Tạp chí Y học Việt Nam
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj
<p><strong>1. Tên cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo in (báo in, tạp chí in):</strong></p> <p><strong>Tổng hội Y học Việt Nam</strong></p> <p><strong>Địa chỉ:</strong> 68A Bà Triệu, Phường Cửa Nam, Thành phố Hà Nội</p> <p><strong>Điện thoại:</strong> 024 39431866 </p> <p><strong>2. Tôn chỉ, mục đích:</strong></p> <p>- Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về y học;</p> <p>- Phổ biến những thành tựu khoa học, công trình nghiên cứu, kiến thức khoa học trong nước và quốc tế về nghiệp vụ y tế.</p> <p><strong>3. Đối tượng phục vụ: </strong>Hội viên Tổng hội Y học Việt Nam, các cán bộ y tế, sinh viên y, dược và bạn đọc quan tâm.</p> <p><strong>4. Thể thức xuất bản: </strong>Ấn phẩm in</p> <p><strong>5. Ấn phẩm chính:</strong></p> <p>- Tên gọi: Tạp chí Y học Việt Nam.</p> <p>- Ngôn ngữ thể hiện: Tiếng Việt, tiếng Anh.</p> <p>- Kỳ hạn xuất bản: 03 kỳ/tháng tiếng Việt và 02 kỳ/năm tiếng Anh.</p> <p>- Thời gian phát hành: Ngày 15&30 hàng tháng;</p> <p>- Khuôn khổ: 19cmx27cm;</p> <p>- Số trang: 380 trang kỳ tiếng Việt và 180 trang kỳ tiếng Anh.</p> <p> </p>Vietnam Medical Associationvi-VNTạp chí Y học Việt Nam1859-1868KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI TÁN SỎI ỐNG MỀM ĐIỀU TRỊ SỎI THẬN TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17356
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật tán sỏi thận bằng nội soi ống mềm tập trung vào đặc điểm sỏi thận, tỷ lệ sạch sỏi và mức độ an toàn của phẫu thuật.<strong> Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Mô tả hồi cứu các bệnh nhân được chẩn đoán sỏi thận được phẫu thuật tán sỏi thận bằng nội soi ống mềm tại bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2022 đến 12/2024. <strong>Kết quả nghiên cứu:</strong> 69 bệnh nhân gồm có 43 nam (62,3%), 26 nữ (37,7%). Tuổi trung bình: 51,8 ± 13,4 tuổi (27-86 tuổi). Kích thước sỏi: 16,9 ± 5,8 mm (8 – 33 mm). Số lượng sỏi trong một lần can thiệp: 1,5 ± 0,6 viên (1-3 viên). Thời gian phẫu thuật: 70,5 ± 26,0 phút (30 – 175 phút). Tỷ lệ sạch sỏi sau 1 ngày và sau 1 tháng lần lượt là là 77,1% và 82,9%. Tỷ lệ biến chứng sau mổ là 7,2% ở mức độ nhẹ (phân độ I, II theo Clavien-Dindo), trong đó 2,9% đái máu đại thể (Clavien-Dindo độ I) và 4,3% sốt sau mổ (Clavien-Dindo độ II). <strong>Kết luận: </strong>Kết quả nghiên cứu cho thấy nội soi tán sỏi ống mềm điều trị sỏi thận là phương pháp điều trị ít xâm lấn, hiệu quả, an toàn.</p>Đinh Long VươngNguyễn Minh TuấnTrần Hiếu Học
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17356ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẮT LỚP VI TÍNH GÃY KHỐI MŨI - SÀNG - Ổ MẮT Ở CÁC BỆNH NHÂN ĐA CHẤN THƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC, 2018 – 2023
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17357
<p>Mục tiêu: Nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cắt lớp vi tính gãy khối mũi – sàng - ổ mắt ở các bệnh nhân đa chấn thương tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ 2018 – 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Áp dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang tiến cứu, kết hợp hồi cứu số liệu người bệnh đa chấn thương gãy khối mũi – sàng - ổ mắt tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, 2018-2023. Kết quả: Nghiên cứu thực hiện trên 61 người bệnh đa chấn thương bị gãy khối mũi – sàng - ổ mắt tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, 2018-2023, kết quả cho độ tuổi hay gặp nhất là 15–49 tuổi, đại đa số ở nam giới. Triệu chứng lâm sàng cho thấy các tổn thương phần mềm đa dạng, vết thương hở chiếm 72,1%; các triệu chứng ở mũi và mắt với tỷ lệ cao như biến dạng tháp mũi (60,7%), giảm/ mất thị lực (55,7%). Các hình ảnh CLVT đa dạng, nổi bật gồm đường gãy khuyết lệ-bờ dưới ổ mắt 100%, tụ dịch trong xoang sàng 98,4%, đường gãy khớp trán-HT 85,2%. Kết luận: Nghiên cứu đã mô tả các đặc điểm lâm sàng, cắt lớp vi tính gãy khối mũi – sàng - ổ mắt ở các bệnh nhân đa chấn thương tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ 2018 đến 2023. Vấn đề có tính chất phức tạp, đòi hỏi cần có đánh giá đặc điểm lâm sàng đa dạng kết hợp hình ảnh cắt lớp vi tính nhằm phân loại đúng tổn thương MSOM sẽ giúp định hướng cách điều trị phù hợp.</p>Lê Văn NamNguyễn Hồng HàVũ Quang Hưng
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17357KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ GÃY ĐẦU DƯỚI XƯƠNG ĐÙI BẰNG NẸP VÍT KHÓA TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17358
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng và Xquang nhóm người bệnh nghiên cứu, kết quả điều trị gãy đầu dưới xương đùi bằng nẹp vít khoá tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. <strong>Phương pháp:</strong> Mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu và tiến cứu, 32 bệnh nhân gãy đầu dưới xương đùi được điều trị bằng nẹp vít khoá tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 4 năm 2025. Bệnh nhân được phân loại gãy xương theo AO, đánh giá kết quả nắn chỉnh ổ gãy theo thang điểm larson and bostman, đánh giá kết quả liền xương theo thang điểm mRUST và phục hồi chức năng theo R. Sander. <strong>Kết quả:</strong> Có 32 bệnh nhân tham gia nghiên cứu với độ tuổi trung bình là 57,4 ± 19,1 (từ 18-93 tuổi), độ tuổi trên 60 chiếm ưu thế với tỷ lệ 62,5%, có tỉ lệ nam/nữ : 12/20. Nguyên nhân gãy xương hay gặp nhất do tai nạn giao thông (59,4%), và phân loại gãy xương gặp nhiều nhất là phân loại nhóm A1 với 53.1%. Hầu hết bệnh nhân được phẫu thuật trong tuần đầu tiên 96,9%, trong đó mổ trong vòng 48 giờ chiếm 28,1%. Bệnh nhân có sự phục hồi tốt trên cả các chỉ số Xquang và dựa theo thang điểm của Larson và Bostman. Vết mổ liền thì đầu đạt 93,8% (30/32 bệnh nhân). Chấm theo thang điểm mRUST tất cả 32 NB đều liền xương tại thời điểm khám lại sau ít nhất 6 tháng, không có trường hợp nào không liền hoặc khớp giả, có 93,8% bệnh nhân có kết quả phục hồi chức năng theo R. Sander tốt và rất tốt <strong>Kết luận:</strong> Gãy đầu dưới xương đùi thường gặp ở độ tuổi trên 60 và thường sau tai nạn giao thông với mức năng lượng cao. Phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít khóa mang lại kết quả khả quan, phục hồi tốt hình thái giải phẫu trên Xquang theo thang điểm Larson và Bostman và kết quả liền xương theo mRUST và phục hồi chức năng theo R Sander tốt.</p>Ngô Văn DuyKiều Hữu ThạoMa Ngọc ThànhĐào Xuân Thành
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17358ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ THỦNG Ổ LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17359
<p><strong>Đặt vấn đề</strong><strong>:</strong> Loét dạ dày - tá tràng tác động đến 4 triệu người mỗi năm và có tỉ lệ ước tính khoảng 5-10% dân số trên thế giới [2]. Mặc dù tỉ lệ bệnh đã giảm xuống rất nhiều trong một thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, các biến chứng của bệnh vẫn không thay đổi [2]. Biến chứng thủng xảy ra với tỉ lệ 2-10% trong các bệnh nhân loét dạ dày - tá tràng, với nguy cơ tử vong cao, đặc biệt ở người lớn tuổi, với tỉ lệ là 10-40%[4]. Theo khuyến cáo hội phẫu thuật nội soi thế giới, chỉ định mổ cấp cứu sớm nhất có thể đối với phần lớn trường hợp bệnh nhân thủng ổ loét hành tá tràng, trong đó phẫu thuật nội soi mang lại nhiều lợi ích. Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị thủng ổ loét hành tá tràng tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp ở nhóm người bệnh trên. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong><strong>:</strong> Gồm tất cả bệnh nhân được phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng ổ loét hành tá tràng tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2025. Các dữ liệu nghiên cứu bao gồm các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đặc điểm phẫu thuật, tai biến, biến chứng sau phẫu thuật và theo dõi sau phẫu thuật. <strong>Kết quả</strong><strong>:</strong> Có 180 người bệnh đã được phẫu thuật nội soi khâu lõ thủng ổ loét hành tá tràng tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt tiệp từ tháng 1/2020 đến tháng 06/2025, trong đó nam gấp 4 lần nữ, độ tuổi trung bình là 48,3±19,6. Mùa khởi phát bệnh chủ yếu là đông xuân chiếm: 64,5%. Yếu tổ nguy cơ phổ biến nhất là sử dụng rượu, chiếm 57,2%. Có 11 bệnh nhân (6,1%) có chỉ số Boey là 1 điểm, còn lại đều là 0 điểm. Tỉ lệ biến chứng sau mổ là 3,4%. <strong>Kết luận</strong><strong>:</strong> Phẫu thuật nội soi điều trị thủng ổ loét hành tá tràng là một phương pháp điều trị hiệu quả và có nhiều ưu điểm bao gồm giảm đau sau mổ, rút ngắn thời gian điều trị, tỉ lệ biến chứng và tỉ lệ tử vong thấp.</p>Nguyễn Thế MayNguyễn VũNông Ngọc QuangTrần Tiến Thành
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17359ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT LỌC, LÀM SẠCH, GIỮ LẠI KHỚP GỐI NHÂN TẠO (DAIR) TRONG ĐIỀU TRỊ NHIỄM TRÙNG SỚM SAU THAY KHỚP GỐI TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17360
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nhận xét chỉ định và đánh giá kết quả phẫu thuật cắt lọc, làm sạch, giữ lại khớp gối nhân tạo (Debridement, Antibiotics, and Implant Retention - DAIR) điều trị nhiễm trùng sau mổ thay khớp gối tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Bao gồm 7 bệnh nhân được phẫu thuật DAIR điều trị nhiễm trùng sau mổ thay khớp gối tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ năm 2022 -2025. Nghiên cứu mô tả. <strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu gồm 7 bệnh nhân nhiễm trùng sớm sau thay khớp gối: 4 nữ (57%) và 3 nam (43%), tuổi trung bình 66 (54–80). Tác nhân vi sinh: 2 ca âm tính (28,6%), 2 ca Staphylococcus aureus nhạy Methicillin (MSSA, 28,6%), 1 ca S. aureus kháng Methicillin (MRSA, 14,3%), 1 ca Klebsiella pneumoniae nhạy cảm rộng (14,3%) và 1 ca không xác định (14,3%). Kháng sinh sau mổ: đa số phối hợp 2–3 loại, thời gian sử dụng 3 tháng đến 1 năm. Kết quả điều trị: 6/7 ca (85,7%) kiểm soát được nhiễm trùng sau mổ, 1 ca (14,3%) thất bại được phẫu thuật thay lại khớp hai thì, biên độ vận động trung bình đạt 91°, phần lớn đi lại bình thường. <strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu cho thấy phẫu thuật DAIR kết hợp liệu pháp kháng sinh kéo dài là hướng điều trị hiệu quả, an toàn và bảo tồn được implant cho các trường hợp nhiễm trùng sớm sau thay khớp gối.</p>Nguyễn Mạnh KhánhLê Xuân HoàngChu Đức PhongĐặng Văn Long
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17360PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TRỰC TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17361
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Phẫu thuật nội soi điều trị ung thư trực tràng đang được thực hiện ngày càng phổ biến tại các bệnh viện tỉnh trên cả nước. Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An giai đoạn 2020 – 2025. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu hồi cứu tất cả bệnh nhân ung thư trực tràng được điều trị bằng phẫu thuật nội soi từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 6 năm 2025 tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An. <strong>Kết quả: </strong>Gồm 85 bệnh nhân, tuổi trung bình 68,33 ± 10,96 tuổi (từ 39 đến 95 tuổi), 65,9% nam và 34,1% nữ. 100% bệnh nhân có kết quả ung thư biểu mô tuyến. Số lượng hạch nạo vét là: 12,1 ± 6,0 hạch, số hạch di căn là 0,54 ± 1,26. Biến chứng sau mổ 23,5%, trong đó rò miệng nối 3,5 %, nhiễm trùng vết mổ 5,9 %. Thời gian phẫu thuật trung bình là 192,3 ± 21,6 phút. Thời gian nằm viện trung bình sau mổ 11,86 ± 4,4 ngày. Thời gian tái phát là 9,47 ± 2,76 tháng, thời gian sống thêm toàn bộ sau mổ 28,26 ± 17,34 tháng. <strong>Kết luận: </strong>Phẫu thuật nội soi điều trị ung thư trực tràng là an toàn và hiệu quả với tỷ lệ biến chứng thấp và đảm bảo tính triệt căn ung thư.</p>Phạm Văn ThươngĐinh Văn ChiếnNguyễn Văn Hương
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17361ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN ĐẶT TẤM LƯỚI NHÂN TẠO TRƯỚC PHÚC MẠC ĐƯỜNG VÀO Ổ BỤNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17362
<p><em>Mục tiêu: <strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả sau phẫu thuật nội soi đặt tấm lưới nhân tạo trước phúc mạc qua đường vào ổ bụng điều trị thoát vị bẹn.</strong> <strong>Đối tượng và phương pháp: Bao gồm </strong><strong>65 bệnh nhân được chẩn đoán thoát vị bẹn được điều trị bằng phương pháp nội soi đặt tấm lưới nhân tạo trước phúc mạc qua đường vào ổ bụng tại khoa Ngoại tiêu hoá Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp từ 01/2025 đến 10/2025. </strong>Kết quả: <strong>Tuổi trung bình của bệnh nhân là 58,2±17,8 tuổi. Tỉ lệ nam giới chiếm ưu thế với tỉ lệ nam:nữ là 57:8.</strong><strong> Tổng cộng 53 bệnh nhân được chẩn đoán thoát vị bẹn một bên (81,5%) và 12 bệnh nhân thoát vị bẹn hai bên (18,5%). Thời gian phẫu thuật trung bình chung là 53,5±13,7 phút. Thời gian phẫu thuật TAPP của nhóm thoát vị bẹn biến chứng (nghẹt) dài hơn nhóm không biến chứng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,019). Sau phẫu thuật TAPP, bệnh nhân đau ít với điểm VAS trung bình <24 giờ là 3,5±0,6 và mức độ đau giảm dần. Thời gian nằm viện sau phẫu thuật trung bình là 4,4±1,3 ngày. Trong vòng 1 tháng sau mổ, chúng tôi ghi nhận 87,7% bệnh nhân không có biến chứng, 7,7% (5 bệnh nhân) bị tụ dịch sau mổ, 3,1% (2 bệnh nhân) bị viêm tinh hoàn và 1,5% (1 bệnh nhân) bị tê bẹn bìu. Kết quả gần sau 1 tháng phẫu thuật, 87,7% (57 bệnh nhân) đạt kết quả Tốt. Sau 6 tháng, kết quả Tốt đạt 100% (65 bệnh nhân). </strong>Kết luận:<strong> Phẫu thuật nội soi đặt tấm lưới nhân tạo trước phúc mạc qua đường vào ổ bụng điều trị thoát vị bẹn có nhiều ưu điểm, là một kỹ thuật được lựa chọn trong điều trị thoát vị bẹn ở người trưởng thành</strong></em></p>Cao Minh TiệpĐặng Vặn HuấnĐoàn Ngọc GiaoPhùng Thế KhangNguyễn Quốc Thành
