gãy xương vùng khuỷu [2], [3], [5]. Do sự liên quan chặt chẽ của các cấu trúc giải phẫu về thần kinh, mạch máu với xương vùng khuỷu, loại gãy này thường đi kèm với tổn thương bó mạch thần kinh trong những trường hợp gãy di lệch nhiều. Tỉ lệ tổn thương mạch máu là khoảng 3 - 20%; việc đánh giá và điều trị không phù hợp có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như chèn ép khoang, hoại tử chi hoặc co rút Volkmann [1], [4], [7]. Mặc dù chỉ định thám sát mạch máu trong những trường hợp bàn tay tưới máu kém khá rõ ràng, vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh chỉ định này đối với những trường hợp bàn tay mất mạch nhưng vẫn còn tưới máu tốt (bàn tay hồng mất mạch)[6], [8]. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đưa ra lựa chọn điều trị phù hợp cho những trẻ có GTLCXCT kèm bàn tay hồng mất mạch. Mục tiêu: Đưa ra thời điểm phẫu thuật thám sát mạch máu hợp lí đối với các trường hợp bàn tay hồng mất mạch trong GTLCXCT trẻ em. Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi hồi cứu hồ sơ bệnh án các trường hợp trẻ dưới 16 tuổi tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình có chẩn đoán GTLCXCT kèm mất mạch quay từ 01/01/2016 đến 30/06/2021. Những trường hợp này được ghi nhận thông tin về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng hình ảnh, quá trình điều trị và kết quả tái khám. Phân tích giá trị của các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng trong gợi ý một tổn thương động mạch thật sự cần sửa chữa mạch máu, thời điểm nên phẫu thuật thám sát dựa vào kết quả điều trị và tái khám. Kết quả: Có 88 trường hợp GTLCXCT có mất mạch quay trong nghiên cứu này, 85 trường hợp tay còn tưới máu tốt (bàn tay hồng mất mạch) và 3 trường hợp tay tưới máu kém (bàn tay trắng, lạnh, mất mạch). Độ tuổi trung bình là 6,1± 2,6 tuổi, trẻ nam chiếm ưu thế (khoảng 57,95%), tay trái thường gặp hơn tay phải (56,8% so với 43,2%) và nguyên nhân chủ yếu là do té chống tay trong tư thế quá duỗi của khuỷu. Hầu hết tình trạng mất mạch quay xảy ra ở những trường hợp GTLCXCT di lệch nhiều, kiểu sau ngoài (độ IIIB) chiếm đa số với 86,4%. Các triệu chứng như gãy hở, bầm máu trước khuỷu, dấu nhíu da, bập bềnh khớp khuỷu hay tổn thương thần kinh kèm theo dù số liệu cho thấy không có sự liên quan với khả năng có tổn thương động mạch cánh tay (ĐMCT) thật sự nhưng cũng phần nào gợi ý cho một cơ chế chấn thương nặng và cần đánh giá kỹ lưỡng. Có khoảng 65,8% trường hợp đạt kết quả tốt sau kết hợp xương (KHX) đơn thuần không thám sát mạch máu. Tỉ lệ có tổn thương ĐMCT thật sự là 83,3% trong nhóm những bệnh nhân vẫn không có lại mạch quay sau 72 giờ hậu phẫu KHX và 100% trong nhóm những bệnh nhân mất mạch lại lần 2 sau phẫu thuật. Kết luận: Đối với các trường hợp bàn tay hồng mất mạch trong GTLCXCT trẻ em, KHX đơn thuần là phương pháp đơn giản, hiệu quả, tỉ lệ thành công cao mà không cần phải thám sát mạch máu ngay. Phẫu thuật thám sát mạch máu là cần thiết cho những trường hợp vẫn không có mạch quay dù tưới máu chi tốt sau khoảng 72 giờ theo dõi hậu phẫu KHX và cho tất cả những trường hợp mất mạch lại lần 2. Trần Anh Tuấn Phan Đức Minh Mẫn Trần Như Quỳnh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18291 MỐI LIÊN QUAN GIỮA TỔN THƯƠNG TRÊN PHIM CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH VÀ TÌNH TRẠNG LÂM SÀNG Ở BỆNH NHI CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18292 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm tổn thương trên phim chụp cắt lớp vi tính (CT scan) sọ não và mối liên quan giữa hình thái tổn thương CT scan với mức độ lâm sàng ở bệnh nhi chấn thương sọ não. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả, phân tích trên 72 bệnh nh i chấn thương sọ não điều trị tại Bệnh viện Nhi Thái Bình trong khoảng thời gian từ 01/01/2021 đến 31/12/2025. Thu thập đặc điểm dịch tễ, nguyên nhân chấn thương, điểm GCS khi nhập viện và các dạng tổn thương trên CT sọ não. So sánh phân bố tổn thương CT theo nhóm GCS; kiểm định thống kê với ngưỡng ý nghĩa p<0,05. Kết quả: Tuổi thường gặp nhất là 11-15 tuổi (55,6%), nam chiếm ưu thế (69,4%). Nguyên nhân chấn thương chủ yếu là tai nạn giao thông (82,9%), tiếp theo là tai nạn sinh hoạt (12,0%). Đa số bệnh nhi có chấn thương sọ não nhẹ (GCS 13-15 điểm, chiếm 77,8%). Trên hình ảnh CT scan, các tổn thương sọ não gặp gồm vỡ, lún xương sọ (36,1%), tụ máu ngoài màng cứng (16,7%), dập não, xuất huyết não (13,9%), và 22,2% không ghi nhận tổn thương nội sọ rõ. Kết luận: Tổn thương nội sọ trên CT scan lan tỏa hoặc phối hợp liên quan chặt chẽ với điểm GCS thấp, tổn thương khu trú chủ yếu gặp ở nhóm điểm GCS cao. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,0001). CT scan đóng vai trò quan trọng trong đánh giá mức độ nặng và định hướng xử trí ban đầu cho bệnh nhi chấn thương sọ não. Nguyễn Thế Điệp Bùi Vũ Trung Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18292 BẢN ĐỒ ĐIỆN THẾ NỘI MẠC VÙNG CƠ THẤT VỊ TRÍ KHỞI PHÁT RỐI LOẠN NHỊP THẤT VÔ CĂN TỪ ĐƯỜNG RA THẤT PHẢI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18293 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm điện thế lưỡng cực nội mạc của rối loạn nhịp thất vô căn khởi phát từ đường ra thất phải (ĐRTP), nhằm làm rõ đặc điểm cơ chất điện học và đóng góp dữ liệu bản đồ điện thế trong nhóm bệnh nhân không có bệnh tim cấu trúc. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên các bệnh nhân được chẩn đoán ngoại tâm thu thất hoặc nhịp nhanh thất vô căn khởi phát từ ĐRTP, đã được lập bản đồ điện học ba chiều và triệt đốt tại Bệnh viện E, từ tháng 05/2020 đến tháng 09/2024. Điện thế lưỡng cực nội mạc được thu thập từ bản đồ điện thế trong nhịp xoang, phân tích theo các vùng giải phẫu của ĐRTP và so sánh giữa vị trí đích triệt đốt với các vùng lân cận. Kết quả: Điện thế lưỡng cực trung bình tại ĐRTP là 3,41 ± 1,34 mV. Không ghi nhận vùng điện thế thấp gợi ý xơ sẹo. Điện thế tại vị trí đích triệt đốt tương đương với các vùng lân cận và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thành vách và thành tự do (p > 0,05). Kết luận: Bản đồ điện thế ở bệnh nhân rối loạn nhịp thất vô căn ĐRTP cho thấy cơ chất điện học bảo tồn, không có đặc điểm của sẹo hay vùng điện thế thấp. Kết quả này củng cố bản chất lành tính của bệnh và cung cấp dữ liệu tham chiếu cho chiến lược lập bản đồ và triệt đốt trong thực hành lâm sàng. Nguyễn Đại Nghĩa Vũ Văn Bạ Ngô Thành Hưng Hoàng Trung Kiên Đỗ Đức Thịnh Nguyễn Mạnh Hùng Lường Công Thức Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18293 ĐẶC ĐIỂM THÀNH XƯƠNG PHÍA NGOÀI XOANG HÀM TRÊN VÀ KÊNH ĐỘNG MẠCH XƯƠNG Ổ TRÊN SAU TRÊN PHIM CONE BEAM COMPUTED TOMOGRAPHY Ở NGƯỜI VIỆT https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18294 Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm hình thái và vị trí của kênh động mạch xương ổ trên sau (ĐMXOTS) trên phim Cone beam computed tomography (CBCT) ở người Việt trưởng thành, phân tích các thông số định lượng và mối liên quan với các yếu tố giải phẫu, nhằm cung cấp dữ liệu tham chiếu cho lập kế hoạch phẫu thuật xoang hàm. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 phim CBCT (400 xoang hàm) chụp tại Trung tâm CT Nguyễn Trãi. Ghi nhận tỉ lệ hiện diện, đường kính, vị trí và các khoảng cách từ kênh ĐMXOTS đến các mốc giải phẫu. Kết quả: Kênh ĐMXOTS hiện diện ở 57% xoang khảo sát. Đường kính trung bình hai bên đều 0,97 mm, với 99% kênh < 2 mm. Không có sự khác biệt có ý nghĩa về tỉ lệ hiện diện giữa hai giới và các nhóm tuổi. Về vị trí, 80,9% kênh nằm giữa màng xoang và thành ngoài xoang hàm. Khoảng cách trung bình từ kênh đến mào xương ổ là 17,49 ± 2,72 mm (phải) và 17,14 ± 4,11 mm (trái); đến sàn xoang là 8,61 ± 2,5 mm (phải) và 8,49 ± 3,3 mm (trái); đến thành trong xoang là 15,6 ± 2,88 mm (phải) và 15,48 ± 4,03 mm (trái). Lộ trình kênh tạo cung lõm xuống dưới, thấp nhất tại vùng răng cối lớn thứ nhất. Kết luận: Tỉ lệ hiện diện ĐMXOTS 57% thấp hơn một số nghiên cứu quốc tế nhưng vẫn nằm trong phạm vi biến thiên đã được báo cáo. Đường kính kênh nhỏ (<2 mm) nhưng có ý nghĩa lâm sàng vì có thể gây chảy máu khi bị tổn thương. Khoảng cách từ kênh đến mào xương ổ (~17 mm) và sàn xoang (~8,5 mm) phù hợp dữ liệu quốc tế, nhấn mạnh tầm quan trọng của khảo sát CBCT tiền phẫu để lựa chọn vị trí cửa sổ an toàn. Lê Thị Hương Phan Bích Đào Phạm Thị Phương Vy Trần Viết Huyền Nguyễn Thị Nhật Phương Đinh Vũ Hiếu Võ Thị Kim Nguyên Lê Đức Lánh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18294 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT NỘI SOI TÁI TẠO DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC BẰNG KỸ THUẬT TẤT CẢ BÊN TRONG TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 NĂM 2023 - 2024 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18295 Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối bằng kỹ thuật tất cả bên trong tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 335 bệnh nhân từ 01/2023-12/2024, theo dõi tối thiểu 12 tháng, đánh giá bằng thang điểm Lysholm và IKDC. Kết quả: Điểm Lysholm tăng từ 54,2 ± 8,6 trước mổ lên 92,3 ± 4,8 sau 12 tháng. IKDC loại A 63,9%, loại B 30,7%, loại C 5,4%, không có loại D. Kết luận: Kỹ thuật all-inside cho thấy hiệu quả và độ an toàn cao, với tỷ lệ biến chứng thấp và chưa ghi nhận trường hợp đứt lại mảnh ghép trong thời gian theo dõi. Mai Đức Thuận Nguyễn Quốc Dũng Nông Việt Dũng Đỗ Đức Trung Phạm Văn Hưng Lê Quang Vũ Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18295 THỰC TRẠNG KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC CHỦNG PSEUDOMONAS AERUGINOSA PHÂN LẬP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐIỆN BIÊN NĂM 2024 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18296 Pseudomonas aeruginosa là vi khuẩn gây bệnh nguy hiểm và có khả năng kháng lại nhiều loại kháng sinh. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang nhằm xác định đặc điểm phân bố và tình hình kháng kháng sinh của các chủng P. aeruginosa phân lập được tại bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2024. Kết quả: Tỷ lệ nhiễm P. aeruginosa là 2.2% (66/3041), trong đó các chủng vi khuẩn P. aeruginosa phần lớn được phân lập từ bệnh phẩm hô hấp (86.36%) và người bệnh ≥60 tuổi (60.61%). Các chủng P. aeruginosa đề kháng cao nhất với kháng sinh Piperacillin/Tazobactam (92.4%) và Imipenem (89.4%), trong khi các kháng sinh khác dao động từ 77.3%-86.4%. Kết luận: Tỷ lệ nhiễm P. aeruginosa tại bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên ở mức tương đối thấp. Tuy vậy, vi khuẩn này lại đề kháng ở các kháng sinh đang được sử dụng tại bệnh viện ở mức cao, do đó cần đặc biệt quan tâm đến công tác giám sát kháng kháng sinh và kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện. Lưu Thị Thúy Trần Thị Trang Mỹ Linh Chu Thanh Sơn Lê Hạ Long Hải Nguyễn Hoàng Việt Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18296 NHẬN XÉT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GÓC VÀ TRỤC CHI DƯỚI Ở BỆNH NHÂN THOÁI HÓA KHỚP GỐI CÓ CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI TOÀN PHẦN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18297 Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm về góc và trục chi dưới ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối có chỉ định phẫu thuật thay khớp gối toàn phần. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả được thực hiện trên 219 bệnh nhân thoái hóa khớp gối giai đoạn III-IV, có chỉ định phẫu thuật thay khớp gối toàn phần. Các bệnh nhân được chụp X-quang chi dưới tư thế đứng toàn trục để đánh giá trục cơ học và trục giải phẫu của chi dưới, bao gồm trục cơ học chi dưới, trục giải phẫu chi dưới, góc giữa trục cơ học và trục giải phẫu của xương đùi, góc trên ngoài đầu dưới xương đùi, góc dưới ngoài của mâm chày và độ dốc sau của mâm chày. Các số liệu được phân tích theo phương pháp thống kê mô tả. Kết quả: Biến dạng vẹo trong trục cơ học chi dưới chiếm tỷ lệ cao nhất (79%), trong khi trục thẳng chiếm 16,9% và vẹo ngoài chiếm 4,1%. Giá trị trung bình trục cơ học chi dưới là 178,86° ± 1,15°, trục giải phẫu chi dưới là 175,13° ± 1,53°. Góc giữa trục cơ học và trục giải phẫu của xương đùi trung bình 5,0° ± 0,7°. Giá trị trung bình góc trên ngoài đầu dưới xương đùi là 83,45° ± 1,29°, góc dưới ngoài của mâm chày là 94,1° ± 0,12°, và độ dốc sau của mâm chày là 5,2° ± 1,57°. Kết luận: Ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối có chỉ định phẫu thuật thay khớp gối toàn phần, trục chi dưới và các góc vùng gối có sự thay đổi rõ rệt, trong đó biến dạng vẹo trong trục cơ học chi dưới chiếm ưu thế. Việc đánh giá đầy đủ các đặc điểm này trên phim X-quang có ý nghĩa quan trọng trong lập kế hoạch phẫu thuật và định hướng chiến lược điều trị. Mai Đức Thuận Nguyễn Quốc Dũng Đỗ Đức Trung Lê Quang Vũ Phạm Văn Hưng Nông Việt Dũng Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18297 ỨNG DỤNG THANG ĐIỂM MELASQOL ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH NÁM MÁ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18298 Mục tiêu: Đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh nám má bằng thang điểm MELASQOL. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 214 người bệnh nám má tại Bệnh viện Da liễu TP. Hồ Chí Minh từ tháng 11/2024 đến 7/2025. Kết quả: Tuổi trung vị là 45 tuổi, 100% người tham gia nghiên cứu là nữ giới. Điểm MASI có trung vị 7,2 (4,8 - 11,7). Có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa điểm độ nặng MASI và nhóm tuổi, số lần sinh con, thời gian mắc nám má, thể lâm sàng và loại nám má. Điểm MELASQOL trung bình 41,3 ± 11,6. Mức độ ảnh hưởng CLCS nhẹ có tỷ lệ 45,8%, mức độ trung bình và mức độ nặng lần lượt là 39,3% và 15,0%. Sức khỏe tinh thần là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất. Có mối tương quan thuận, có ý nghĩa thống kê điểm MELASQOL và điểm MASI (r = 0,35, p <0,001). Kết luận: Nám má ảnh hưởng đáng kể đến CLCS của người bệnh, việc đánh giá CLCS người bệnh là cần thiết. MELASQOL là công cụ hữu ích, có độ tin cậy cao để đánh giá CLCS. Lý Thị Mỹ Nhung Nguyễn Thị Thủy Văn Thế Trung Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18298 CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN SAU ĐỘT QUỴ NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TIỀN GIANG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18299 Mục tiêu: Đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) và xác định một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân sau đột quỵ não tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 96 bệnh nhân sau đột quỵ não điều trị tại Khoa Phục hồi chức năng và Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang từ tháng 01 đến tháng 8 năm 2025. CLCS được đánh giá bằng thang đo Stroke-Specific Quality of Life (SS-QOL). Điểm SS-QOL được phân tích dưới dạng biến liên tục và so sánh giữa các nhóm bằng các phép kiểm thống kê thích hợp. Kết quả: Điểm SS-QOL trung bình là 148,8 ± 3,5 điểm. Các lĩnh vực có điểm thấp gồm năng lượng, suy nghĩ, công việc/năng suất và vai trò gia đình. Nhóm bệnh nhân dưới 60 tuổi và nhóm có trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên có điểm SS-QOL cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các nhóm còn lại (p < 0,05). Các yếu tố giới tính, nơi cư trú, nghề nghiệp, thể trạng, bệnh lý kèm theo và dạng đột quỵ chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.. Kết luận: CLCS của bệnh nhân sau đột quỵ còn thấp. Tuổi và trình độ học vấn là các yếu tố liên quan đến CLCS, gợi ý cần tăng cường phục hồi chức năng và hỗ trợ tâm lý - xã hội cho người bệnh sau đột quỵ. Nguyễn Thành Nam Đinh Hồng Chiến Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18299 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI DO VIRUS RSV Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI TỈNH PHÚ THỌ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18300 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị viêm phổi do virus hợp bào hô hấp (RSV) ở trẻ sơ sinh điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Phú Thọ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu được thực hiện trên 142 trẻ sơ sinh ≤ 28 ngày tuổi được chẩn đoán viêm phổi do RSV và điều trị tại Khoa Sơ sinh, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Phú Thọ từ tháng 8/2022 đến tháng 7/2024. Kết quả: Tỷ lệ viêm phổi sơ sinh do RSV ở nam là 48,59%, ở nữ là 51,41%. Bệnh gặp quanh năm, tập trung nhiều nhất vào các tháng 10-12. Triệu chứng lâm