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17362ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VI PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ U TUỶ SỐNG TẠI BỆNH VIỆN ĐÀ NẴNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17363
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Vi phẫu u tủy sống đã trở thành một phương pháp tối ưu cắt bỏ u tối đa, giảm thiểu tổn thương cấu trúc thần kinh lân cận. Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả vi phẫu thuật u tủy sống chú trọng vào lâm sàng, hình ảnh học và hiệu quả sau phẫu thuật, biến chứng và phục hồi tổng thể bệnh nhân. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Hồi cứu và tiến cứu mô tả 75 bệnh nhân u tuỷ được chẩn đoán và phẫu thuật tại bệnh viện Đà Nẵng từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 6 năm 2025. <strong>Kết quả: </strong>75 bệnh nhân, 31 nam (41,33%), 44 nữ (58,67%). Tuổi lớn nhất 78, nhỏ nhất 7. Đa số bệnh nhân nhập viện vì đau cột sống chiếm 93,33%; rối loạn cảm giác chiếm 82,66%. U thường gặp ở ngực chiếm 42,66%. U dưới màng cứng ngoài tuỷ chiếm tỷ lệ cao nhất 81,33%. Loại u thường gặp nhất là Shwannoma và Meningioma đều chiếm (36%). Biến chứng sau mổ: nhiễm trùng 1 trường hợp; dò dịch não tuỷ 1 trường hợp; yếu, liệt thêm 6 trường hợp. <strong>Kết luận: </strong>Vi phẫu thuật đem lại hiệu quả điều trị cao trong bệnh lý u tuỷ</p>Lê Hữu TrìHoàng Ngọc BảoTrà Tấn Hoành
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17363ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ TRẺ SỐC NHIỄM TRÙNG TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG ĐỒNG NAI
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17364
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Sốc nhiễm khuẩn (SNK) là một cấp cứu nhi khoa thường gặp, có tỷ lệ tử vong cao nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. Nhi đồng Đồng Nai là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, nơi có nguồn lực còn hạn chế. Nghiên cứu nhằm khảo sát các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ở trẻ SNK tại bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai theo tiêu chuẩn Phoenix 2025. <strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến hành từ 01/02/2024 đến 30/08/2025, trên 50 trẻ từ 1 tháng đến 16 tuổi được chẩn đoán SNK theo tiêu chuẩn Phoenix. Dữ liệu thu thập từ hồ sơ bệnh án và phân tích bằng phần mềm Stata 12.0. <strong>Kết quả: </strong>Trong số 50 bệnh nhi SNK, có 29 trẻ nam (chiếm 58%) và 18 trẻ dưới 2 tuổi (36%); trong đó 32% (16 trẻ) có bệnh nền như hội chứng Down, bại não hoặc tim bẩm sinh. Ổ nhiễm phổ biến nhất là hệ tiêu hóa với 25 trẻ (50%), kế đến là đường hô hấp với 13 trẻ (26%). Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp bao gồm chi lạnh, CRT kéo dài cùng chiếm tỷ lệ 90%, rối loạn tri giác được ghi nhận ở 52% bệnh nhi. Các biểu hiện cận lâm sàng nặng như 12 trẻ (24%) có số lượng tiểu cầu < 100 x 10<sup>9</sup>/l, 16 trẻ (40%) có Procalcitonin ≥ 99 ng/ml. Tình trạng toan chuyển hoá được biểu hiện qua 52% có pH <7.2 và 76% có HCO₃⁻ < 15 mmol/L; có 48% trẻ có Lactat máu ≥ 5 mmol/l. Tỷ lệ suy cơ quan gồm: tổn thương gan cấp 16%, tổn thương thận cấp 25%, tổn thương cơ tim với troponin dương tính ở 12 trẻ (30,8%). Tác nhân vi sinh phân lập được chủ yếu là Staphylococcus aureus, Escherichia coli và Streptococcus pneumoniae. Về điều trị, có tới 88% bệnh nhân cần thở máy, 90% được sử dụng Noradrenaline, 72% sử dụng Adrenalin và 44% được chỉ định lọc máu. Tỷ lệ tử vong nội viện dù đã can thiệp tích cực trong nghiên cứu là 32%. <strong>Kết luận:</strong> Trẻ sốc nhiễm trùng tại Bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai nhập viện trong tình trạng nặng. Tỷ lệ tử vong còn cao. Phát hiện sớm, chuyển tuyến an toàn, điều trị tích cực là yếu tố then chốt giúp cải thiện tiên lượng.</p>Phạm Thị Kiều TrangLã Thị Thu Huyền
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17364ĐẶC ĐIỂM MÔ BỆNH HỌC U CƠ TUYẾN, POLYP TÚI MẬT VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẰNG PHẪU THUẬT CẮT TÚI MẬT NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NĂM 2023-2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17365
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Ung thư túi mật được phát hiện dưới dạng polyp. Phát hiện được polyp ác tính là rất cần thiết để giúp chẩn đoán và điều trị sớm. Phẫu thuật nội soi cắt túi mật được xem là phương pháp lựa chọn ưu tiên hàng đầu điều trị polyp túi mật. Nghiên cứu: “Đặc điểm mô bệnh học polyp túi mật và đánh giá kết quả điều trị Polyp túi mật bằng phẫu thuật cắt túi mật nội soi tại bệnh viện trường Đại Học Y Dược Cần Thơ từ 03/2023 đến 07/2025’’ <strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> 1) Mô tả đặc điểm mô học và phân loại các dạng polyp túi mật và u cơ tuyến sau phẫu thuật cắt túi mật nội soi 2) Đánh giá kết quả điều trị Polyp túi mật bằng phẫu thuật nội soi cắt túi mật. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>70 bệnh nhân điều trị polyp túi mật bằng phẫu thuật cắt túi mật nội soi tại bệnh viện trường Đại Học Y Dược Cần Thơ. <strong>Kết quả:</strong> tuổi trung bình là 46.10 ±13,39, nữ giới chiếm 58,6% tỷ lệ có polyp túi mật, nam giới chiếm 41,4% tỷ lệ có polyp túi mật. Thời gian phẫu thuật trung bình 56,29±21,39. Bệnh nhân có sỏi túi mật kèm theo chiếm 67,1% (47 trường hợp). Không có biến chứng sau phẫu thuật<strong>.</strong> Trong nghiên cứu này u cơ tuyến túi mật chiếm đa số 41%., Kế tiếp là polyp cholesterol 34%, polyp viêm chiếm 12%, polyp tăng sản 4%, polyp tuyến 6%, u tuyến túi mật kèm nghịch sản độ cao chiếm tỷ lệ thấp nhất 3%.<strong> Kết luận: </strong>Phẫu thuật nội soi cắt túi mật điều trị polyp túi mật là một phương pháp an toàn, ít biến chứng, mang lại kết quả điều trị khả quan.</p>Nguyễn Hoàng HơnNguyễn Văn LâmLa Văn PhúNguyễn Văn LuânNguyễn Văn TuấnĐặng Hồng QuânMai Văn ĐợiNguyễn Văn HiênNguyễn Khắc NamPhạm Văn Năng
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17365KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG DI CĂN BẰNG PHÁC ĐỒ FOLFIRI KẾT HỢP BEVACIZUMAB TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU TỈNH THANH HÓA
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17366
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kết quả điều trị ung thư đại trực tràng di căn bằng phác đồ FOLFIRI kết hợp Bevacizumab tại Bệnh viện Ung Bướu tỉnh Thanh hóa. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả hồi cứu và tiến cứu 52 Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là ung thư đại trực tràng giai đoạn di căn được hóa trị phác đồ FOLFIRI kết hợp bevacizumab tại Bệnh viện Ung bướu tỉnh Thanh Hóa từ 6/2022 đến 01/2025. <strong>Kết quả nghiên cứu:</strong> Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 62,5. Tỉ lệ nam/nữ là 1,73/1. Tỷ lệ bệnh nhân có yếu tố nguy cơ là 13,46%. Bệnh nhân có vị trí u bên trái chiếm tỉ lệ cao 82,7%. Lý do vào viện chủ yếu là do triệu chứng đau bụng, chiếm 76,9%. Di căn gan và phổi là 2 vị trí hay gặp nhất, chiếm 65,4 % và 51,9%. Đa phần bệnh nhân có tăng CEA 67,3% và UTBMT chiếm 92,3%. Tỷ lệ kiểm soát bệnh là 80.8%, tỷ lệ đáp ứng toàn bộ 69,2%, đáp ứng hoàn toàn là 35,6%. Tỷ lệ đáp ứng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi phân tích với các yếu tố: bước điều trị, độ biệt hóa tế bào và nồng độ CEA. Tác dụng không mong muốn của phác đồ hay gặp là: Giảm bạch cầu cầu trung tính, giảm huyết sắc tố, giảm tiểu cầu, tăng AST/ALT, tăng Creatinin, nôn và tiêu chảy, nhưng chủ yếu ở độ 1, 2. Tác dụng không mong muốn của Bevacizumab chủ yếu là cao huyết áp và chảy máu cam ở mức độ nhẹ và được kiểm soát tốt. <strong>Kết luận:</strong> Phác đồ Bevacizumab kết hợp FOLFIRI cho thấy tỷ lệ đáp ứng cao, đồng thời, dung nạp tốt trên những bệnh nhân ung thư đại trực tràng giai đoạn IV, thể trạng kém, cao tuổi, tác dụng không mong muốn ở mức độ chấp nhận được.</p>Vũ Thị HằngPhạm Cẩm Phương
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17366KẾT QUẢ THÍNH LỰC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI MỞ THƯỢNG NHĨ NGOÀI CÓ BẢO TỒN CHUỖI XƯƠNG CON
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17367
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả thính lực sau phẫu thuật nội soi mở thượng nhĩ ngoài có bảo tồn chuỗi xương con. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> gồm 15 bệnh nhân với 15 tai được phẫu thuật nội soi mở thượng nhĩ ngoài có bảo tồn chuỗi xương con tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương từ 1/2018 đến 6/2025, sử dụng phương pháp mô tả loạt ca bệnh, lấy mẫu thuận tiện. <strong>Kết quả:</strong> dự trữ cốt đạo trước và sau phẫu thuật thay đổi không có ý nghĩa thống kê (1.00±5.39 dB), trung bình ngưỡng nghe đường khí sau mổ đạt 32,16 ± 16,93 dB so với trước mổ là 35,12 ± 16,95 dB, ABG sau phẫu thuật đạt 16.67±9.43 dB, cải thiệt 1.95±9.04 dB, tỷ lệ ABG trước phẫu thuật đạt khoảng rất tốt và tốt là 66.7% và sau phẫu thuật tăng lên 73.3%. <strong>Kết luận: </strong>Phẫu thuật nội soi mở thượng nhĩ ngoài có bảo tồn chuỗi xương con an toàn với tai trong, góp phần bảo tồn và cải thiện thính lực đường khí (PTA) và khoảng cách khí – xương (ABG).</p>Nguyễn Thị HòaNguyễn Thị Tố Uyên
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17367KẾT QUẢ VÀ TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA PHƯƠNG PHÁP GIẢM ĐAU BẰNG GÂY TÊ MẶT PHẲNG CƠ DỰNG SỐNG ĐOẠN CÙNG Ở BỆNH NHÂN SAU MỔ CẮT TRĨ LONGO NĂM 2024
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17368
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Phẫu thuật cắt trĩ là nguyên nhân gây sau mổ từ trung bình đến nặng. Các phương pháp giảm đau thường áp dụng sau mổ cắt trĩ (đường toàn thân, đường tủy sống, ngoài màng cứng) thường hiệu quả giảm đau không đầy đủ và nhiều tác dụng không mong muốn. Gây tê mặt phẳng cột sống đoạn cùng (ESP cùng) là một kỹ thuật mới được giới thiệu và cho thấy nhiều hứa hẹn trong các thủ thuật phẫu thuật khác nhau. <strong>Mục tiêu: </strong>Thử nghiệm lâm sàng mô tả hàng loạt ca bệnh nhằm đánh giá tác dụng giảm đau của gây tê ESP cùng và các tác dụng không mong muốn sau phẫu thuật cắt trĩ Longo. <strong>Phương pháp: </strong>30 bệnh nhân chỉ định gây tê tủy sông để phẫu thuật cắt trĩ Longo. Sau mổ được gây tê ESP cùng dưới hướng dãn siêu âm và giảm đau đa mô thức. Thang điểm đau (VAS) đánh giá ở trạng thái nghỉ ngơi và vận động trong 24 giờ được sử dụng làm thước đo kết quả chính. Các thước đo kết quả phụ là liều fentanyl tích lũy, số lượng bệnh nhân cần dùng thuốc giảm đau cấp cứu sau phẫu thuật và chất lượng phục hồi QoR-15 chất lượng phục hồi. Ngoài ra so sánh các tác dụng không mong muốn của 2 nhóm trên: buồn nôn và nôn, bí tiểu, ngứ. <strong>Kết quả: </strong>Điểm VAS trung bình của nhóm gây tê ESP cùng tại các thời điểm trong 24 giờ đầu luôn thấp hơn 4. Ít bệnh nhân trong nhóm đối chứng cần giảm đau cấp cứu. Liều dùng fentanyl sau 24 giờ đầu tiên sau phẫu thuật ở nhóm gây tê ESP cùng thấp. Hơn nữa, QoR-15 ở nhóm gây tê ESP cùng cao. <strong>Kết luận: </strong>Gây tê ESP cùng là một phương pháp hiệu quả để kiểm soát đau sau phẫu thuật cắt trĩ Longo, giảm nhu cầu dùng opioid và cải thiện khả năng phục hồi của bệnh nhân</p>Phạm Xuân HùngNguyễn Thị NgaTrần Quốc Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17368KẾT QUẢ CÁC YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN ĐỔI TẾ BÀO NỘI MÔ GIÁC MẠC SAU PHẪU THUẬT PHACO TRÊN GLÔCÔM GÓC ĐÓNG NGUYÊN PHÁT SỬ DỤNG CHẤT NHẦY KẾT HỢP
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17369
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> Đánh giá các yếu tổ ảnh hưởng đến sự biến đổi tế bào nội mô giác mạc sau phẫu thuật Phaco có phối hợp mở góc tiền phòng hoặc không trên bệnh nhân Glôcôm góc đóng nguyên phát có sử dụng chất nhầy kết dính kết hợp với chất nhầy phân tán tại khoa Glôcôm Bệnh viện Mắt Trung Ương. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong><strong>:</strong> Bệnh nhân Glôcôm góc đóng nguyên phát kèm đục TTT độ II trở nên có chỉ định phẫu thuật phaco có thể phối hợp mở góc tiền phòng hoặc không. Phương pháp nghiên cứu là tiến cứu có can thiệp lâm sàng. Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Glôcôm từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2024 - Bệnh viện Mắt Trung Ương. <strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu được thực hiện trên 62 mắt của 54 bệnh nhân. Giữa độ cứng của nhân và tỉ lệ mất TB (CL) có mối liên quan thấp (r= 0,02). Tại thời điểm sau 2 tháng phẫu thuật sự khác biệt của 2 nhóm giữa độ cứng của nhân và tỉ lệ mất TBNM không có ý nghĩa thống kê (p=0.875). Giữa độ sâu TP và tỉ lệ mất TBNM có mối liên quan thấp (r=0,131). Tại thời điểm sau 2 tháng phẫu thuật sự khác biệt của 2 nhóm giữa độ sâu TP và mật độ TBNM không có ý nghĩa thống kê (p=0,309). Giữa nhãn áp và tỉ lệ mất TBNM có mối liên quan thấp (r=0,21). Tại thời điểm sau 2 tháng phẫu thuật sự khác biệt của 2 nhóm giữa độ sâu TP và mật độ TBNM không có ý nghĩa thống kê (p=871). Tỉ lệ mất TBNM sau PT ở nhóm tiền phòng nông và nhân cứng cao là 7,79± 3,29%, nhóm tiền phòng sâu hơn và nhân cứng thấp là 7,7±3,75% có ý nghĩa thống kê p=0,01. Tuy nhiên khi so sánh tại cùng 1 thời điểm ở 2 nhóm thì không có sự chênh lệch tỉ lệ mất TBNM p=0,935. <strong>Kết luận: </strong>Khi khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến TBNM sau phẫu thuật không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm. Chứng tỏ hiệu quả bảo vệ TBNM đồng đều ở các nhóm khi sử dụng nhầy kết hợp giữa chất nhầy kết dính và phân trong phẫu thuật Phaco hay Phaco kết hợp mở góc tiền phòng trên bệnh nhân Glôcôm góc đóng nguyên phát kèm đục TTT.</p>Nguyễn Thị Cẩm VânBùi Thị Vân AnhNguyễn Thị Thanh HươngĐỗ Tấn
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17369KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THẤT BẠI KHI CHUYỂN TỪ DUNG DỊCH CAO PHÂN TỬ SANG ĐIỆN GIẢI Ở TRẺ EM SỐC SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI SÓC TRĂNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17370
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Chuyển từ dung dịch cao phân tử (CPT) sang điện giải là quyết định then chốt trong điều trị sốc sốt xuất huyết Dengue (SXHD) ở trẻ em, nhưng các yếu tố tiên lượng thất bại vẫn chưa rõ. <strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kết quả điều trị và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thất bại khi chuyển từ CPT sang điện giải. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu tiến cứu trên 76 trẻ sốc SXHD tại Bệnh viện Sản nhi Sóc Trăng trong thời gian từ 05/2024 đến 07/2025. Thất bại khi chuyển dịch được định nghĩa là huyết động không ổn định hoặc Hct tăng ≥10% trong 2 giờ sau ngưng CPT. Phân tích hồi quy logistic đa biến được sử dụng. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ sống 100%, suy hô hấp 74,3%. Tỷ lệ thất bại chuyển dịch là 36,8%. Bốn yếu tố tiên lượng độc lập cho thất bại khi chuyển dịch qua phân tích đa biến gồm: Lactate máu lúc chuyển dịch ≥2mmol/L (OR=43,8), Albumin máu lúc chuyển dịch <25g/L (OR=32,4), Creatinin lúc chuyển dịch tăng ≥1,5 lần (OR=13,1), và Hematocrit lúc vào sốc ≥45% (OR=5,8). Mô hình có giá trị tiên đoán tốt (AUC=0,877). <strong>Kết luận: </strong>Dù tỷ lệ sống cao, thất bại chuyển dịch vẫn là một thách thức. Việc đánh giá 4 yếu tố (lactate, albumin, creatinin, Hct) là cần thiết để tăng tính an toàn khi quyết định xuống thang dịch truyền.</p>Âu Hữu ĐứcBùi Quang NghĩaHuỳnh Thị Kim YếnLý Quốc TrungTrần LượngTrần Thị Kiều Linh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17370KẾT QUẢ THAY KHỚP GỐI TOÀN PHẦN SỬ DỤNG ĐƯỜNG MỔ CẠNH TRONG XƯƠNG BÁNH CHÈ TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17371
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp gối toàn phần sử dụng đường mổ cạnh trong xương bánh chè tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu không đối chứng trên 51 bệnh nhân với 51 khớp gối thay sử dụng loại khớp có xi măng không thay diện sụn bánh chè sử dụng đường mổ cạnh trong xương bánh chè tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 1 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025. <strong>Kết quả: </strong>Đa số bệnh nhân trên 60 tuổi (88,3%), trong đó nữ giới chiếm tỷ lệ 76,5%. Kết quả phục hồi chức năng theo thang điểm KFS từ 45.4 ±6.3 lên 86.6 ± 5.1 và KS từ 45.3 ± 8.5 lên 87.9 ± 4.8, trong đó kết quả tốt và rất tốt chiếm 100%. <strong>Kết luận:</strong> Thay khớp gối toàn phần sử dụng đường mổ cạnh trong bánh chè mang lại kết quả tốt, giúp bệnh nhân phục hồi chức năng khớp gối, nâng cao đời sống cá nhân.</p>Nguyễn Mạnh KhánhPhạm Ngọc ĐìnhNguyễn Mộc SơnNguyễn Trung Kiên
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17371ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN MÂM CHÀY SCHATZKER V, VI BẰNG HAI NẸP VÍT KHÓA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC THỦ ĐỨC
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17372
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Đánh giá điều trị gãy kín mâm chày Schatzker V, VI bằng hai nẹp vít khoá tại bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Thủ Đức. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu tiền cứu và nghiên cứu cắt ngang trên 39 bệnh nhân bị gãy kín mâm chày Schatzker V, VI được điều trị kết hợp xương bằng nẹp vít khóa mâm chày ngoài và sau trong tại bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Thủ Đức từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2024. <strong>Kết quả</strong><strong>:</strong> Tổng số 39 bệnh nhân gồm 15 nam và 24 nữ gãy mâm chày loại V (13 ca), loại VI (26 ca). Độ tuổi trung bình 44,9 ± 15,7; nhỏ nhất 21, lớn nhất 80, với thời gian theo dõi sau phẫu thuật trung bình là 16,7 ± 6,5 tháng. Kết quả liền xương sau phẫu thuật là 38 bệnh nhân (97,4%), 01 bệnh nhân (2,6%) bị khớp giả. Điểm Rasmussen trung bình sau mổ là 27,18 ± 2,7 trong đó tỉ lệ phục hồi chức năng khớp gối theo phân loại Rasmussen tốt và rất tốt chiếm 97,4%, trung bình chiếm 2,6%, không có trường hợp nào kém. <strong>Kết luận: </strong>Kết hợp xương gãy kín mâm chày phân loại Schatzker V – VI bằng hai nẹp vít khoá mang lại kết quả phục hồi tốt và rất tốt trong giải phẫu và chức năng.</p>Đỗ Quang SangNguyễn Phương NamĐinh Thanh Trường
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17372ĐÁNH GIÁ SỰ BỘC LỘ CỦA THỤ THỂ PROGESTERONE TRONG UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN VÚ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17373
<p>Ung thư vú là bệnh lý thường gặp tại Việt Nam. Khoảng 70% các trường hợp ung thư vú có thụ thể nội tiết (ER, PR) dương tính, do đó nhóm thuốc này đóng vai trò quyết định trong cải thiện tiên lượng và giảm tái phát ung thư vú. <strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá sự bộc lộ thụ thể Progesterone (PR) trong ung thư vú và mối liên quan với một số đặc điểm mô bệnh học. Đối chiếu kết quả đánh giá sự bộc lộ PR trên mẫu sinh thiết lõi và mẫu bệnh phẩm phẫu thuật. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>103 khối nến của phụ nữ được chẩn đoán mô bệnh học ung thư vú được phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 01/2024 - 06/2025. Đánh giá sự bộc lộ của thụ thể PR trong mẫu mô theo thang điểm Allred. Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 26.0. <strong>Kết quả:</strong> PR dương tính trong 66,0% trường hợp UTV, nhóm PR thấp (1 – 10%) chiếm 7,8%. PR dương tính thường gặp trong nhóm người bệnh ≤ 45 tuổi, độ mô học II, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Có sự tương đồng cao khi đánh giá sự bộc lộ PR trên mẫu sinh thiết lõi và mẫu bệnh phẩm phẫu thuật (κ = 0,695). <strong>Kết luận</strong><strong>: </strong>PR dương tính trong 66,0% trường hợp ung thư vú, nhóm PR thấp (1 – 10%) chiếm 7,8%. Có sự tương hợp tốt khi đánh giá sự bộc lộ PR trên mẫu sinh thiết lõi và mẫu bệnh phẩm phẫu thuật (κ = 0,695).</p>Nguyễn Kim ĐồngNguyễn Hữu CườngNguyễn Thị NhungVũ Thị HàNguyễn Hoàng Việt
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17373ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỐT MÒ Ở TRẺ EM
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17374
<p>Nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của trẻ bệnh sốt mò, chúng tôi thực hiện nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên các bệnh nhi điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 1/2020 đến tháng 7/2025. Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ nam chiếm ưu thế (61.54%), phần lớn sống tại nông thôn (88.46%). Tất cả các trường hợp bệnh nhân đều xuất hiện sốt, vết loét gặp ở 65,38%, sưng hạch 38,84%, phát ban 23,08%, phù ngoại vi 34,62%, cổ trướng 64,15%, gan to chiếm 64,38% và lách to gặp ở 48,08%. Đa phần trẻ bị thiếu máu ở mức độ trung bình (63,46%), bạch cầu tăng chiếm 57,69 %, tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính thường dưới 60% (82,7%) và giảm tiểu cầu 67,31%. Hầu hết bệnh nhân có tình trạng tăng GOT trên 40 UI/L (93,2%) và tăng GPT (88,6%). Albumin ở ngưỡng thấp hơn bình thường chiếm tỷ lệ cao 88,10%. Tỷ lệ tử vong trong nghiên cứu là 1,92%. Cloramphenicol đường tĩnh mạch và Doxycycline đường uống có hiệu quả tương tự trong việc điều trị bệnh nhân sốt mò.</p>Nguyễn Thuý HằngNguyễn Đắc TrungĐỗ Thiện Hải
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17374ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG Ở BỆNH NHÂN DI CHỨNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG ĐIỆN XUNG TẠI HUYỆT KẾT HỢP XOA BÓP BẤM HUYỆT
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17375
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả điều trị người bệnh di chứng tai biến mạch máu não bằng phương pháp kích thích điện xung qua huyệt kết hợp xoa bóp bấm huyệt và theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp và mô tả một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị của phương pháp. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu can thiệp lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 70 bệnh nhân di chứng liệt nửa người do TBMMN, được chẩn đoán thuộc thể Khí hư huyết ứ hoặc Âm hư dương xung theo Y học cổ truyền (YHCT). Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: Nhóm nghiên cứu (NNC, n=35) được điều trị bằng máy điện xung không dùng kim Pointron 801 kết hợp XBBH. Nhóm đối chứng (NĐC) được điều trị bằng điện châm kết hợp XBBH. Liệu trình điều trị kéo dài 20 ngày. Hiệu quả được đánh giá qua sự thay đổi của các thang điểm chức năng vận động Orgogozo, Barthel và Rankin tại các thời điểm trước (D0) và sau điều trị (D20). <strong>Kết quả</strong><strong>: </strong>Cả hai phác đồ đều cho thấy hiệu quả cải thiện chức năng vận động rõ rệt sau 20 ngày (p < 0,01). Tuy nhiên, NNC cho thấy sự cải thiện vượt trội hơn. Điểm Orgogozo trung bình của NNC tăng từ 53,57 ± 10,69 lên 80,97 ± 9,08, cao hơn có ý nghĩa so với NĐC (tăng từ 52,43 ± 12,31 lên 74,46 ± 9,34) (p < 0,05). Tương tự, điểm Barthel của NNC cũng tăng cao hơn NĐC có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tỷ lệ bệnh nhân đạt kết quả điều trị Tốt và Khá ở NNC (80,0%) cao hơn NĐC (54,3%) (p < 0,05). Cả hai phương pháp đều an toàn. <strong>Kết luận</strong><strong>:</strong> Phương pháp kích thích điện xung tại huyệt không dùng kim kết hợp xoa bóp bấm huyệt là một liệu pháp hiệu quả, an toàn và vượt trội hơn so với điện châm kinh điển trong việc phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân di chứng tai biến mạch máu não. </p>Tạ Đức DũngNguyễn Văn Hải
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17375ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU ĐƯỜNG DẪN LƯU XOANG TRÁN THEO PHÂN LOẠI IFAC TRÊN CT SCAN TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TP. HCM
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17376
<p><strong>Đặt vấn đề</strong><strong>:</strong> Đường dẫn lưu xoang trán có giải phẫu phức tạp và đa dạng, là thách thức lớn trong phẫu thuật nội soi. Bảng phân loại giải phẫu xoang trán quốc tế (IFAC 2016) và Phân loại mức độ phức tạp trên hình ảnh học (ICC 2017) là công cụ chuẩn hóa giúp đánh giá hệ thống cấu trúc này. Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm giải phẫu đường dẫn lưu xoang trán dựa trên IFAC và ICC tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Thành phố Hồ Chí Minh. <strong>Đối tượng và</strong> <strong>phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca. Dữ liệu hình ảnh được phân tích dựa trên IFAC và ICC 2017 để xác định đường kính lỗ thông xoang trán, kiểu bám mỏm móc, tỉ lệ các tế bào ngách trán và độ phức tạp trên hình ảnh học. <strong>Kết quả:</strong> Từ tháng 12/2024 đến tháng 06/2025, chúng tôi ghi nhận 90 bệnh nhân được chụp CT scan mũi xoang tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. HCM. Tuổi trung bình là 47,17 ± 13,76. Tỉ lệ nam/nữ cân bằng. <strong>Kết luận:</strong> Việc ứng dụng IFAC và ICC vào thực hành thường quy giúp chuẩn hóa việc đọc CT scan, cung cấp thông tin quan trọng cho việc lập kế hoạch phẫu thuật nội soi xoang trán<strong>. </strong></p>Lương Hữu ĐăngĐoàn Công KhoaLê Trần Quang Minh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17376ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ NỘI SOI DẠ DÀY TÁ TRÀNG Ở BỆNH NHÂN ĐAU BỤNG TÁI DIỄN TẠI TRUNG TÂM NHI KHOA, BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17377
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu này nhằm mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng và kết quả nội soi dạ dày tá tràng ở bệnh nhân đau bụng tái diễn. <strong>Phương </strong><strong>pháp</strong><strong>: </strong>Nghiên cứu mô tả được thực hiện trên 83 trẻ đau bụng tái diễn vào điều trị tại Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên trong thời gian từ năm 2024 đến 2025. <strong>Đối tượng nghiên cứu</strong><strong>:</strong> Những bệnh nhân với triệu chứng đau bụng tái diễn có kết quả nội soi dạ dày tá tràng vào điều trị tại Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. <strong>Kết quả</strong><strong>:</strong> Tỉ lệ trẻ nữ là 51,8% trẻ nam là 42,8% trẻ, tỉ lệ trẻ từ 10-15 tuổi chiếm 65%, 5-9 tuổi chiếm 35% số trẻ đau bụng tái diễn được nội soi dạ dày tá tràng. Triệu chứng hay gặp nhất kèm theo đau bụng tái diễn là buồn nôn và nôn 36.1%, tiếp theo là ợ hơi ợ chua chiếm 34.9%. Kết quả nội soi dạ dày tá tràng: Có 16.9% bình thường trên hình ảnh nội soi, 47% trẻ viêm dạ dày, 31.3% viêm dạ dày + tá tràng và 4.8% trẻ có loét. Những trẻ tiền sử gia đình có người viêm loét dạ dày tá tràng, trẻ từ 10-14 tuổi và trẻ nam tỉ lệ tổn thương cao hơn những trẻ không có người viêm loét dạ dày tá tràng trong gia đình, trẻ 5-9 tuổi và trẻ nữ, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Trẻ đau ở vùng thượng vị, buồn nôn và nôn, ợ hơi ợ chua, đầy hơi tỉ lệ nội soi có tổn thương cao hơn tỉ lệ nội soi không tổn thương, khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.</p>Đỗ Thái SơnLê Thị Kim DungHoàng Thị HuếTrần Nhân Duật
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17377PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI MỘT CƠ SỞ Y TẾ MIỀN NAM NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17378