sàng thường gặp là ho (99,3%), khò khè (97,2%) và ran phổi (96,5%). Hình ảnh X-quang chủ yếu là tổn thương kẽ (37,3%) và tổn thương phế nang (35,9%). Đa số bệnh nhân có số lượng bạch cầu trong giới hạn bình thường; tăng bạch cầu chỉ gặp ở 1,4% trường hợp, trong khi tăng lympho bào gặp nhiều hơn tăng bạch cầu trung tính. Tỷ lệ suy hô hấp là 40,85%; thở oxy là biện pháp hỗ trợ hô hấp chủ yếu (44,4%). Tỷ lệ sử dụng kháng sinh là 100%. Tỷ lệ điều trị khỏi đạt 98,6%, thời gian điều trị trung bình là 8,3 ngày. Kết luận: Viêm phổi do RSV ở trẻ sơ sinh chủ yếu biểu hiện bằng các triệu chứng hô hấp, trong khi các dấu hiệu viêm toàn thân ít gặp. Hình ảnh X-quang thường gặp là tổn thương kẽ và tổn thương phế nang. Tỷ lệ suy hô hấp khá cao và nhiều trường hợp cần hỗ trợ hô hấp; tuy nhiên, kết quả điều trị nhìn chung thuận lợi nếu được phát hiện sớm, theo dõi sát và điều trị hỗ trợ thích hợp. Nguyễn Đức Hậu Dương Thị Hà Nguyễn Thị Như Quỳnh Hoàng An Dương Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18300 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TẠO HÌNH MI MẮT TRÊN KẾT HỢP CẤY MỠ TỰ THÂN ĐỂ ĐIỀU TRỊ HÕM MI MẮT TRÊN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18301 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phẫu thuật tạo hình mi mắt trên kết hợp cấy mỡ tự thân làm đầy hõm mi mắt trên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả thực hiện trên hồ sơ bệnh án của 45 bệnh nhân nữ được phẫu thuật tạo hình mi mắt trên kết hợp cấy mỡ tự thân điều trị hõm mi mắt trên từ 11/2018 đến 11/2024. Phân tích dữ liệu thu thập từ hồ sơ bệnh án, hình ảnh lâm sàng trước phẫu thuật, sau phẫu thuật 6 tháng và 12 tháng. Kết qủa thẩm mỹ được đánh giá bằng thang điểm Global Aesthetic Improvement Scale (GAIS), mức độ hài lòng của bệnh nhân được đánh giá theo thang điểm Visual Analog Scale. Kết quả: Gồm 45 bệnh nhân nữ tuổi từ 21 đến 64 (trung bình 42,5± 7,8 tuổi). Tỷ lệ bệnh nhân “hài lòng” và “rất hài lòng” đạt 91,1% ở thời điểm 6 tháng và 93,3% ở thời điểm 12 tháng sau phẫu thuật. Kết quả thẩm mỹ ở mức “cải thiện rất nhiều” đạt 37,8 % sau 6 tháng và tăng lên 46,7% sau 12 tháng. Tỷ lệ bệnh nhân có mức độ cải thiện trở lên đạt 100% (45/45 bệnh nhân). So sánh mức độ hài lòng của bệnh nhân và kết quả thẩm mỹ giữa hai thời điểm 6 và 12 tháng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Không ghi nhận biến chứng trầm trọng cần can thiệp. Kết luận: Phẫu thuật tạo hình mi mắt trên kết hợp cấy mỡ tự thân làm đầy hõm mi mắt trên là một phương pháp an toàn và hiệu quả, mang lại kết quả thẩm mỹ tốt và mức độ hài lòng cao của bệnh nhân. Nguyễn Văn Phùng Nguyễn Công Cữu Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18301 KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP TẠI BỆNH VIỆN TRƯNG VƯƠNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18302 Đặt vấn đề: Sử dụng thuốc điều trị hội chứng mạch vành cấp (Acute coronary syndrome - ACS) phù hợp giúp cải thiện kết cục điều trị. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm sử dụng thuốc trong 24 giờ đầu nhập viện và khi xuất viện của bệnh nhân (BN) ACS. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên hồ sơ bệnh án (HSBA) của BN ACS tại khoa Tim mạch, Bệnh viện Trưng Vương (01/01/2024-31/12/2024). Dữ liệu thu thập gồm đặc điểm BN, đặc điểm điều trị và sử dụng thuốc. Việc sử dụng thuốc được đánh giá dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế (2020) và Hội Tim mạch Châu Âu (2023). Kết quả: Có 143 HSBA (tuổi trung vị 66,0; nam 65%) của BN ACS được thu thập. Bệnh kèm chủ yếu là tăng huyết áp (80,4%). Tỷ lệ BN được can thiệp mạch vành qua da là 42,7%. Các nhóm thuốc aspirin, P2Y12i, statin và ACEi/ARB được sử dụng phổ biến. Tại thời điểm nhập viện, tỷ lệ sử dụng hợp lý các nhóm thuốc chính là 61,7-90,9%. Khi xuất viện, tỷ lệ này là 75,2-96,5%. Thời gian nằm viện trung vị là 9 (8-12) ngày. Kết luận: Việc sử dụng thuốc trên BN ACS tương đối phù hợp với các hướng dẫn điều trị. Can thiệp dược lâm sàng có thể giúp cải thiện tính hợp lý trong sử dụng thuốc. Nguyễn Đình Hùng Trương Hữu Phương Nguyễn Thị Sáu Nguyễn Hương Thảo Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18302 TƯƠNG QUAN GIỮA IMPLANT TỨC THÌ VÀ XƯƠNG Ổ RĂNG NANH HÀM DƯỚI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18303 Mở đầu: Implant tức thì là phương pháp đặt implant ngay sau khi nhổ răng, mang lại nhiều lợi ích như giảm thời gian điều trị và giảm thiểu sự tiêu xương ổ răng sau nhổ. Tuy nhiên, implant tức thì có thể làm giảm độ ổn định ban đầu của implant do lượng xương hiện có bị giảm. Vùng răng nanh hàm dưới được xem là khu vực có nguy cơ xảy ra các biến chứng cao do sự hạn chế về thể tích xương và hình thái giải phẫu đặc trưng, vì ở vùng này, implant được đặt sâu hơn vào xương hàm. Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá chi tiết sự tương quan về khoảng cách giữa implant được đặt theo hướng phục hình và xương ổ răng nanh hàm dưới trên phim phim cắt lớp hình nón (CBCT), nhằm xác định mức độ xâm lấn của implant vào các vách xương lân cận (ngoài, trong, gần, xa). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang dựa trên 34 phim CBCT của các bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên có răng nanh hàm dưới còn nguyên vẹn. Implant ảo (Straumann, đường kính 3.3 mm) được đặt theo hướng phục hình. Các phép đo khoảng cách từ bề mặt implant đến bản xương mặt ngoài (N), mặt trong (T), vách xương gần (G), và vách xương xa (X) được thực hiện tại ba mức độ: mức 0 (tại bệ implant), mức 4 (cách bệ 4 mm), và mức 8 (cách bệ 8 mm). Giá trị âm được ghi nhận khi implant làm thủng bản xương (N, T) hoặc xâm lấn vào vách xương (G, X). Kết quả: Nghiên cứu không ghi nhận giá trị âm nào tại các mức đo lường N và T, cho thấy implant không thủng bản xương theo hướng ngoài-trong. Khoảng cách trung bình tại T0 là 3.13 mm và N0 là 4.13 mm. Tuy nhiên, implant có xu hướng xâm lấn vào vách xương gần và xa. Tại mức 8mm, mức xâm lấn vách xương gần trung bình là -0.03 mm. Kết luận: Đặt implant tức thì theo hướng phục hình tại xương ổ răng nanh hàm dưới không làm thủng bản xương ngoài/trong, nhưng có xu hướng xâm lấn vào các vách xương gần và xa. Cần phải lập kế hoạch điều trị ảo bằng CBCT trước phẫu thuật để đánh giá hình thái xương và điều chỉnh vị trí đặt implant nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ phẫu thuật. Nguyễn Ngọc Phúc Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18303 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA XUẤT HUYẾT TỬ CUNG BẤT THƯỜNG Ở PHỤ NỮ TỪ 18-52 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC THỦ ĐỨC https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18304 Đặt vấn đề: Xuất huyết tử cung bất thường (AUB) là nguyên nhân thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản đến khám phụ khoa, ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống.mMục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan của AUB ở phụ nữ từ 18-52 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 80 phụ nữ đến khám vì AUB trong năm 2025. Kết quả: Trong trên 80 phụ nữ AUB ghi nhận nhóm tuổi 35-52 chiếm 64%. Lâm sàng thường gặp nhất là hành kinh kéo dài trên 7 ngày (97,5%), với thời gian hành kinh trung bình là 10,31 ± 4,17 ngày. Độ dày nội mạc tử cung trên siêu âm là 9,01 ± 4,77 mm, 48,8% là 5-10 mm. Kết quả sinh thiết nội mạc tử cung ghi nhận tổn thương lành tính chiếm ưu thế, trong đó nội mạc tử cung lành tính (75%) và polyp lòng tử cung (12,5%) là thường gặp nhất; không ghi nhận trường hợp ung thư hay tăng sinh nội mạc tử cung không điển hình. Thiếu máu gặp ở 28,75% trường hợp nhưng không có mối liên quan rõ ràng với kết quả mô bệnh học nội mạc tử cung. Kết luận: Trong 80 trường hợp AUB, các tổn thương nội mạc tử cung chủ yếu là lành tính, thường gặp nhất là nội mạc tử cung lành tính và polyp, không ghi nhận ung thư hay tăng sinh không điển hình. Thiếu máu thường gặp nhưng không liên quan đến mô bệnh học, và độ dày nội mạc tử cung đơn thuần không có giá trị chẩn đoán đặc hiệu. Sinh thiết nội mạc tử cung vẫn là phương pháp then chốt trong chẩn đoán và định hướng xử trí. Lâm Đức Tâm Nguyễn Thị Kim Ngọc Huỳnh Ngọc Phước Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18304 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG TIẾP CẬN GIA ĐÌNH NGƯỜI HIẾN MÔ - TẠNG TIỀM NĂNG: KẾT QUẢ TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18305 Đặt vấn đề: Hiến mô - Tạng để ghép cho người bệnh suy tạng giai đoạn cuối là việc làm nhân đạo cuối đời của người bệnh khi chết não hay chết tuần hoàn. Làm thế nào để có thể tiếp nhận được một trường hợp hiến mô - tạng từ người hiến chết não hay chết tuần hoàn? Đây là câu hỏi cần có nhiều thành viên cùng tham gia trả lời. Mục tiêu: Mô tả thuận lợi và khó khăn trong tiếp cận gia đình người hiến mô-tạng tiềm năng tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu các trường hợp người hiến mô - tạng mà Đơn vị Điều phối tiếp nhận được trong năm 2025. Các biến số được phân tích bằng thống kê mô tả. Kết quả: Trong năm 2025, nhận được thông tin của 80 người bệnh tiềm năng hiến mô - tạng. Thông tin nhận được từ nhân viên y tế (NVYT) 75/80 (93,7%); từ gia đình 05/80 (6,3%). Tuổi trung bình 43,5 ± 14,9. Giới tính: 66/80 (82,5%) nam, nữ 14/80 (17,5%). Người đã có đơn đăng ký hiến tạng từ trước là 04/80 (05%). Kết quả: 50/80 (62,5%) gia đình không đồng ý hiến; 14/80 (17,5%) đồng ý hiến (trong đó 11,2% không đạt tiêu chuẩn y khoa và 6,3% hiến thành công); 20,0% thuộc nhóm chưa tiếp cận hoặc từ chối ngay từ đầu. Tổng số mô tạng tiếp nhận được bao gồm: 10 thận, 4 gan, 3 tim, 3 phổi, 2 da và 6 giác mạc. Ghép cho 31 bệnh nhân. Trong đó, phối hợp với Trung tâm Điều phối Quốc gia đã điều phối 2 phổi, 2 gan phân chia, 1 tim, 2 giác mạc đến các trung tâm ghép khác ở Hà Nội, miền Trung và TpHCM. Kết luận: Xây dựng quy trình thực hành phối hợp liên chuyên khoa trong phát hiện, quản lý người hiến tiềm năng, và điều phối mô - tạng hiến là việc làm cần thiết. Vàng Thị Ngọc Bích Nguyễn Tri Thức Phạm Thanh Việt Trương Thế Hiệp Nguyễn Việt Đăng Khoa Vương Vân Hường Nguyễn Thị Ngọc Yến Thân Thị Lệ Nguyễn Thị Kim Yến Lâm Văn Minh Trầm Minh Toàn Nguyễn Anh Tài Trần Thanh Linh Nguyễn Văn Nhiều Lê Minh Hiển Bùi Văn Tuấn Dư Thị Ngọc Thu Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18305 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG BỆNH VÕNG MẠC TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN 19-8 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18306 Mục tiêu:Mô tả một số đặc điểm lâm sàng bệnh lý võng mạc tăng huyết áp và yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát tiến cứu, mô tả cắt ngang 60 bệnh nhân cao huyết áp tại Bệnh viện 19-8 từ tháng 12/2023 đến tháng 12/2024. Bệnh võng mạc cao huyết áp được đánh giá qua khám lâm sàng và chụp ảnh màu đáy mắt. Ghi nhận thời gian mắc bệnh, mức độ cao huyết áp, các tổn thương tim mạch và một số yếu tố nguy cơ. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả: Bắt chéo động - tĩnh mạch 26,32%, hẹp tiểu động mạch toàn bộ 7,89%, hẹp tiểu động mạch khu trú 39,48%, xuất huyết 10,53%, xuất tiết 7,89%, nốt dạng bông 5,26, phù gai thị 2,63%. Kết luận: Kiểm soát tốt huyết áp góp phần ngăn ngừa tổn thương đáy mắt do tăng huyết áp. Lý Minh Đức Dương Hồng Niên Nguyễn Minh Phú Nguyễn Lương Ngọc Anh Đặng Thu Thủy Phạm Bích Thủy Lương Thị Hải Hà Nguyễn Minh Phú Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18306 NHẬN XÉT KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CỐ ĐỊNH LỐI SAU VÀ GIẢI ÉP LỐI TRƯỚC TRONG 2 LẦN MỔ ĐIỀU TRỊ LAO CỘT SỐNG NGỰC, THẮT LƯNG TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18307 Lao cột sống là bệnh lý nguy hiểm, nếu không được điều trị có thể gây tàn phế, thậm chí tử vong cho người bệnh. Hiện nay các nghiên cứu đều thống nhất phương pháp phẫu thuật cố định cột sống lối sau và giải ép thần kinh lối trước là phương pháp triệt để, đêm lại hiệu quả tối đa cho người bệnh. Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật cố định lối sau và giải ép lối trước trong 2 lần mổ điều trị lao cột sống ngực, thắt lưng tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ 1/10/2022 đến 1/10/2024. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả lâm sàng vừa hồi cứu vừa tiến cứu. Kết quả: người bệnh phục hồi tương đối tốt với đau cột sống giảm rõ rệt, điểm VAS trung bình tại thời điểm khám lại: 0,73 ± 0,9 điểm. Người bệnh đều phục hồi liệt ở các mức độ khác nhau, không còn người bệnh liệt A, B trong nhóm nghiên cứu, điểm vận động trung bình tại thời điểm khám lại: 92,0 ± 4,7 điểm ở nhóm lao cột sống ngực và đoạn bản lề ngực- thắt lưng; 97,6 ± 2,5 điểm ở nhóm lao cột sống thắt lưng. Góc gù trung bình tại thời điểm khám lại: 7,20 ±3,60 ở nhóm lao cột sống ngực và đoạn bản lề ngực- thắt lưng; -2,30 ± 2,70 ở nhóm lao cột sống thắt lưng Kết quả phẫu thuật theo Macnab: 75 người bệnh (78,1%) kết quả rất tốt; 16 người bệnh (16,7%) đạt kết quả tốt; 5 người bệnh (5,2%) kết quả trung bình. Không có người bệnh có kết quả kém. Kết luận: Phẫu thuật cố định lối sau và giải ép lối trước trong 2 lần mổ điều trị lao cột sống ngực, thắt lưng là phẫu thuật an toàn, triệt để, giúp người bệnh hồi phục tối đa để trở về cuộc sống lao động, sinh hoạt bình thường. Đinh Văn Lượng Đỗ Đăng Hoàn Nguyễn Khắc Tráng Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18307 ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH SỎI TIẾT NIỆU CAO CỦA NGƯỜI BỆNH ĐƯỢC CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y THÁI BÌNH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18308 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh sỏi tiết niệu cao của người bệnh được chụp cắt lớp vi tính điều trị tại bệnh viện Đại học Y Thái Bình. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang, được thực hiện trên 136 người bệnh. Kết quả: Về phân bố của sỏi: Tỷ lệ mắc sỏi thận đơn thuần là 37,5%, sỏi niệu quản đơn thuần là 30,9% và tỷ lệ có đồng thời sỏi thận và niệu quản chiếm 31,6%. Đặc điểm của sỏi thận: Đài thận nhóm S0 chiếm tỷ lệ ưu thế với 55,3% (n = 94); Trên từng đơn vị thận, tỷ lệ sỏi S0 là 65,6%; Sỏi bể thận S1 hay sỏi đài - bể thận S2 chỉ chiếm lần lượt là 3,2% và 11,7%. Về số lượng: Tỷ lệ đơn vị thận có ≥ 3 sỏi bên phải là 40,7%, bên trái với 42,2%; Tỷ lệ đơn vị thận có 2 sỏi bên phải và trái lần lượt là: 20,3% và 14,0%. Về kích thước: Nhóm sỏi < 20mm chiếm đa số với tỷ lệ 56,4%. Về tỷ trọng của sỏi: 59,4% sỏi thận có tỷ trọng < 950HU và 40,6% sỏi có tỷ trọng ≥ 950HU. Đặc điểm của sỏi niệu quản:Vị trí 1/3 trên chiếm tỷ lệ cao nhất với 58,3% ((n = 96). Về số lượng: một sỏi chiếm tỷ lệ cao nhất (90,6%). Về kích thước sỏi niệu quản: Lớn nhất có kích thước trung bình là 14,1 ± 7,4mm; Sỏi > 10mm chiếm tỷ lệ cao nhất (63,5%), từ 6 - 10mm chiếm 25,9%. Về tỷ trọng: 57,6% trường hợp đạt ≥ 1000HU. Nguyễn Thu Hương Nguyễn Ngọc Trung Vũ Quang Hưng Phan Minh Công Nguyễn Văn Phụng Lê Đức Minh Hiếu Nông Thuỳ Trinh Nguyễn Diễm My Lâm Tuệ Khanh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Việt Nam 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18308 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐẺ NON TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN NAM ĐỊNH NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18309 Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị đẻ non tại Bệnh viện phụ sản Nam Định năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu; đối tượng là tất cả các trường hợp sản phụ đẻ non từ tuần 22 đến hết 37 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Nam Định từ ngày 01/01/2025 đến 30/06/2025. Kết quả: Có 470 hồ sơ thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn; tỷ lệ tiêm trưởng thành phổi lần lượt là 8,9%. Chủ yếu những trường hợp đẻ non được mổ đẻ (55,1%) với chỉ định về phía mẹ (mẹ sốt, đái tháo đường thai kỳ, tiền sản giật, mổ cũ) chiếm 62,2%. Trọng lượng sơ sinh trung bình là 2629±560 gram. Tỷ lệ biến chứng suy hô hấp là 68,5% trong tổng số 124 trường hợp có biến chứng sơ sinh. Kết luận: Đẻ non chủ yếu ở nhóm tuổi trẻ (26-35 tuổi), tỷ lệ được điều trị dọa đẻ non và tiêm trưởng thành phổi tương đối thấp; phương pháp kết thúc thai kỳ chủ yếu là đẻ mổ với chỉ định về phía mẹ là chủ yếu. Biến chứng hay gặp nhất là suy hô hấp sơ sinh. Nguyễn Bích Hồng Lê Thị Hòa Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18309 MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CÁC XOANG CẠNH MŨI Ở NGƯỜI BỆNH CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH HÀM MẶT TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y THÁI BÌNH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18310 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh các xoang cạnh mũi ở người bệnh chụp cắt lớp vi tính hàm mặt tại bệnh viện Đại học Y Thái Bình. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang, được thực hiện trên 530 người bệnh. Kết quả: Tỷ lệ người bệnh có bất thường hình ảnh mũi xoang chiếm 68,99%, bất thường giải phẫu chiếm 46% (chủ yếu là dị hình vách ngăn: 42,6%). Tổn thương đa xoang chiếm ưu thế (46,6%) và phần lớn bị cả hai bên (63,1%). Xoang hàm là vị trí có tỷ lệ bệnh lý cao nhất (86,2%), trong khi xoang trán thấp nhất (13,1%). Dày niêm mạc là hình ảnh phổ biến nhất (tới 53,1% ở xoang hàm phải). Tỷ lệ tụ dịch chung là 19,2%, tập trung nhiều nhất tại xoang hàm trái. Phức hợp lỗ ngách thông thoáng chiếm 87,3%. Khối choán chỗ chiếm tỷ lệ thấp, gặp nhiều nhất ở xoang hàm trái (10,4%). Hoàng Văn Lương Nguyễn Ngọc Trung Khiếu Hữu Thanh Điêu Chính Phúc Nông Thị Thu Hương Nguyễn Thùy Dung Đỗ Thị Vân Linh Trần Thị Phương Thu Lê Hoàng Anh Lâm Tuệ Khanh Đỗ Ngọc Anh Ngô Anh Tuấn Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18310 NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA BIỂU HIỆN MiR-203 VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ CỦA BỆNH VẢY NẾN MẢNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18311 Đặt vấn đề: MiR-203 là microRNA đặc hiệu da, có vai trò trong sinh bệnh học bệnh vảy nến. Nghiên cứu này nhằm khảo sát mối liên quan giữa biểu hiện miR-203 trong máu với một số yếu tố lâm sàng ở bệnh nhân vảy nến mảng. Phương pháp: Nghiên cứu bệnh chứng thực hiện trên 37 bệnh nhân vảy nến mảng và 37 người khỏe mạnh. Mức biểu hiện miR-203 được định lượng bằng RT-PCR và phân tích liên quan với các yếu tố lâm sàng. Kết quả: Biểu hiện miR-203 có tương quan thuận mức độ trung bình với chỉ số PASI (r = 0,428; p = 0,014), không liên quan đến các yếu tố khác như tuổi, giới, BMI, hút thuốc, bệnh đồng mắc, tiền sử gia đình vảy nến, thời gian mắc bệnh hay tuổi khởi phát. Kết luận: MiR-203 trong máu tương quan thuận với mức độ nặng của vảy nến mảng. Có thể cân nhắc vai trò miR-203 như dấu ấn tiên lượng mức độ bệnh. Nguyễn Ngọc Trai Lê Thị Huyền Trân Châu Văn Trở Vũ Diễm My Huỳnh Thị Xuân Tâm Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18311 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI TOÀN PHẦN ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP SỬ DỤNG KHỚP GỐI ĐỘNG HỌC TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18312 Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X-quang và kết quả phẫu thuật TKGTP điều trị THKG sử dụng khớp gối động học tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ tháng 6/2024 - tháng 6/2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế mô tả cắt ngang, tiến cứu, không đối chứng trên 45 bệnh nhân THKG biến dạng vẹo trong được phẫu thuật TKGTP sử dụng khớp gối động học tại Bệnh viện Hữu Nghị Viêt Đức từ tháng 6/2024 - tháng 6/2025. Kết quả: Bệnh nhân THKG biến dạng vẹo trong độ tuổi trung bình là 60 - 69 và chủ yếu bệnh nhân nữ. Triệu chứng hay gặp nhất là đau khi đi lại chiếm 77,8% và biên độ gấp duỗi trung bình 105 ± 8.3, lâm sàng biến dạng vẹo trong kèm co rút gấp chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 55,8%. Hình ảnh X-quang thoái hóa khớp gối độ IV chiếm 84,4% và vẹo trong mức độ nhẹ (3° - <10°) chiếm tỷ lệ nhiều nhất 55,5%, mức độ nặng (≥20°) 6,7%. Sau mổ trục cơ học chi dưới cải thiện đáng kể 9,1 ± 2,9. Kết quả lâm sàng và chức năng khớp gối cải thiện đáng kể sau mổ KS là 84,3 ± 3,6 và KFS là 85,4 ± 5,3. Kết luận: Kết quả phẫu thuật TKGTP sử dụng khớp gối động học đạt được trục cơ học trung tính sau mổ. Chức năng khớp gối và mức độ đau, tầm vận động bệnh nhân cải thiện đang kể so với trước mổ. Nguyễn Mạnh Khánh Nguyễn Văn Học Cao Đình Bằng Đỗ Văn Hải Đặng Văn Long Nguyễn Trung Kiên Đỗ Văn Hà Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18312 CÁC YẾU TỐ DỊCH TỄ VÀ LÂM SÀNG LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ TÂM LÝ TRÊN BỆNH NHÂN VẢY NẾN TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TP.HCM https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18313 Mục tiêu: Xác định tỷ lệ tình trạng rối loạn lo âu và tìm được mối liên hệ giữa lo và các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng trên bệnh nhân vảy nến ở Việt Nam. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, lấy mẫu thuận tiện 215 bệnh nhân vảy nến tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ 04/2024 - 08/2024. Các bệnh nhân sẽ được thăm khám chẩn đoán vảy nến và đánh giá tình trạng lo âu bằng thang điểm HADS-A. Kết quả sẽ được ghi nhận và phân tích bằng phần mềm SPSS. Kết quả: Tỷ lệ lo âu trên bệnh nhân vảy nến là 34%; trong đó có 21,9% mức độ nhẹ; 11,6% mức độ trung bình và 0,5% mức độ nặng. Diện tích sang thương vảy nến với chỉ số BSA > 10% và rối loạn giấc ngủ là hai yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến rối loạn lo âu. Bên cạnh đó các bệnh nhân mắc vảy nến lâu năm, được điều trị bằng thuốc sinh học và được điều trị liên tục ghi nhận ít nguy cơ lo âu hơn. Kết luận: 34% bệnh nhân vảy nến có rối loạn lo âu; tình trạng trầm cảm, diện tích sang thương lớn và rối loạn giấc ngủ, điều trị thuốc sinh học, thời gian mắc vảy nến và được điều trị liên tục là các yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu trên bệnh nhân vảy nến. Nguyễn Ngọc Trai Hoàng Gia Huy Huỳnh Thị Xuân Tâm Châu Văn Trở Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18313 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ LASER CHÂM TRONG ĐIỀU TRỊ ĐAU THẮT LƯNG MẠN TÍNH DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG THẮT LƯNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18314 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả giảm đau và cải thiện chức năng của laser châm trong điều trị đau thắt lưng mạn tính do thoái hóa cột sống thắt lưng. Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp tiến cứu được thực hiện trên 33 người bệnh thoái hóa cột sống thắt lưng tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Trà Vinh từ tháng 9/2024 đến tháng 6/2025. Người bệnh được điều trị laser châm tại các huyệt Thận du, Đại trường du, Hoàn khiêu và Ủy trung với thông số: bước sóng 660 nm, công suất 20 mW, tần số 20 Hz, thời gian chiếu 10 phút/huyệt, 1 lần/ngày, 5 ngày/tuần trong 4 tuần. Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS và chức năng thắt lưng theo chỉ số ODI tại các thời điểm trước điều trị, sau 2 tuần và sau 4 tuần. Kết quả: Điểm VAS giảm từ 71,21 ± 6,16 trước điều trị xuống 44,88 ± 3,23 sau 2 tuần và 14,85 ± 3,19 sau 4 tuần (p<0,0001). Điểm ODI giảm từ 35,45 ± 3,06 xuống 22,48 ± 1,95 sau 2 tuần và 9,88 ± 3,48 sau 4 tuần (p<0,0001). Không ghi nhận tác dụng không mong muốn nào. Mức độ hài lòng của người bệnh đạt 9,48 ± 0,51 điểm. Kết luận: Laser châm là phương pháp an toàn và hiệu quả trong giảm đau và cải thiện chức năng cho người bệnh đau thắt lưng mạn tính do thoái hóa cột sống thắt lưng. Trần Vũ Bùi Phạm Minh Mẫn Trịnh Thị Diệu Thường Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18314 THỰC TRẠNG THIẾU VITAMIN D HUYẾT THANH VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI CÁC NGUYÊN NHÂN VÔ SINH Ở PHỤ NỮ THỰC HIỆN IVF TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18315 Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 127 phụ nữ thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm nhằm xác định tỷ lệ thiếu 25(OH)D huyết thanh và khảo sát mối liên quan với các yếu tố liên quan đến vô sinh. Kết quả cho thấy tổng tỷ lệ thiếu và không đủ vitamin D ở phụ nữ có chỉ định hỗ trợ sinh sản ở mức rất cao (89%), phản ánh đây là một vấn đề đáng lưu ý trong thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, phân tích mối liên quan giữa tình trạng vitamin D và các đặc điểm vô sinh chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Những phát hiện này gợi ý 25(OH)D là một chỉ số cần xem xét khi đánh giá chức năng sinh sản, đồng thời đặt nền tảng cho các nghiên cứu sâu hơn nhằm làm rõ vai trò của vitamin D trong sinh lý và kết quả điều trị hỗ trợ sinh sản. Hoàng Văn Lợi Đỗ Thùy Hương Hoàng Thị Huyền Trang Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18315 KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT NỘI SOI LÀM VỮNG MẶT NGOÀI KHỚP CỔ CHÂN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18316 Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu của phẫu thuật nội soi hoàn toàn làm vững mặt ngoài khớp cổ chân trong điều trị mất vững cổ chân mạn tính. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 16 bệnh nhân được chẩn đoán mất vững mặt ngoài khớp cổ chân mạn tính và được phẫu thuật nội soi hoàn toàn tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 07/2023 - 08/2024. Các chỉ số đánh giá bao gồm điểm đau VAS, AOFAS cổ chân - bàn chân, khả năng quay lại thể thao và các biến chứng sau mổ.Kết quả: Điểm VAS giảm từ 2,56 xuống 0,44 (p < 0,001). Điểm AOFAS tăng từ 47,81 lên 92,44 (p < 0,001). Có 25% bệnh nhân quay lại mức độ thể thao như trước chấn thương, 43,75% tham gia thể thao cường độ thấp hơn và 31,25% không tiếp tục chơi thể thao. Không ghi nhận biến chứng nặng sau phẫu thuật. Kết luận: Phẫu thuật nội soi hoàn toàn làm vững mặt ngoài khớp cổ chân cho kết quả bước đầu rất khả quan, an toàn, ít biến chứng và mang lại sự cải thiện rõ rệt về đau và chức năng. Mai Đức Thuận Nguyễn Quốc Dũng Đỗ Đức Trung Phạm Văn Hưng Lê Quang Vũ Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18316 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ THÍNH LỰC Ở TRẺ RỐI LOẠN NGÔN NGỮ ĐẾN KHÁM TẠI ĐƠN VỊ NGÔN NGỮ TRỊ LIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA PHẠM NGỌC THẠCH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18317 Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và đặc điểm thính lực ở nhóm trẻ có rối loạn về ngôn ngữ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca, thu thập số liệu 32 trẻ rối loạn ngôn ngữ đến khám tại đơn vị âm ngữ trị liệu, PKĐK Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch từ tháng 1 năm 2024 đến tháng 12 năm 2024. Kết quả: Trẻ nghi ngờ nghe kém có tuổi trung bình 36,03 ± 12,56 tháng, chủ yếu 2-<4 tuổi (62,5%), nam chiếm ưu thế (nam/nữ = 4,33/1), 75% đến khám vì chậm nói; 21,88% sinh non và 25% mẹ mắc bệnh khi mang thai. Đa số trẻ có chức năng tai giữa và ốc tai bình thường (71,88% phản xạ cơ bàn đạp hai tai; 75% OAE đạt hai tai), 100% có sóng V ở 20 dB với ngưỡng nghe trung bình hai tai 20 dB, không ghi nhận nghe kém hai tai. Kết luận: Phần lớn trẻ nghi ngờ nghe kém đến khám vì chậm nói nhưng có thính lực bình thường; nghe kém không phải là nguyên nhân chính trong nhóm trẻ rối loạn ngôn ngữ được khảo sát. Nguyễn Duy Quốc Khánh Copyright (c) 2026 2026-06-19 2026-06-19 561 2 10.51298/vmj.v561i2.18317