<p><strong>Mở đầu:</strong> Bệnh thận mạn tính là nguyên nhân tử vong hàng đầu và ngày càng gia tăng tỷ lệ tử vong trong hai thập kỷ qua, ảnh hưởng đến hơn 10% dân số toàn cầu. Nghiên cứu này nhằm phân tích tình hình sử dụng kháng sinh và đánh giá tính hợp lý trong việc điều trị bệnh thận mạn tại một cơ sở y tế miền nam năm 2025. <strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> 1) Mô tả tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân bệnh thận mạn điều trị nội trú. 2) Đánh giá tính hợp lý trong sử dụng thuốc kháng sinh và xác định một số yếu tố liên quan về sử dụng thuốc trên bệnh thận mạn điều trị nội trú. <strong>Đối tượng – phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả, hồi cứu số liệu trên 115 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, chẩn đoán mắc bệnh thận mạn và có sử dụng kháng sinh tại một cơ sở y tế miền nam trong thời gian từ 01/01/2025 đến 30/06/2025. <strong>Kết quả:</strong> Bệnh nhân thận mạn có độ tuổi trung bình 66,1 ± 14,2 tuổi, chủ yếu mắc đái tháo đường (27,83%) và suy tim (21,74%). Ceftriaxon là kháng sinh phổ biến nhất (69,57%), với thời gian điều trị chủ yếu từ 8-14 ngày (55,65%). Phác đồ đơn độc chiếm 87,83%, 95,65% bệnh nhân cải thiện lâm sàng, cho thấy hiệu chỉnh liều kháng sinh quan trọng trong giảm nguy cơ chạy thận nhân tạo. <strong>Kết luận – Kiến nghị:</strong> Tỷ lệ hiệu chỉnh liều kháng sinh theo khuyến cáo trong điều trị bệnh thận mạn còn thấp. Các kiến nghị bao gồm: 1) Tăng cường đào tạo cho bác sĩ và dược sĩ về đánh giá chức năng thận và điều chỉnh liều. 2) Xây dựng quy trình chuẩn trong kê đơn và hiệu chỉnh liều. 3) Tăng cường theo dõi chức năng thận định kỳ. 4) Khuyến khích sử dụng phác đồ đơn trị liệu. 5) Nâng cao nhận thức bệnh nhân về sử dụng thuốc đúng liều và tuân thủ điều trị.</p>Hồ Thúy HằngTrần Công LuậnNguyễn Hồ Thế PhươngHồ Minh ChánhHồ Minh ThắngNguyễn Thị Ngọc Mai
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17378ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ NGHE KÉM Ở TRẺ NHŨ NHI QUA CHƯƠNG TRÌNH TẦM SOÁT HAI GIAI ĐOẠN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17379
<p><strong>Mở đầu:</strong> Nghe kém bẩm sinh là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng. Việc tầm soát sớm đóng vai trò then chốt trong việc can thiệp kịp thời nhằm tối ưu hóa sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. <strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát tỷ lệ nghe kém ở trẻ nhũ nhi thông qua chương trình tầm soát thính lực hai giai đoạn bằng phương pháp đo âm ốc tai kích thích thoáng qua (Transitory evoked otoacoustic emission - TEOAE) và điện thính giác thân não tự động (Automated auditory brainstem response - AABR) tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 919 trẻ nhũ nhi được sinh và tầm soát thính lực tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ tháng 09/2024 đến tháng 05/2025. Trẻ được tầm soát giai đoạn 1 bằng TEOAE. Những trường hợp có kết quả "Không đạt" sẽ được hẹn tầm soát giai đoạn 2 bằng AABR. Tỷ lệ nghe kém và tỷ lệ hoàn tất tầm soát được phân tích bằng thống kê mô tả. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ trẻ có kết quả "Không đạt" sau tầm soát giai đoạn 1 bằng TEOAE là 5,2% (48/919). Trong số 48 trẻ này, chỉ có 18 trẻ quay lại thực hiện tầm soát giai đoạn 2 bằng AABR, đạt tỷ lệ hoàn tất là 37,5%. Sau khi đo AABR, có 7 trẻ cho kết quả "Không đạt". Tỷ lệ trẻ nghi ngờ nghe kém chung cuộc sau quy trình tầm soát hai giai đoạn là 0,8% (7/919). <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ trẻ nghi ngờ nghe kém trong nghiên cứu là 0,8%, phù hợp với các dữ liệu trong khu vực châu Á. Tuy nhiên, tỷ lệ mất theo dõi sau tầm soát giai đoạn 1 còn rất cao (62,5%), đây là một thách thức lớn cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả của chương trình tầm soát</p>Lý Xuân QuangPhan Thảo Định
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17379ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TÂN BỔ TRỢ Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ CÓ HER2 (+) TẠI BỆNH VIỆN K
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17380
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ trước kết hợp thuốc kháng HER2 ở người bệnh ung thư vú có HER2 dương tính chưa phẫu thuật ngay. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 70 người bệnh ung thư vú được điều trị hóa trị bổ trợ trước có kết hợp thuốc kháng HER2 tại Bệnh viện K - Cơ sở Quán Sứ từ tháng 1 năm 2021 đến tháng 12 năm 2024. <strong>Kết quả:</strong> Trong số 70 người bệnh, 48,57% được chẩn đoán ở giai đoạn sớm có khả năng phẫu thuật ngay. Tỉ lệ dùng hóa chất kết hợp Trastuzumab có và không có Pertuzumab lần lượt là 74,29% và 25,71%. Có 98,06% người bệnh đáp ứng điều trị trên lâm sàng. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học (pCR) đạt 53,85% ở nhóm hóa chất kết hợp Trastuzumab và 77,78% ở nhóm kết hợp Trastuzumab và Pertuzumab. 70/70 người bệnh đều phẫu thuật được sau điều trị bổ trợ trước, trong đó 5 người bệnh được phẫu thuật tạo hình, 1 người bệnh phẫu thuật bảo tồn tuyến vú. Tác dụng không mong muốn trên hệ tạo huyết chủ yếu gặp độ 0 và 1 chiếm 55,7%. Rụng tóc và mệt mỏi là 2 độc tính có tỉ lệ cao nhất. Giảm LVEF ≥10% gặp ở một số trường hợp, đa số ở mức độ nhẹ và tự hồi phục, trong đó có một người bệnh phải dừng điều trị do độc tính tim mạch. <strong>Kết luận:</strong> Bổ sung thuốc kháng HER2 vào phác đồ hóa trị bổ trợ trước giúp nâng cao rõ rệt tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học, góp phần làm giảm giai đoạn bệnh, tăng tỷ lệ phẫu thuật triệt căn và bảo tồn vú một cách có ý nghĩa, đặc biệt ở nhóm hóa chất kết hợp với bộ đôi Trastuzumab và Pertuzumab.</p>Phạm Hồng KhoaNguyễn Hương LanNguyễn Trung Thành
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17380GIÁ TRỊ CỦA THANG ĐIỂM TIMI VÀ NT-PROBNP TRONG TIÊN LƯỢNG BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM KHÔNG ST CHÊNH LÊN ĐƯỢC CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA DA
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17381
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nồng độ NT-proBNP ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim (NMCT) không ST chênh lên được can thiệp ĐMV qua da thì đầu tại bệnh viện trung ương Thái Nguyên. So sánh giá trị của thang điểm TIMI và NT-proBNP trong tiên lượng bệnh nhân NMCT không ST chênh lên được can thiệp động mạch vành qua da. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả 55 người bệnh NMCT không ST chênh lên được can thiệp động mạch vành qua da thì đầu tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ 8/2024 đến 8/2025. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 70,11 ± 10,67, với tỉ lệ nữ/nam là 1/1,62. Đa số bệnh nhân nhập viện do đau ngực (96,4%), trong đó cơn đau thắt ngực điển hình chiếm 67,3%; chỉ 3,6% nhập viện vì khó thở. Phân loại Killip cho thấy 65,5% bệnh nhân ở mức độ I, tuy nhiên vẫn ghi nhận 12,7% trường hợp Killip IV. Phân tầng nguy cơ theo thang điểm cho thấy 61,8% bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ trung bình và 7,3% thuộc nhóm nguy cơ cao. Trong thời gian nằm viện, có 12 bệnh nhân gặp biến cố tim mạch, trong đó có 6 ca tử vong (10,9%), 7 ca suy tim, 7 ca rối loạn nhịp (12,7%). Nồng độ NT-proBNP trung bình tại thời điểm nhập viện là 3025,23 pg/ml (dao động từ 50,06 đến 35.000 pg/ml), với giá trị trung vị là 1190,34 pg/ml. Với điểm cắt NT-proBNP ≥ 860 pg/ml và điểm TIMI ≥ 3,5 tại thời điểm nhập viện, khả năng dự báo biến cố tim mạch đạt mức ý nghĩa thống kê cao (p < 0,05). <strong>Kết luận:</strong> Nồng độ NT-proBNP và thang điểm TIMI có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân có biến cố và không có biến cố (với mức ý nghĩa thống kê p<0,05). Nồng độ NT-proBNP ≥ 860 pg/ml phối hợp với điểm TIMI ≥ 3,5 điểm có ý nghĩa tiên lượng biến cố tim mạch cao tại thời điểm bệnh nhân nhập viện.</p>Nguyễn Văn ThiệpĐặng Đức Minh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17381NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH Ở BỆNH NHÂN GLÔCÔM GÓC MỞ THIẾU NIÊN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17382
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm chẩn đoán hình ảnh của bệnh nhân Glôcôm góc mở thiếu niên. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Bệnh nhân được chẩn đoán là Glôcôm góc mở thiếu niên. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2025 tại Bệnh viện Mắt Trung Ương. <strong>Kết quả: </strong>Nghiên cứu được thực hiện trên 67 mắt của 34 bệnh nhân, có độ dày giác mạc trung tâm trung bình là: 538.33±40.62 µm, chủ yếu là nhóm giác mạc mỏng và bình thường. Tình trạng góc tiền phòng: Góc cựa củng mạc trung bình (SSA): 61.21 ± 7.31°, độ mở góc (AOD-500) trung bình là 0.33 ± 0.10 mm², có 29.9% số mắt có dải tăng phản xạ phủ lên dải bè, 58.2% quan sát thấy ống Schlemm ở vị trí 3h hoặc 9h. Viền thị thần kinh (RNFL): trung bình: 74.75 ± 18.26 µm, phía dưới: 87.22 ± 28.4 µm, phía trên: 90.73 ± 28.79 µm, phía mũi: 63.13 ± 14.25 µm, phía thái dương: 58.28 ± 17.53 µm. Diện tích đĩa thị: 2.26 ± 0.45 mm², diện tích viền thị thần kinh: 0.88 ± 0.33 mm², thể tích lõm đĩa: 0.68 ± 0.46 mm<sup>3</sup>, C/D trung bình: 0.76 ± 0.11, C/D theo chiều dọc: 0.73 ± 0.12. Thị trường: MD: -7.68 ± 8.93 dB, PSD: 4.62 ± 3.51 dB. Có mối tương quan có ý nghĩa thống kê với nhãn áp trước điều trị với: quan sát thấy ống Schlemm ở vị trí giải phẫu, tình trạng đĩa thị, tổn thương thị trường. Không có mối tương quan có ý nghĩa thống kê với nhãn áp trước điều trị với: độ dày giác mạc trung tâm, các chỉ số về độ mở góc tiền phòng, màng tăng phản xạ phủ lên dải bè, không có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa quan sát thấy ống Schlemm và màng tăng phản xạ. <strong>Kết luận: </strong>JOAG là một nhóm bệnh lý phức tạp. Bên cạnh các khám nghiệm lâm sàng có ý nghĩa chẩn đoán các phương tiện chẩn đoán hình ảnh góp phần đáng kể vào việc hiểu biết về cơ chế bệnh sinh và các tổn hại đặc thù của đĩa thị. Các dấu hiệu OCT góc tiền phòng cho thấy hình ảnh tồn lưu tổ chức trung phôi (thể hiện qua màng tăng phản xạ) đi kèm sự không xuất hiện của ống Schlemm cho thấy sự trở lưu nằm trong góc tiền phòng và trước ống. Trong một số trường hợp khác khi không quan sát thấy đặc điểm của vùng bè trên soi góc thì thường không thấy ống Schlemm trên OCT gợi ý về sự thiểu sản của ống gây tăng nhãn áp.</p>Đoàn Đức LongĐỗ TấnNguyễn Thị Thanh Hương
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17382ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ TÌNH TRẠNG KHÁNG KHÁNG SINH Ở BỆNH NHÂN NỮ BỊ VIÊM BÀNG QUANG DO VI KHUẨN TẠI KHOA NGOẠI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HẢI PHÒNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17383
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân (BN) nữ bị viêm bàng quang (VBQ) do vi khuẩn tại khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng từ tháng 8/2024 đến tháng 2/2025 và mô tả tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Tổng số 43 BN nữ được chẩn đoán VBQ tại khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng từ tháng 8/2024 đến tháng 2/2025. Thiết kế nghiên cứu là mô tả hàng loạt ca bệnh. <strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình 48,7 ± 20 tuổi. Khoảng 1/3 số BN đã có tiền sử nhiễm khuẩn tiết niệu (NKTN) trước đây. Về triệu chứng, hầu hết các BN có tiểu buốt, tiểu rắt nhưng chỉ một nửa số BN có tiểu máu, tiểu nhiều lần và 20-30% số BN có tiểu khó hay đau hạ vị. Về triệu chứng kích thích bàng quang, đa số BN có tiểu nhiều ban ngày. Sau điều trị, hơn 3/4 số bệnh nhân hết triệu chứng trong 3 - 5 ngày. Đa số các BN có hồng cầu và bạch cầu trong nước tiểu nhưng không phải bệnh nhân nào cũng có Nitrit (10/43). Trên siêu âm, chỉ gần 50% số BN có dấu hiệu dày thành bàng quang. Về phổ vi khuẩn: E.Coli hay gặp nhất (32/43), tiếp theo là Proteus (5/43). Nhóm Beta-lactam và Ciprofloxacin có tỷ lệ kháng cao. Kháng sinh nhóm Aminoglycoside có tỷ lệ nhạy cao. Kháng sinh nhóm Carbapenem hoàn toàn không bị kháng. <strong>Kết luận: </strong>VBQ ở phụ nữ có các triệu chứng kích thích bàng quang và tổn thương niêm mạc bàng quang. Vi khuẩn hay gặp là E.Coli, có tỷ lệ kháng cao với các kháng sinh truyền thống điều trị NKTN.</p>Đỗ Minh TùngĐào Thị Ngọc AnhBùi Thị ThươngNguyễn Thị Kim CúcNguyễn Tiến DũngBùi Thanh HiềnVũ Toàn ThắngNguyễn Thị Thương
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17383ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ DẠ DÀY ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17384
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân ung thư dạ dày điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. <strong>Phương pháp: </strong>Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả kết hợp hồi cứu, trên 44 bệnh nhân ung thư dạ dày tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, từ tháng 06/2021 đến tháng 06/2023. <strong>Kết quả:</strong> Bệnh nhân chủ yếu biểu hiện đau thượng vị (97,7%), buồn nôn – nôn (72,7%), chán ăn (47,7%) và sụt cân (31,8%), nuốt khó ít gặp nhất (2,3%). Triệu chứng thực thể thường gặp là điểm đau thành bụng (97,7%), thiếu máu (45,5%) và báng bụng (20,5%), không ghi nhận di căn xa. Đa số bệnh nhân thuộc nhóm ASA 2 (61,4%). Thiếu máu nhẹ chiếm 45,5%, albumin bình thường 50%, CEA tăng 68,2%. Siêu âm phát hiện khối u 43,9% và hạch 4,9%. CT phát hiện khối u 100%, mất cấu trúc lớp 90,9% và di căn hạch 52,3%, không có xâm lấn tạng lân cận. Khối u chủ yếu ≤ 3 cm (50%), vị trí thường gặp nhất là hang môn vị (66%)</p>Tài Nữ Tuyết LamNguyễn Trọng Nhân
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17384TÁI TẠO MỎM VẸT BẰNG MỘT PHẦN CHỎM QUAY TRONG TAM CHỨNG BI THẢM VÙNG KHUỶU: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG VÀ TỔNG QUAN Y VĂN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17385
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Báo cáo một trường hợp tái tạo mỏm vẹt bằng mảnh chỏm quay trong tam chứng bi thảm khuỷu tay type III theo phân loại Regan-Morrey và so sánh hiệu quả các phương pháp tái tạo mỏm vẹt qua tổng quan y văn. <strong>Phương pháp:</strong> Bệnh nhân nam 35 tuổi bị chấn thương tam chứng bi thảm khuỷu tay sau tai nạn giao thông, được điều trị chậm trễ sau 6 tuần. Phẫu thuật được thực hiện qua đường mổ tam đầu cơ khuỷu, sử dụng mảnh chỏm quay gãy để tái tạo mỏm vẹt, kết hợp kết hợp xương chỏm quay bằng nẹp khóa và phục hồi dây chằng bên ngoài cũng như bên trong. <strong>Kết quả:</strong> Sau 9 tháng theo dõi, bệnh nhân có vết thương lành tốt, gấp cổ tay tốt, tầm vận động gấp bình thường, duỗi thiếu 20°, sấp thiếu 10°, ngửa bình thường. Điểm Mayo khuỷu tay đạt 85 điểm. Không có biến chứng nghiêm trọng. <strong>Kết luận:</strong> Tái tạo mỏm vẹt bằng mảnh chỏm quay cho kết quả lâm sàng tốt nhất so với các phương pháp khác. Kỹ thuật này có ưu điểm sẵn có tại chỗ mổ, có sụn khớp tự nhiên, liền xương nhanh và ít biến chứng, là lựa chọn ưu tiên cho gãy mỏm vẹt type III trong tam chứng bi thảm.</p>Lê Gia Ánh ThỳNguyễn Viết TânLê Minh KhoaTôn Thị Thanh Thảo
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17385ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CÁC BỆNH NHÂN GÃY KÍN ĐẦU DƯỚI XƯƠNG QUAY ĐƯỢC PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG NẸP KHÓA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17386
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng các bệnh nhân gãy kín đầu dưới xương quay được phẫu thuật kết hợp xương nẹp khóa tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ. <strong>Phương pháp: </strong>Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, trên 40 bệnh nhân được chẩn đoán gãy kín đầu dưới xương quay được phẫu thuật kết hợp xương nẹp khóa ở khoa Ngoại Chấn Thương tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 3 năm 2024. <strong>Kết quả:</strong> Gãy đầu dưới xương quay chủ yếu do tai nạn giao thông (60,0%) với cơ chế chấn thương gián tiếp chiếm ưu thế (77,5%). Các triệu chứng sưng nề, đau chói và biến dạng cổ tay xuất hiện ở tất cả bệnh nhân, không ghi nhận tổn thương mạch máu – thần kinh hay biến chứng gãy xương. Tổn thương phối hợp chiếm 12,5%, chủ yếu là chấn thương phần mềm và các chấn thương khác. Trên X-quang, đường gãy ngang chiếm 92,5%, gãy không phạm khớp chiếm 70,0%. Theo phân loại AO, loại A chiếm đa số (70,0%), tiếp đến loại B (25,0%) và loại C (5,0%).</p>Trần Thị Thu ThuỷTrương Hải Đăng
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17386ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở NGƯỜI BỆNH NHIỄM KHUẨN HUYẾT ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH KHÁNG SINH VANCOMYCIN TRONG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THANH VŨ MEDIC BẠC LIÊU NĂM 2023-2024
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17387
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Nhiễm khuẩn huyết là một mối đe dọa nghiêm trọng trên toàn cầu, gây ra hàng triệu ca tử vong mỗi năm và là thách thức lớn trong điều trị. <strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> (1) Xác định đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh nhiểm khuẩn huyết; (2) Xác định tỷ lệ cấy máu dương tính và đặc điểm chỉ định vancomycin trong điều trị nhiễm khuẩn huyết tại Bệnh viện Đa khoa Thanh Vũ Medic Bạc Liêu. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang với 60 hồ sơ bệnh án của người bệnh điều trị nội trú ở các khoa Cấp cứu, Hồi sức cấp cứu, Nội và Ngoại, có chỉ định sử dụng kháng sinh vancomycin trong điều trị nhiễm khuẩn huyết tại Bệnh viện Đa khoa Thanh Vũ Medic Bạc Liêu từ ngày 01/01/2023 - 30/06/2024. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình là (67,8 ± 11,9) tuổi, tỷ lệ thừa cân/béo phì (60,4%). Dấu hiệu sinh tồn, nhiệt độ cơ thể (>37,5<sup>0</sup>C) chiếm 26,6%, nhịp thở (>20 lần/phút) chiếm 68,3%, mạch (>100 lần/phút) chiếm 36,7%, huyết áp tâm thu (>140 mmHg) chiếm 25,0%. Cận lâm sàng, bạch cầu tăng (98,3%), nồng độ Procalcitonin (>0,04 ng/mL) chiếm 100%, lactate máu tĩnh mạch (>2,2 mmol/L) chiếm 88,3%, PaCO<sub>2</sub> tăng (38,3%), NEU% tăng (80%). Tim mạch là nhóm bệnh mắc kèm nhiều nhất (70%). Có 95% người bệnh (Clcr <90 ml/phút). Đường vào gây nhiễm khuẩn huyết là da mô mềm (28,3%). Điều trị theo kinh nghiệm (86,7%). Thời gian trung bình sử dụng vancomycin ở nhóm ≥65 tuổi dài ngày hơn so với nhóm <65 tuổi. <strong>Kết luận:</strong> Tổng 60 hồ sơ bệnh án được khảo sát, phần lớn người bệnh được chỉ định vancomycin trong điều trị nhiễm khuẩn huyết là người cao tuổi có bệnh lý tim mạch và suy giảm chức năng thận. Điều trị chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, thời gian sử dụng vancomycin ở nhóm người bệnh ≥65 tuổi nhiều hơn.</p>Trần Quốc TườngNguyễn Thị Phương ThảoMai Hữu ThạchPhạm Hoàng DũngLê Đăng KhoaNguyễn Thị Thảo NhiTrần Văn ĐệNguyễn Văn Đời
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17387KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN VIÊM BỜ MI
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17388
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân viêm bờ mi. <strong>Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả loạt ca. 168 mắt của 87 bệnh nhân chẩn đoán viêm bờ mi tại bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025. Quy trình nghiên cứu được tiến hành: Khám, sàng lọc bệnh nhân vào nghiên cứu. Thu thập các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng bằng bảng câu hỏi, khám lâm sàng và cận lâm sàng qua sinh hiển vi, máy OCULUS Keratograph® 5M. Phân loại viêm bờ mi theo giải phẫu (viêm bờ mi trước, sau, hỗn hợp) và chức năng (viêm bờ mi nhẹ, trung bình, nặng). Viêm bờ mi sau và hỗn hợp mức độ nặng được nặn tuyến đánh giá khả năng nặn tuyến (MGE score). Số liệu được thu thập và nghiên cứu đánh giá yếu tố liên quan. <strong>Kết quả</strong>: Tuổi trung bình 62,1±11,8 tuổi. Nữ giới chiếm cao hơn (79,3%). Đa số là thị lực tốt (81,2%). Viêm bờ mi thường gặp triệu chứng: cộm vướng, chảy nước mắt, giãn mạch, cương tụ bờ mi và tắc lỗ đổ tuyến. Trong đó, triệu chứng cơ năng và thực thể có tương quan mạnh nhất với tình trạng viêm bờ mi nặng là cộm vướng (p<0,001; OR=23,2) và tắc lỗ đổ tuyến meibomius (p=0,028, OR=2,2). OSDI trung bình 36,6 ±13,3; đa số là nặng (64,9%). Chất lượng chất tiết tuyến (MQ score) trung bình 1,16 ±0,06. TBUT trung bình 5,0±1,7 giây với TBUT ≤5 giây chiếm chủ yếu (66,1%). Meiboscore trung bình 2,82 ± 0,1. MGE trung bình 1,8 ± 0,7. Trong nghiên cứu ghi nhận đa số là viêm bờ mi hỗn hợp (63,1%) và viêm bờ mi nặng (64,9%). <strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu ghi nhận đa số là viêm bờ mi hỗn hợp và bệnh mức độ nặng. Tình trạng khô mắt nặng theo OSDI là chủ yếu. Thay đổi cấu trúc, chức năng tuyến meibomius rõ rệt.</p>Đoàn Kim ThànhĐinh Hoàng YếnHuỳnh Võ Mai QuyênDương Nguyễn Hồng Hải
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17388ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGƯỜI BỆNH NHỒI MÁU NÃO NHẸ ĐƯỢC TIÊU HUYẾT KHỐI
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17389
<p>Điều trị tiêu huyết khối cho nhóm người bệnh nhồi máu não nhẹ vẫn còn nhiều tranh cãi. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị người bệnh nhồi máu não nhẹ được tiêu huyết khối bằng alteplase tại Trung tâm Đột quỵ Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 11 năm 2023 đến tháng 11 năm 2024. Nghiên cứu được thiết kết dạng nghiên cứu quan sát, hồi cứu, theo dõi dọc, thu tuyển được 36 người bệnh thỏa mãn trong số 932 người bệnh nhồi máu não nhẹ nhập viện trong 24 giờ đầu của bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy: tuổi trung bình 66,33±9,37; nam giới chiếm 66,7%; tỉ lệ nhập viện trong 3 giờ đầu chiếm 63,9%; tỉ lệ nhồi máu não vùng hạch nền quanh não thất chiếm 61,1%; tỉ lệ suy giảm thần kinh sớm chiếm 36,1%; tỉ lệ chuyển dạng chảy máu là 2,8%; tỉ lệ tử vong ngày 90 là 2,8%; tỉ lệ đạt kết quả hồi phục chức năng thần kinh tốt mRS 0-1 ngày 90 là 80,6%; một số yếu tố liên quan tới kết quả điều trị tốt là suy giảm thần kinh sớm (OR 0,462 (95% CI 0,257-0,83), p<0,001) và chỉ số LDL_C (OR 0,316 (95% CI 0,11-0,905), p=0,032). Kết luận: Điều trị tiêu huyết khối ở nhóm nhồi máu não nhẹ có thể mang lại tỷ lệ phục hồi chức năng thần kinh cao, tuy nhiên cần lưu ý đến các yếu tố như suy giảm thần kinh sớm và LDL-C để tiên lượng kết quả.</p>Nguyễn Tuấn AnhMai Duy TônNguyễn Đức LongNguyễn Thị Tuyết TrinhNguyễn Tiến Dũng
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17389SO SÁNH CHỈ SỐ TRIGLYCERID-GLUCOSE (TYG) VÀ HBA1C Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17390
<p>Đái tháo đường type 2 đang dần trở thành mối đe dọa sức khỏe toàn cầu với số ca mắc mới và số ca biến chứng ngày càng gia tăng. Kiểm soát đường huyết có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế biến chứng ở bệnh nhân đái tháo đường type 2. Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng chỉ số triglycerid-glucose (TyG) là 1 chỉ số đơn giản, chi phí thấp có thể sử dụng để theo dõi việc kiểm soát đường máu và tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường type 2. Mục tiêu: Khảo sát giá trị chỉ số TyG ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp; Mô tả mối liên quan giữa chỉ số TyG và HbA1C ở các bệnh nhân này. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 144 bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị tại khoa Nội 3 bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp, được chia thành 2 nhóm dựa vào chỉ số HbA1C (<7 và ≥7%). Phương pháp: mô tả cắt ngang. Kết quả: TyG ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 9,56 ± 0,87; TyG ở nhóm bệnh nhân kiểm soát đường huyết chưa tốt cao hơn so với nhóm kiểm soát đường huyết tốt. TyG liên quan với HbA1C (r = 0,359; p < 0,001), cholesterol toàn phần (r = 0.369; p < 0.001), triglycerid (r = 0,718; p < 0,001) và chỉ số TG/HDL-C (r = 0,643; p < 0,001). Kết luận: TyG là chỉ số đơn giản, rẻ tiền để theo dõi tình trạng kiểm soát đường huyết ở các bệnh nhân đái tháo đường type 2.</p>Nguyễn Thị Phương ThảoNguyễn Thị Phương MaiĐỗ Ngọc HảiDương Thị Minh ThoaNgô Thanh Hường
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17390HIỆU QUẢ CỦA NIVOLUMAB KẾT HỢP HOÁ TRỊ TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY GIAI ĐOẠN MUỘN TẠI VIỆT NAM: BÁO CÁO LOẠT CA BỆNH
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17391
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Trình bày kết quả điều trị phối hợp hóa trị liệu và liệu pháp miễn dịch (nivolumab) ở 4 bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn muộn. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> mô tả loạt ca bệnh với 4 bệnh nhân, trong đó 3 bệnh nhân được điều trị kết hợp phác đồ hóa trị mFOLFOX6 với nivolumab, 1 bệnh nhân điều trị phác đồ SOX (TS-1 + oxaliplatin) kết hợp nivolumab. Đáp ứng điều trị được đánh giá theo tiêu chuẩn RECIST 1.1; tác dụng phụ được theo dõi và phân loại theo CTCAE. <strong>Kết quả:</strong> Hai bệnh nhân đạt đáp ứng toàn phần (CR), hai bệnh nhân còn lại đều đạt đáp ứng tốt và đang tiếp tục điều trị. Trong đó có một bệnh nhân đạt đáp ứng kéo dài, với thời gian sống không tiến triển (PFS) hiện đạt 40 tháng. Điều trị được dung nạp tốt, các độc tính đều ở độ 1. <strong>Kết luận:</strong> Điều trị phối hợp hóa trị kết hợp nivolumab cho thấy hiệu quả khả quan ở nhóm bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn muộn, trong khi độc tính nghiêm trọng rất hạn chế. Kết quả bước đầu này gợi mở tiềm năng ứng dụng rộng rãi hơn trong thực hành lâm sàng cho nhóm bệnh nhân này.</p>Nguyễn Thị Thu HàNguyễn Thị Thanh HuyềnNguyễn Văn TuấnQúach Thanh DungĐoàn Trung Hiệp
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17391GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA GIAO THỨC SIÊU ÂM NHANH TRONG SỐC (RUSH) TRONG PHÂN LOẠI CÁC THỂ SỐC CHƯA RÕ NGUYÊN NHÂN: MỘT NGHIÊN CỨU CẮT NGANG TẠI TRUNG TÂM CẤP CỨU A9, BỆNH VIỆN BẠCH MAI
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17392
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá độ chính xác chẩn đoán của giao thức siêu âm nhanh trong sốc (RUSH) trong việc phân loại bốn thể sốc (giảm thể tích, tim, tắc nghẽn, phân bố) ở bệnh nhân sốc chưa rõ nguyên nhân tại khoa cấp cứu. <strong>Đối tượng và Phương pháp:</strong> Chúng tôi tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu tại Trung tâm Cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2024 đến tháng 10/2025. Bệnh nhân người lớn (≥18 tuổi) nhập viện với chẩn đoán sốc (Huyết áp tâm thu <90 mmHg hoặc chỉ số sốc >1) được đưa vào nghiên cứu. Bệnh nhân được thực hiện siêu âm RUSH tại giường để phân loại sốc. Kết quả này được so sánh với "Tiêu chuẩn vàng", là chẩn đoán xác định cuối cùng (dựa trên tổng hợp dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng chuyên sâu, và đáp ứng điều trị sau 24 giờ). Chúng tôi tính toán độ nhạy (Se), độ đặc hiệu (Sp), giá trị dự đoán dương (PPV), giá trị dự đoán âm (NPV), và chỉ số đồng thuận Kappa (κ) của Cohen. <strong>Kết quả:</strong> Trong 110 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn, 100 bệnh nhân (tuổi trung vị 66 [IQR 55–75], 60,0% là nam) được đưa vào phân tích chẩn đoán cuối cùng. Các chẩn đoán xác định bao gồm: Sốc phân bố (58%), Sốc tim (22%), Sốc giảm thể tích (13%), và Sốc tắc nghẽn (7%). Giao thức RUSH đạt độ chính xác chẩn đoán tổng thể là 88,0%. Chỉ số đồng thuận Kappa là 0,799 (khoảng tin cậy 95%: 0,669 – 0,929, p < 0,001), cho thấy mức độ phù hợp Tốt. RUSH cho thấy giá trị chẩn đoán cao nhất trong Sốc tim (Se 90,9%; Sp 96,2%) và Sốc tắc nghẽn (Se 85,7%; Sp 98,9%). Giá trị dự đoán âm (NPV) trong việc loại trừ Sốc tim và Sốc tắc nghẽn lần lượt là 97,4% và 98,9%. <strong>Kết luận:</strong> Giao thức RUSH là một công cụ chẩn đoán nhanh, khả thi và có độ chính xác cao tại giường. Nó đặc biệt đáng tin cậy trong việc phân loại sốc tim và loại trừ sốc tắc nghẽn, giúp định hướng xử trí ban đầu kịp thời cho bệnh nhân sốc chưa rõ nguyên nhân tại khoa cấp cứu.</p>Phạm Xuân ThànhNguyễn Hữu QuânNguyễn Anh Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17392CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI BỆNH SAU CAN THIỆP MẠCH VÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17393
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh sau can thiệp mạch vành qua da và xác định một số yếu tố liên quan. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 138 bệnh nhân đã can thiệp mạch vành qua da. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi chuẩn hóa sử dụng thang đo HeartQoL, gồm hai lĩnh vực thể chất và cảm xúc. Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 26.0 với các kiểm định t-test và ANOVA, mức ý nghĩa p < 0,05. <strong>Kết quả: </strong>Điểm trung bình chất lượng cuộc sống thể chất là 2,62 ± 0,38 và cảm xúc là 2,90 ± 0,25. Nam giới, người sống ở thành thị, bệnh nhân phát hiện bệnh qua khám sức khỏe và nhóm “rất hài lòng” với chăm sóc y tế có điểm trung bình cao hơn, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). <strong>Kết luận: </strong>Can thiệp mạch vành qua da giúp cải thiện rõ rệt chất lượng cuộc sống của người bệnh, đặc biệt ở khía cạnh cảm xúc. Cần duy trì tư vấn, chăm sóc và hỗ trợ phục hồi sau can thiệp để tối ưu hiệu quả điều trị lâu dài.</p>Nguyễn Phước ThanhNguyễn Hùng Trấn
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17393MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN CHỨNG VÀ DỰ PHÒNG CÁC BIẾN CHỨNG VỀ MẮT Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI BỆNH VIỆN MẮT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17394
<p>Mục tiêu: Xác định tỷ lệ có kiến thức và thực hành đúng về biến chứng và dự phòng các biến chứng về mắt ở người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Mắt TP.HCM, đồng thời tìm hiểu các yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 450 người bệnh đái tháo đường type 2 từ tháng 05-08/2025. Sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc gồm 15 câu kiến thức, 8 câu thực hành và 10 câu về yếu tố liên quan. Phân tích thống kê sử dụng SPSS 26.0, áp dụng kiểm định Chi-square và hồi quy logistic đa biến (p<0,05). Kết quả: Tỷ lệ có kiến thức tốt chỉ đạt 10,2% với điểm trung bình 9,98 ± 2,71/15 điểm. Tỷ lệ thực hành tốt đạt 24,7% với điểm trung bình 5,66 ± 1,15/8 điểm. Các yếu tố liên quan đến kiến thức kém: tuổi ≥60 (OR=1,18), học vấn ≤THCS (OR=1,92), có biến chứng mắt (OR=1,33), chưa được thông tin (OR=1,26). Yếu tố liên quan thực hành kém: kiến thức kém (OR=2,18), chi phí cao (OR=1,35). Rào cản chính: thiếu thời gian (32,7%), chi phí cao (25,1%), thời gian chờ đợi lâu (23,6%). Kết luận: Kiến thức và thực hành dự phòng biến chứng mắt ở người bệnh đái tháo đường type 2 còn hạn chế. Cần tăng cường giáo dục sức khỏe phân tầng theo nhóm tuổi và trình độ học vấn, kết hợp giảm rào cản tiếp cận dịch vụ khám mắt.</p>Trương Ngọc Phương ThuLê Anh TuấnNguyễn Chí Trung Thế TruyềnĐỗ Thị Thu HiềnHuỳnh Thị PhượngHà Minh Hữu Tài
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17394KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CĂNG THẲNG TẠI THỜI ĐIỂM CHUYỂN PHÔI VÀ THỜI ĐIỂM THỬ MÁU CÓ THAI Ở PHỤ NỮ THỤ TINH ỐNG NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17395
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá mức độ căng thẳng của bệnh nhân điều trị thụ tinh ống nghiệm (IVF) tại Bệnh viện Hùng Vương tại thời điểm chuyển phôi và thử máu có thai bằng bộ bảng câu hỏi đo lường mức độ căng thẳng (PSS), và chỉ số cảm nhận vô sinh (FPI). <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu dọc trên đối tượng bệnh nhân thực hiện IVF có chuyển phôi trữ đông từ 05/2025 đến 07/2025 tại Bệnh viện Hùng Vương.<strong> Kết quả nghiên cứu: </strong>Dữ liệu 140 phụ nữ ghi nhận tỷ lệ có thai cao (49.3%) ở nhóm bệnh nhân ≤ 30 tuổi. Điểm PSS và FPI tại thời điểm trước chuyển phôi và khi thử máu có dao động nhẹ, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê (p > 0.05 ở tất cả các nhóm). Phân tích hồi quy cho thấy các yếu tố sinh học vẫn giữ vai trò quyết định đến kết cục thai, trong khi điểm PSS và FPI không ảnh hưởng đến kết quả. Sau thất bại chuyển phôi, 97,2% bệnh nhân vẫn mong muốn tiếp tục điều trị và có đến 70,4% mong muốn được các chuyên gia tư vấn riêng để giúp họ giải tỏa căng thẳng. <strong>Kết luận: </strong>PSS và FPI không liên quan có ý nghĩa thống kê với kết quả IVF. Tuy nhiên, việc thực hiện đo lường PSS và FPI giúp các trung tâm xác định được bệnh nhân có nhu cầu hỗ trợ tâm lý, từ đó gợi mở phát triển các chương trình tư vấn, giúp tăng cường trải nghiệm cho bệnh nhân khi điều trị hiếm muộn.</p>Lê Thị Phương DungVõ Thị Thu ThủyPhạm Huy HùngTrần Thị Thanh ThúyTrần Phương HuyHoàng Thị Diễm TuyếtHuỳnh Phúc Khánh MinhVõ Thị Ngọc Diệp
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17395VAI TRÒ CỦA CẮT LỚP VI TÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN ĐAU BỤNG CẤP VÙNG MỘT PHẦN TƯ DƯỚI PHẢI KHÔNG DO CHẤN THƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17448
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Đau bụng cấp vùng ¼ dưới phải thường gặp, có thể do nguyên nhân ngoại khoa hoặc nội khoa. Chẩn đoán dựa trên lâm sàng và xét nghiệm cơ bản thường khó khăn, dễ nhầm lẫn, có thể dẫn đến phẫu thuật không cần thiết hoặc trì hoãn can thiệp. Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) đóng vai trò quan trọng nhờ độ nhạy và độ đặc hiệu cao, cho phép đánh giá toàn diện các tạng trong ổ bụng. <strong>Mục tiêu: </strong>Xác định các nguyên nhân thường gặp và đánh giá giá trị của CLVT trong chẩn đoán đau bụng cấp vùng ¼ dưới phải không do chấn thương. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Báo cáo loạt ca hồi cứu trên tất cả bệnh nhân ≥18 tuổi nhập viện khoa Cấp cứu, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ tháng 1–6/2022 vì đau bụng cấp vùng ¼ dưới phải không do chấn thương và đã được chụp CLVT. Bệnh nhân có tiền sử chấn thương trong 30 ngày trước đó bị loại trừ. <strong>Kết quả: </strong>Viêm ruột thừa, viêm hồi manh tràng – đại tràng lên và sỏi niệu quản phải là những nguyên nhân thường gặp nhất của đau bụng cấp vùng ¼ dưới phải không do chấn thương. CLVT cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao trong chẩn đoán các nguyên nhân này. <strong>Kết luận: </strong>CLVT là một công cụ chẩn đoán hình ảnh đáng tin cậy, giúp hướng dẫn xử trí kịp thời và chính xác</p>Đỗ Hải Thanh AnhNguyễn Thị Thanh ThiênNguyễn Thị Yến NhiTrương Thị Phương Thảo
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17448KHẢO SÁT CẤU TRÚC BÁN PHẦN TRƯỚC NHÃN CẦU BẰNG AS-OCT TRÊN BỆNH NHÂN GLAUCOMA GÓC ĐÓNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17397
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Các cấu trúc bán phần trước nhãn cầu đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của bệnh Glaucoma góc đóng. Chụp cắt lớp quang học bán phần trước (AS-OCT) là phương tiện không xâm lấn, giúp đánh giá chính xác các thông số này. <strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát đặc điểm hình thái bán phần trước nhãn cầu bằng AS-OCT ở bệnh nhân glaucoma góc đóng. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 34 mắt của bệnh nhân được chẩn đoán glaucoma góc đóng nguyên phát. Các thông số được đo bằng AS-OCT trên 2 lát cắt 0<sup>0</sup> và 90<sup>0</sup>. Ghi nhận thị lực và nhãn áp tại thời điểm chụp. <strong>Kết quả: </strong>Độ sâu tiền phòng (ACD) trung bình: 1,95 ± 0,23 mm, phản ánh tiền phòng nông ở hầu hết bệnh nhân. Diện tích tiền phòng (ACA) trung bình: 13,42 ± 1,91 mm². Góc bè - mống mắt (TIA) trung bình: 13,41 ± 4,61°. Khoảng cách mở góc AOD500 trung bình: 197,41 ± 40,9 µm, giá trị nhỏ so với bình thường. Về lâm sàng: nhãn áp trung bình trước phẫu thuật: 26,81 ± 13,14 mmHg. Thị lực trung bình (logMAR): 0,69 ± 0,68. Nhãn áp có tương quan nghịch với ACD, ACA, TIA, AOD, và tương quan thuận với độ cong mống mắt (IC). <strong>Kết luận: </strong>AS-OCT là phương tiện hiệu quả trong đánh giá cấu trúc bán phần trước nhãn cầu, có tính khách quan cao và không xâm lấn. Nhãn áp có tương quan cao với các cấu trúc tiền phòng.</p>Trần Anh TuấnĐoàn Kim ThànhTrang Thanh NghiệpNguyễn Quang ĐạiHuỳnh Hồng Ý
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17397ỨNG DỤNG XÉT NGHIỆM HUMAN PAPILLOMA VIRUS MRNA TRÊN BỆNH NHÂN KHÁM PHỤ KHOA TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG NĂM 2024
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17398
<p><strong>Mục tiêu: </strong>1. Mô tả thực trạng bệnh nhân khám phụ khoa được chẩn đoán nhiễm HPV bằng kĩ thuật mRNA tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng năm 2024. 2. Nhận xét kết quả của xét nghiệm HPV mRNA trong chẩn đoán nhiễm HPV và một số yếu tố liên quan ở những bệnh nhân trên. <strong>Cỡ mẫu:</strong> thuận tiện, thu nhận được 1079 đối tượng phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ trong thời gian nghiên cứu từ 01/06/2024 đến 31/12/2024 tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng. <strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>mô tả cắt ngang. <strong>Kết quả và kết luận: </strong>Tuổi trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 38,54 ± 10,23 tuổi. Có tiền sử can thiệp CTC là 4,6%. Kết quả tế bào học HSIL và LSIL là 0,5% và 0,4%. Soi CTC cho kết quả bình thường (54,7%), viêm (35,9%), vết trắng (0,7%) và u xơ CTC (0,1%). Tỉ lệ nhiễm HPV chiếm 10% đối tượng nghiên cứu, trong đó 12 type nguy cơ cao chiếm tỉ lệ cao nhất (6,8%), nhiễm HPV 16 là 2,4% và HPV 18 là 0,8%, chỉ có 1 phụ nữ đồng nhiễm HPV type 16 và 12 type nguy cơ cao khác (0,1%). Nhóm có tiền sử can thiệp CTC có tỉ lệ nhiễm HPV cao gấp 37,7 lần nhóm không có tiền sử can thiệp (p<0,001). Nhóm có kết quả HPV dương tính có tỉ lệ soi CTC có hình ảnh loạn sản cao gấp 19,4 lần nhóm HPV âm tính. Theo phân tầng nguy cơ, nhóm nhiễm type HPV 16,18 có tỉ lệ soi CTC có hình ảnh loạn sản cao gấp 4,76 lần so với nhóm nhiễm 12 type nguy cơ cao khác. Nhóm có kết quả HPV dương tính có tỉ lệ tế bào học bất thường cao gấp 78,46 lần nhóm HPV âm tính. Theo phân tầng nguy cơ, nhóm nhiễm type HPV 16,18 có tỉ lệ tế bào học bất thường cao gấp 8,75 lần so với nhóm nhiễm 12 type nguy cơ cao khác.</p>Đào Thị Hải YếnĐào Thị Thái Dương
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17398NGHIÊN CỨU TỶ LỆ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ KIỂM SOÁT ĐẠT NỒNG ĐỘ NON-HDL-CHOLESTEROL Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17399
<p><strong>Mục tiêu:</strong> khảo sát tỷ lệ đạt mục tiêu non-HDL-c và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> nghiên cứu mô tả cắt ngang, bệnh nhân khám tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ trong thời gian từ tháng 02 năm 2025 đến tháng 09 năm 2025 được điều trị theo phác đồ của Hội Tim mạch Châu Âu, sau một tháng đánh giá lại nồng độ non-HDL-c và ghi nhận tỷ lệ đạt mục tiêu. <strong>Kết quả:</strong> trên 70 bệnh nhân, tỷ lệ nam giới là 61,4%. Sau một tháng điều trị, tỷ lệ đạt mục tiêu non-HDL-c là 38,6%. Bệnh nhân thừa cân béo phì (23,1% và 47,7%); đái tháo đường (20,7% và 51,2%) và rối loạn lipid máu (26,5% và 66,7%) tỷ lệ đạt mục tiêu non-HDL-c thấp hơn nhóm không có các yếu tố này. <strong>Kết luận:</strong> Bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp sau một tháng điều trị kiểm soát lipid máu có tỷ lệ đạt mục tiêu non-HDL-c là 38,6%. Bệnh nhân thừa cân béo phì; đái tháo đường; rối loạn lipid máu tỷ lệ đạt mục tiêu non-HDL-c thấp hơn nhóm không có các yếu tố này.</p>Huỳnh Bích TrâmNguyễn Thế Vinh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17399ĐÁNG GIÁ KIẾN THỨC TUÂN THỦ TRONG ĐIỀU TRỊ ARV CỦA NGƯỜI BỆNH HIV/AIDS VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI TTYT HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP HCM NĂM 2024
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17400
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kiến thức tuân thủ trong điều trị ARV của người bệnh HIV/AIDS tại Khoa tư vấn điều trị nghiện chất và HIV/AIDS - Trung tâm Y tế huyện Bình Chánh năm 2024 và mô tả các yếu tố liên quan. Nghiên cứu cũng xác định tỷ lệ mức độ kiến thức, mô tả thực hành tuân thủ, và các yếu tố liên quan đến kiến thức tuân thủ điều trị ARV của người bệnh. <strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Một nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp người bệnh HIV/AIDS đang điều trị ARV tại Khoa tư vấn điều trị nghiện chất và HIV/AIDS - TTYT huyện Bình Chánh khi họ đến nhận thuốc định kỳ tại Khoa. Sử dụng bộ công cụ nghiên cứu đánh giá kiến thức về tuân thủ điều trị ARV của Lê Thị Bích Liên và cộng sự (2006).Sử dụng bộ công cụ gồm 11 câu hỏi trắc nghiệm về số lần uống thuốc, khoảng cách, xử lý khi quên thuốc, và các biện pháp nhắc nhở, với tổng điểm từ 0 đến 29. Mức độ kiến thức được chia theo thang Bloom’s cut of point: Đạt (>18 điểm) và Không đạt (<18 điểm). Dùng phần mềm SPSS 20.0 để làm sạch, nhập liệu và phân tích số liệu, sử dụng thống kê mô tả và kiểm định Chi bình phương với độ tin cậy 95%. <strong>Kết quả:</strong> Đa số người bệnh là nam giới (59,0%) , trên 25 tuổi (80,7%), có trình độ học vấn THPT (38,6%), và nghề nghiệp là công nhân (39,8%). Tỷ lệ độc thân chiếm cao nhất (56,6%). Tỷ lệ người bệnh có kiến thức tuân thủ điều trị ARV đạt là 57,8%. 85,5% người bệnh biết ARV là thuốc kháng virus HIV và 74,7% biết phải kết hợp ít nhất 3 loại thuốc trở lên. Tỷ lệ người bệnh biết nguyên tắc uống thuốc 2 lần/ngày, cách nhau 12 tiếng lần lượt là 100% và 89,2%. Về hậu quả của việc không tuân thủ, 89,2% người bệnh biết rằng virus HIV sẽ không được ngăn chặn và 39,8% biết về nguy cơ kháng thuốc.81,9% người bệnh hiểu rằng không tuân thủ điều trị là bỏ một liều thuốc hoặc bỏ một ngày không uống thuốc (80,7%). Khi quên uống thuốc, 90,4% người bệnh có kiến thức đúng là uống bù ngay liều vừa quên.Yếu tố "tham gia tập huấn lần đầu" có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức tuân thủ điều trị ARV (p = 0,002). Các yếu tố khác như giới tính, nhóm tuổi, nghề nghiệp, nơi xét nghiệm HIV lần đầu, lý do bị nhiễm HIV, và trình độ học vấn không có ý nghĩa thống kê. <strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh HIV/AIDS tại TTYT huyện Bình Chánh có kiến thức tuân thủ điều trị ARV đạt là 57,8%. Yếu tố tham gia tập huấn trước điều trị có mối liên quan chặt chẽ với kiến thức tuân thủ điều trị.</p>Lê Thị Kim ChiDương Ngọc Nhi
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17400ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA SECUKINUMAB Ở BỆNH NHÂN VẢY NẾN THỂ MẢNG MỨC ĐỘ TRUNG BÌNH – NẶNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17401
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả điều trị của secukinumab trong điều trị vảy nến thể mảng mức độ trung bình – nặng tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu can thiệp có đối chứng trên 62 bệnh nhân vảy nến thể mảng trung bình – nặng, gồm 31 bệnh nhân điều trị bằng secukinumab và 31 bệnh nhân điều trị bằng các phương pháp cổ điển. Hiệu quả được đánh giá qua chỉ số PASI và DLQI tại thời điểm trước điều trị, sau 4 tuần và 16 tuần. Các tác dụng không mong muốn được theo dõi trong suốt quá trình điều trị. <strong>Kết quả:</strong> Trước điều trị, PASI trung bình hai nhóm tương đương (29,41 ± 4,10 và 29,16 ± 4,79; p = 0,826). Sau 4 tuần, PASI trung bình nhóm secukinumab giảm còn 7,04 ± 2,11 so với 17,50 ± 4,12 ở nhóm cổ điển (p = 0,000); 71% bệnh nhân nhóm secukinumab đạt PASI 75 trong khi nhóm cổ điển không có trường hợp nào. Sau 16 tuần, PASI trung bình nhóm secukinumab là 1,96 ± 1,43 so với 8,96 ± 1,95 ở nhóm cổ điển (p = 0,000); toàn bộ bệnh nhân nhóm secukinumab đạt PASI 75 và 67,7% đạt PASI 90, so với 38,7% và 0% ở nhóm cổ điển. DLQI cải thiện rõ rệt: 1,26 ± 0,89 ở nhóm secukinumab so với 7,45 ± 2,11 ở nhóm cổ điển (p = 0,000). Tác dụng phụ ghi nhận chủ yếu nhẹ, gồm 3 trường hợp lao tiềm ẩn (9,6%) và 1 trường hợp mẩn ngứa (3,2%). <strong>Kết luận:</strong> Secukinumab cho hiệu quả vượt trội và an toàn hơn so với điều trị cổ điển, giúp cải thiện nhanh tổn thương da và nâng cao chất lượng sống ở bệnh nhân vảy nến thể mảng mức độ trung bình – nặng. </p>Phạm Thị Thanh Huyền
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17401KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM DA DẦU BẰNG TACROLIMUS BÔI TẠI CHỖ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17402
<p><strong>Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu:</strong> Viêm da dầu là bệnh da mạn tính thường gặp, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Nghiên cứu thực hiện để đánh giá hiệu quả điều trị viêm da dầu bằng tacrolimus bôi tại chỗ. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang và tự so sánh trước và sau điều trị, được thực hiện tại Khoa Da liễu – Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng (6/2024–2/2025). Đối tượng nghiên cứu: 102 bệnh nhân viêm da dầu không nhiễm nấm được điều trị bằng tacrolimus. <strong>Kết quả chính:</strong> Trước điều trị, đa số bệnh nhân bị tổn thương TCCB mức độ nặng, chiếm tỷ lệ cao nhất với <strong>dát đỏ nặng (57.8%)</strong> và <strong>vảy da nặng (46.1%)</strong>, cho thấy mức độ bệnh trầm trọng ban đầu. Sau 4 tuần bôi tacrolimus, tỷ lệ khỏi hoàn toàn đạt 34.3% (dát đỏ), 44.1% (vảy da), tổng điểm mức độ bệnh cải thiện có ý nghĩa thống kê (p<0.001). <strong>Kết luận:</strong> Tacrolimus bôi tại chỗ hiệu quả trong điều trị viêm da dầu, đặc biệt với tổn thương vùng mặt, và ít tác dụng phụ.</p>Nguyễn Thị LiênĐào Minh ChâuNguyễn Thị Thanh Thanh HuyềnNguyễn Thị Hà Vinh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17402KHẢO SÁT DI CĂN HẠCH CỔ TRONG UNG THƯ THANH QUẢN CÓ CHỈ ĐỊNH CẮT THANH QUẢN TOÀN PHẦN TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY TỪ THÁNG 09/2022 ĐẾN THÁNG 06/2023
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17403
<p><strong>Đặt vấn đề</strong><strong>: </strong>Ung thư thanh quản là bệnh lý mà các tế bào ác tính hình thành trong mô thanh quản, đứng thứ hai trong bệnh lý ung thư đầu cổ với tỷ lệ gần 25% [1]. Ung thư thanh quản có thể điều trị bằng phẫu thuật hay xạ trị. Nạo vét hạch cổ giữ vai trò rất quan trọng trong phẫu thuật cắt thanh quản[4], [5]. Nhằm cung cấp thêm thông tin về tỷ lệ di căn hạch cổ nói chung và tỷ lệ di căn hạch với mỗi nhóm II, III và IV. Nên chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát di căn hạch cổ trong ung thư thanh quản có chỉ định cắt thanh quản toàn phần tại bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 09/2022 đến tháng 06/2023”. <strong>Mục tiêu nghiên cứu</strong><strong>:</strong> Khảo sát di căn hạch cổ trong ung thư thanh quản có chỉ định phẫu thuật cắt thanh quản toàn phần tại Bệnh viện Chợ Rẫy. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả 52 bệnh nhân ung thư thanh quản giai đoạn T3, T4 và được chỉ định phẫu thuật cắt thanh quản toàn phần tại khoa Tai mũi họng bệnh viện Chợ Rẫy. <strong>Kết quả</strong><strong>:</strong> Đặc điểm di căn hạch cổ nhóm II, III, IV; sự thay đổi tỉ lệ di căn hạch cổ theo từng nhóm trước và sau mổ. <strong>Kết luận</strong><strong>:</strong> Bệnh nhân có di căn hạch cổ ở cả 3 nhóm II, III, IV chiếm tỉ lệ cao nhất. Có sự tương quan giữa giai đoạn khối u và sự di căn hạch cổ.</p>Hồ Thuỳ NhưTrần Quốc CườngNgô Văn HoàngNông Trần Linh VânNguyễn Thị HiềnHoàng Bá DũngPhạm Kim Long GiangNguyễn Thị Ngọc Thảo
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17403NHIỄM KHUẨN HUYẾT VÀ SỐC NHIỄM KHUẨN TẠI KHOA HỒI SỨC NHIỄM, BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 THEO TIÊU CHUẨN PHOENIX
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17404
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, phân tầng theo tiêu chuẩn Phoenix và phân tích mối liên quan với kết cục ở bệnh nhi nhiễm khuẩn huyết nhập khoa Hồi sức Nhiễm. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc, thực hiện trên toàn bộ 197 bệnh nhi từ 1 tháng đến dưới 16 tuổi nhập Khoa Hồi sức Nhiễm – Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 06/2024 đến 07/2025. Dữ liệu lâm sàng, xét nghiệm và điểm Phoenix được thu thập và phân tích. <strong>Kết quả:</strong> Tỉ lệ nhiễm khuẩn huyết là 73,6%; sốc nhiễm khuẩn 46,2%; tử vong 16,3%. Nhóm nhiễm khuẩn huyết có điểm Phoenix cao hơn rõ rệt ở các tiêu chí hô hấp, tim mạch, đông máu và thần kinh (p < 0,001). Các yếu tố lâm sàng như tuổi, giới, địa chỉ, bệnh lý nền không khác biệt giữa hai nhóm nhiễm khuẩn huyết và không nhiễm khuẩn huyết. <strong>Kết luận:</strong> Phoenix là công cụ phân tầng hiệu quả trong đánh giá mức độ nặng và tiên lượng nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em. Việc áp dụng tiêu chí này có thể hỗ trợ nhận diện sớm bệnh nhân nguy cơ cao, từ đó cải thiện kết cục điều trị.</p>Phùng Nguyễn Thế NguyênPhùng Thị Tâm
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17404ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ KHÂU RÁCH CHÓP XOAY QUA NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC THỦ ĐỨC
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17405
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Rách chóp xoay là tổn thương gân phổ biến nhất đã được ghi nhận và điều trị. Phẫu thuật nội soi điều trị rách chóp xoay đã trở thành tiêu chuẩn vàng, mang lại hiệu quả điều trị cao hơn so với mổ mở. Tại Bệnh viện Đa khoa Khu Vực Thủ Đức, phẫu thuật nội soi khớp vai bắt đầu được triển khai đầu tiên vào năm 2013, trong đó phẫu nội soi điều trị rách chóp xoay ngày càng nhiều. <strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> Đánh giá kết quả điều trị khâu rách chóp xoay qua nội soi tại Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Thủ Đức TPHCM. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> nghiên cứu tiến cứu và nghiên cứu cắt ngang trên 168 bệnh nhân được điều trị phẫu thuật khâu rách toàn phần bề dày gân cơ chóp xoay qua nội soi tại bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Thủ Đức từ tháng 1/2020 đến tháng 12/2023. Kết quả chức năng được đánh giá bằng hệ thống thang điểm UCLA, và phân loại Sugaya. <strong>Kết quả</strong><strong>: </strong>Nghiên cứu bao gồm 168 bệnh nhân, bao gồm 89 nam và 79 nữ, độ tuổi trung bình là 57,74 ± 9,7. Điểm UCLA trung bình trước mổ là 12,43 ± 2,53, sau mổ 32,17 ± 1,98, điểm UCLA cải thiện rõ rệt có ý nghĩa thống kê với p=0,0001. Có 22/168 bệnh nhân tỉ lệ 13,1%, được chụp MRI 1,5 Tesla sau mổ. Đánh giá mức độ lành gân theo phân loại Sugaya Tỉ lệ lành gân trong nhóm nghiên cứu khi chụp MRI ngẫu nhiên là 86,4%, trong đó tỉ lệ gân lành hoàn toàn độ 1 là 54,5, độ 2 là 31,8. Tỉ lệ rách lại bán phần gân sau mổ là 13,6%. <strong>Kết luận: </strong>Phẫu thuật khâu chóp xoay khớp vai qua nội soi cho kết quả sau mổ tốt, cải thiện rõ rệt về triệu chứng lâm sàng cũng như chức năng khớp vai của bệnh nhân.</p>Đỗ Quang SangNguyễn Phương NamVăn Trọng HiếuĐinh Thanh TrườngĐỗ Công Bằng
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17405NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG TÌNH TRẠNG MẤT ỔN ĐỊNH VI VỆ TINH (MSI) VÀ HUMAN PAPILLOMAVIRUS (HPV) TRÊN UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17406
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ nhiễm Human Papillomavirus (HPV) trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng (UTĐTT) nguyên phát và đánh giá mối liên quan giữa nhiễm HPV với tình trạng mất ổn định vi vệ tinh (MSI). <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 98 mẫu mô đúc nến của bệnh nhân được chẩn đoán UTĐTT nguyên phát tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong giai đoạn 2021-2023. Sử dụng kỹ thuật PCR để phát hiện sự có mặt của HPV, kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch để đánh giá tình trạng mất ổn định vi vệ tinh. Dữ liệu được xử lý và phân tích thống kê bằng phần mềm GraphPrism 10. <strong>Kết quả:</strong> Trong 98 ca nghiên cứu, phát hiện nhiễm HPV ở 35 ca (35,7%). Tình trạng mất ổn định vi vệ tinh là 18 ca (18,4%), chủ yếu phát hiện ở giai đoạn I & II và không phát hiện tình trạng di căn hạch hoặc di căn xa (p = 0,01). Không ghi nhận mối liên quan giữa tình trạng nhiễm HPV với tuổi, giới và phân loại giải phẫu bệnh hay tình trạng mất ổn định vi vệ tinh (p>0,05). <strong>Kết luận:</strong> Sự bất ổn vi vệ tinh MSI trong UTĐTT bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của HPV, trong khi việc nhiễm HPV ở UTĐTT nguyên phát chiếm 35,7% ở trong nghiên cứu này cho thấy HPV có thể là nguy cơ tiềm tàng trong cơ chế sinh UTĐTT.</p>Nguyễn Mai ChiNguyễn Hữu QuốcNguyễn Thị MếnNguyễn Thị Mỹ LệĐặng Huyền DiệuNguyễn Thị HàTạ Văn ThạoNguyễn Hoàng ViệtNguyễn Kim Đồng
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17406KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ DỌA ĐẺ NON BẰNG NIFEDIPINE TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17407
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kết quả điều trị dọa đẻ non bằng Nifedipin tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ 01/06/2024 đến 31/05/2025. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 72 thai phụ dọa đẻ non có tuổi thai từ 22 đến hết 36 tuần tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.<strong> Kết quả: </strong>Tỉ lệ thai phụ vào viện ở tuổi thai 32-36 tuần chiếm 59,8%; tuổi thai 32-34 tuần là 29,2% và từ 28-31 tuần là 23,6%. Tỉ lệ điều trị thành công bằng Nifedipine là 90,3%. Tỉ lệ thành công cao hơn ở nhóm có tần số CCTC ≤3 cơn và CTC mở ≤1 cm so với nhóm còn lại (p<0,05). Tỉ lệ kéo dài thai kỳ >28 ngày chiếm 65,3%; kéo dài thai kỳ 15–28 ngày là 19,4% và từ 8-14 ngày là 5,6%. Tỉ lệ tác dụng không mong muốn là đau đầu 6,9% và buồn nôn 6,9%.<strong> Kết luận: </strong>Nifedipine là thuốc điều trị doạn đẻ non cho kết quả rất cao và đảm bảo an toàn.</p>Nguyễn Bùi HuyHoàng Đức VĩnhTrần Thế Hoàng
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17407ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG TRẺ MẮC SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CÓ CHỈ ĐỊNH TRUYỀN DỊCH
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17409
<p>Nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trẻ mắc sốt xuất huyết Dengue (SXHD) có chỉ định truyền dịch. <strong>Đối tượng nghiên cứu:</strong> 136 bệnh nhân từ 1 tháng tuổi đến 16 tuổi đủ tiêu chuẩn lựa chọn. <strong>Kết quả:</strong> Bệnh nhi mắc SXHD có chỉ định bù dịch gặp nhiều nhất ở lứa tuổi >5 - <13 tuổi (53,7%); tỷ lệ nam/nữ: 1,51/1. Sốt là triệu chứng hay gặp nhất (89,7%), sau đó là đau bụng (40,4%), nôn (34,6%). Xuất huyết dưới da gặp ở 16,2% bệnh nhân, xuất huyết niêm mạc gặp ở 13,2%. 40,4% bệnh nhân có mạch nhanh, huyết áp giảm ít gặp. 17,6% trường hợp có tiểu cầu giảm trung bình 5-<30 G/l; 3,6% có suy gan cấp. Bất thường hay gặp nhất trên siêu âm ổ bụng là dịch tự do ổ bụng (29,4%), 19,1 % ca bệnh có dịch khoang màng phổi. <strong>Kết luận: </strong>Bệnh thường gặp ở nhóm trẻ lớn. Cần theo dõi liên tục các triệu chứng lâm sàng, tiểu cầu, Hematocrit để chỉ định truyền dịch và theo dõi sau bù dịch.</p>Đoàn Đức CảnhTrương Văn QuýĐỗ Thiện Hải
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17409KHẢO SÁT TỈ LỆ VÀ ĐẶC ĐIỂM DI CĂN HẠCH TIỀM ẨN TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAI HẠ HỌNG VÀ THANH QUẢN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17410
<p><strong>Mở đầu:</strong> Việc xử trí hạch cổ ở bệnh nhân (BN) ung thư biểu mô tế bào gai (UTBMTBG) hạ họng và thanh quản giai đoạn cN0 (chưa phát hiện di căn hạch trên lâm sàng) vẫn còn nhiều tranh cãi. Quyết định điều trị dự phòng phụ thuộc vào nguy cơ di căn hạch tiềm ẩn (DCHTA), nhưng tỉ lệ này tại TP. Hồ Chí Minh chưa được nghiên cứu rõ. <strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát tỉ lệ DCHTA trên BN UTBMTBG hạ họng và thanh quản cN0 và xác định các nhóm hạch có nguy cơ. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả, hồi cứu hồ sơ của 78 BN UTBMTBG hạ họng và thanh quản được phẫu thuật và nạo hạch cổ hai bên nhóm II, III, IV tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và Bệnh viện Quân y 175 từ 01/2021 đến 06/2025. Phân tích DCHTA được thực hiện trên 43 BN cN0. <strong>Kết quả:</strong> Tỉ lệ DCHTA chung là 11,6% (5/43). Tỉ lệ DCHTA cùng bên là 9,3% và đối bên là 2,3% (p>0,05). DCHTA được ghi nhận ở nhóm hạch II cùng bên (4,7%), III cùng bên (4,7%) và II đối bên (2,3%). Không ghi nhận DCHTA ở nhóm IV. <strong>Kết luận:</strong> Tỉ lệ DCHTA ở BN UTBMTBG hạ họng - thanh quản giai đoạn cN0 là 11,6%, với di căn chủ yếu ở hạch nhóm II và III cùng bên. Nguy cơ DCHTA đối bên thấp (2,3%) ở nhóm cN0, nhưng tăng lên đáng kể khi hạch cùng bên có di căn trên lâm sàng. Không ghi nhận DCHTA ở nhóm hạch IV trong nghiên cứu này.</p>Lý Xuân QuangTrần Thị Hà Phương
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17410KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN NHIỄM TRÙNG CỔ SÂU PHẪU THUẬT DẪN LƯU ÁP XE CỔ TẠI KHOA TAI MŨI HỌNG BỆNH VIỆN CHỢ RẪY TỪ 2023 ĐẾN 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17411
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và vi sinh của bệnh nhân nhiễm trùng cổ sâu được phẫu thuật dẫn lưu tại Bệnh viện Chợ Rẫy.<strong> Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 209 bệnh nhân ≥16 tuổi, được chẩn đoán nhiễm trùng cổ sâu và phẫu thuật dẫn lưu tại Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Chợ Rẫy từ 12/2023 đến 06/2025. Các dữ liệu được thu thập gồm: đặc điểm dịch tễ, bệnh lý kèm theo, nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng, hình ảnh CT-scan, phương pháp phẫu thuật và thời gian nằm viện. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung vị bệnh nhân là 57,0, nam giới chiếm đa số. Phần lớn bệnh nhân đến từ các tỉnh ngoài Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó đa số có ít nhất một bệnh lý nền, thường gặp nhất là đái tháo đường và tăng huyết áp. Nguyên nhân phổ biến nhất là nhiễm trùng răng. Triệu chứng điển hình gồm đau, sưng và đỏ. Tổn thương thường gặp ở khoang dưới hàm, một số trường hợp lan xuống trung thất. Áp xe chiếm tỉ lệ cao nhất, viêm cân mạc hoại tử ghi nhận gần 15%. Trên CT-scan, tụ dịch, thâm nhiễm mỡ và bắt thuốc viền thường gặp; khí trong tổn thương phát hiện ở khoảng một phần ba trường hợp. Đường phẫu thuật thường dùng nhất là mở cạnh cổ. Thời gian nằm viện trung vị là 7 ngày. <strong>Kết luận:</strong> Nhiễm trùng cổ sâu là bệnh lý nặng, thường gặp ở nam giới trung niên và người cao tuổi, có liên quan chặt chẽ đến bệnh mạn tính, đặc biệt là đái tháo đường và tăng huyết áp. Việc nhận diện sớm triệu chứng lâm sàng, nguyên nhân và đặc điểm hình ảnh có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán, tiên lượng và lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp.</p>Ngô Văn CôngTrần Huyền Bảo NhiLương Hữu Đăng
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17411ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG THẮT LƯNG HÔNG DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG BẰNG ĐIỆN XUNG TẠI HUYỆT KẾT HỢP XOA BÓP BẤM HUYỆT
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17412
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tác dụng điều trị hội chứng thắt lưng hông do thoái hóa cột sống bằng điện xung tại huyệt kết hợp xoa bóp bấm huyệt và mô tả một số yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 70 bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng thắt lưng hông do thoái hóa, thể Phong hàn thấp kết hợp Can thận hư. Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: Nhóm nghiên cứu (NNC, n=35) được điều trị bằng máy điện xung không dùng kim Pointron 801 kết hợp XBBH. Nhóm đối chứng (NĐC, n=35) được điều trị bằng điện châm kết hợp XBBH. Liệu trình điều trị kéo dài 15 ngày. Hiệu quả được đánh giá qua sự thay đổi của thang điểm đau VAS, thang điểm chức năng ODI, độ giãn cột sống Schöber, khoảng cách tay đất và nghiệm pháp Lasègue tại các thời điểm trước (D0) và sau điều trị (D5, D10, D15). <strong>Kết quả:</strong> Cả hai phác đồ đều cho thấy hiệu quả cải thiện rõ rệt trên tất cả các chỉ số (p < 0,05). Tuy nhiên, NNC cho thấy sự cải thiện nhanh hơn và vượt trội hơn so với NĐC. Tại D15, điểm đau VAS của NNC giảm xuống còn 0,97 ± 0,45, thấp hơn có ý nghĩa so với NĐC là 1,54 ± 0,51 (p < 0,05). Hiệu suất giảm điểm ODI và tăng độ giãn Schöber, độ Lasègue của NNC cũng cao hơn NĐC có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết quả điều trị chung loại tốt và khá ở NNC (88,6%) cao hơn NĐC 85,7%) (p > 0,05). Cả hai phương pháp đều an toàn, ít tác dụng không mong muốn. <strong>Kết luận:</strong> Điện xung tại huyệt kết hợp xoa bóp bấm huyệt có hiệu quả trong điều tri hội chứng thắt lưng hông do thoát hóa cốt sống, tương đương với điện châm với xoa bóp bấm huyệt.</p>Tống Nguyên HoàngTrần Thị Hồng NgãiNguyễn Hoài Văn
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17412ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ CT - SCANNER XƯƠNG THÁI DƯƠNG CẢI TIẾN TRONG BỆNH VIÊM TAI GIỮA MẠN TÍNH CÓ TỔN THƯƠNG XƯƠNG CON TẠI THÁI NGUYÊN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17413
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, thính lực và kết quả CT.Scanner xương thái dương cải tiến trên bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính có tổn thương xương con. <strong>Đối tượng nghiên cứu: </strong>Bệnh nhân được chẩn đoán viêm tai giữa mạn tính và được xác định có tổn thương xương con trong khi phẫu thuật.<strong> Phương pháp nghiên cứu: </strong>Mô tả chùm ca bệnh, thiết kế hồi cứu kết hợp với tiến cứu. <strong>Kết quả:</strong> Nhóm tuổi hay gặp viêm tai giữa mạn tính có tổn thương xương con là 36 đến 59 tuổi, nữ chiếm 51,1%, nam chiếm 48,9%. Lý do vào viện hay gặp nhất là nghe kém (86,7%), ù tai (55,6%), chảy dịch tai (42,2%). Lỗ thủng màng nhĩ thường gặp vị trí trung tâm, chiếm 58%. Tỷ lệ xác định được tổn thương xương con trên CT.Scanner xương thái dương cải tiến là 91,1%, tỷ lệ không xác định được tổn thương xương con là 8,9%. <strong>Kết luận: </strong>Bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính có lý do vào viện thường gặp là nghe kém, ù tai, chảy dịch tai. Chụp CT-Scanner xương thái dương cải tiến rất có giá trị chẩn đoán tổn thương xương con trong viêm tai giữa mạn tính</p>Nguyễn Toàn ThắngNguyễn Thị PhượngLê Thị Kim DungNguyễn Tấn Phong
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17413MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ ĐƯỢC CẮT TUYẾN VÚ TRIỆT CĂN VÀ TẠO HÌNH NGAY BẰNG TÚI ĐỘN TẠI BỆNH VIỆN K
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17414
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định mức độ hài lòng và các yếu tố liên quan ở người bệnh ung thư vú được phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú kèm tạo hình túi độn tức thì. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang 79 người bệnh ung thư vú được cắt tuyến vú triệt căn và tạo hình bằng túi độn tức thì tại Bệnh viện K từ 01/2021 - 12/2024. Mức độ hài lòng được đánh giá bằng thang đo BREAST-Q và phân tích mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, phẫu thuật và điều trị bổ trợ. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình là 43,7 ± 7,4. Trong đó 79,7% được phẫu thuật NSM và 20,3% SSM với thể tích túi độn trung bình 219,5 ± 47,7 ml. Điểm hài lòng trung bình theo BREAST-Q là 60,9 ± 11,0. Các yếu tố: tuổi, bên vú bệnh, tính đa ổ, kích thước u, kỹ thuật phẫu thuật (NSM/SSM), lưới nâng đỡ, biến chứng, hóa chất và xạ trị không cho thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê. Trong khi đó, bệnh nhân có thể tích túi ≥ 200ml hài lòng cao hơn (p=0,019). Điểm chất lượng cuộc sống tổng quát có tương quan thuận với điểm hài lòng (β=0,219; p=0,012). <strong>Kết luận: </strong>Mức độ hài lòng sau tạo hình tức thì bằng túi độn ở mức trung bình. Thể tích túi ≥ 200 ml và chất lượng cuộc sống tổng quát là các yếu tố liên quan có ý nghĩa, trong khi hầu hết đặc điểm bệnh học và phẫu thuật khác không ảnh hưởng đáng kể tới chỉ số này</p>Phạm Hồng KhoaNguyễn Trung ThànhNguyễn Hương Lan
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17414ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TRÊN NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ TẠI KHOA PHỤC HỒI CHỨC NĂNG, BỆNH VIỆN ĐÀ NẴNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17415
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> Đánh giá kết quả điều trị phục hồi chức năng trên người bệnh đột quỵ. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên người bệnh điều trị đột quỵ tại Khoa Phục hồi Chức Năng, Bệnh viện Đà Nẵng từ tháng 3/2025 đến tháng 9/2025. <strong>Kết quả</strong><strong>: </strong>Khảo sát 53 người bệnh đột quỵ đang điều trị phục hồi chức năng tại Khoa phục hồi chức năng, Bệnh viện Đà Nẵng, kết quả cho thấy độ tuổi trung bình là 64,23 ± 13,08 tuổi, trong đó nam giới chiếm 64,2%; Tỉ lệ đột quỵ do nhồi máu não là 54,7% và do xuất huyết não là 45,3%; Thời gian điều trị trung bình tại khoa là 24,08 ±9,14. Sau điều trị tỉ lệ liệt ½ người/ liệt toàn toàn thân giảm từ 69,8% xuống còn 37,7%; Điểm Barthel trung bình tăng từ 56,36 ± 10,45 và điểm Rankin trung bình giảm từ 4,09 ± 0,63 xuống còn 3,45±0,50; Tỉ lệ nuốt kém/ăn qua sonde giảm từ 54,7% xuống còn 22,6%. <strong>Kết luận:</strong> Các phương pháp tập luyện phục hồi chức năng tại Bệnh viện Đà Nẵng giúp người bệnh cải thiện chức năng vận động, giảm phụ thuộc vào người chăm sóc.</p>Nguyễn Song HiếuDương Thủy TiênNguyễn Minh HùngNguyễn Trương Hà AnhDương Nguyễn Phương AnhQuãng Võ Thanh Thuận
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17415KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ ĐÁNH GIÁ VIỆC TUÂN THỦ DÙNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 CỦA NGƯỜI BỆNH NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17416
<p><strong>Mở đầu:</strong> Bệnh đái tháo đường típ 2 là một trong những bệnh không lây thường gặp và là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong. Nghiên cứu này nhằm phân tích tình hình sử dụng thuốc và đánh giá tỷ lệ tuân thủ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, năm 2025. <strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> 1) Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường típ 2. 2) Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú. <strong>Đối tượng</strong><strong> và</strong><strong> phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả, hồi cứu số liệu trên 300 người bệnh từ 18 tuổi trở lên, đang điều trị ngoại trú đái tháo đường típ 2 tại Trung tâm Y tế Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. <strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu cho thấy thuốc Metformin được sử dụng phổ biến nhất (42,33%), tiếp theo là Sulfonylurea (37,67%), Thiazolidinediones (11,33%), DPP-4 inhibitors (4,67%) và Incretin mimetics (4%). Phần lớn bệnh nhân (62,67%) sử dụng dưới 3 loại thuốc, và 96% bệnh nhân dùng thuốc qua đường uống. Về tỷ lệ tuân thủ điều trị, chỉ có 28% bệnh nhân tuân thủ điều trị theo chỉ định, trong khi 72% không tuân thủ, cho thấy một thách thức lớn trong việc quản lý bệnh đái tháo đường típ 2. Các yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê đến mức độ tuân thủ điều trị bao gồm trình độ học vấn (tuân thủ cao hơn ở nhóm có trình độ học vấn cao) và bệnh lý kèm theo, đặc biệt là rối loạn lipid máu. <strong>Kết luận – Kiến nghị:</strong> Tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc đái tháo đường típ 2 chỉ đạt 28%, trong khi tỷ lệ không tuân thủ điều trị chiếm 72%. Các kiến nghị bao gồm: 1) Tiến hành nghiên cứu tiến cứu để đánh giá rõ ràng tác động của việc không tuân thủ điều trị đối với sức khỏe bệnh nhân. 2) Tăng cường các chương trình giáo dục sức khỏe và nâng cao nhận thức để cải thiện tỷ lệ tuân thủ điều trị.</p>Nguyễn Hồ Thế PhươngHồ Thúy HằngTrần Công LuậnNguyễn Thị Ngọc Mai
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17416MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI MỨC ĐỘ NẶNG CỦA BỆNH NHÂN SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP, HẢI PHÒNG NĂM 2024
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17417
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả một số yếu tố liên quan tới sốt xuất huyết nặng tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp từ 01/01/2024 đến 31/12/2024. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong><strong>: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 434 bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue. <strong>Kết quả và Kết luận</strong><strong>: </strong>Các yếu tố lâm sàng liên quan tới sốt xuất huyết Dengue nặng gồm tuổi (OR=5,03), đau đầu (OR=2,39). Các yếu tố cận lâm sàng liên quan với mức độ nặng của sốt xuất huyết Dengue gồm Hct tăng từ 38% trở lên (OR=3,92), Tiểu cầu giảm <50G/L (OR=3,87), AST từ trên 400U/L (OR=5,96) và ALT tăng từ trên 400 U/L (OR=3,27) liên quan có ý nghĩa thống kê với sốt xuất huyết Dengue nặng hoặc có dấu hiệu cảnh báo.</p>Trần Thị LiênLê Thị HòaPhạm Thị Thùy NhungHoàng Thị Thía
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17417ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, NỘI SOI, MÔ BỆNH HỌC VÀ KẾT QUẢ CẮT POLYP ĐẠI TRỰC TRÀNG QUA NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NINH
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17418
<p><strong>Mục tiêu:</strong> 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh nội soi của polyp đại trực tràng (ĐTT). 2. Nhận xét đặc điểm mô bệnh học và kết quả điều trị cắt polyp ĐTT qua nội soi. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh tiến hành trên 200 bệnh nhân (với 313 polyp) được cắt polyp ĐTT qua nội soi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh từ tháng 01/2025 đến tháng 08/2025. Các đặc điểm về lâm sàng, hình ảnh nội soi (phân loại Paris, JNET), mô bệnh học (WHO 2019), kết quả và biến chứng sau cắt polyp được thu thập và phân tích. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của bệnh nhân là 59,8 ± 11,8, nhóm trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (54,5%). Nam giới chiếm 53,0%. Lý do vào viện phổ biến nhất là đau bụng (75,0%). Vị trí polyp thường gặp nhất là đại tràng ngang (29,1%). Kích thước phổ biến từ 5 - <10 mm (58,1%). Hình thái không cuống (Type Is) chiếm ưu thế (69,3%). Phân loại JNET chủ yếu là Type 2A (73,2%). Về mô bệnh học, u tuyến chiếm 76,7%. Phân loại JNET có mối tương quan chặt chẽ với kết quả mô bệnh học (p < 0,001), với 96,5% polyp Type IIA và 100% polyp Type IIB là tổn thương tân sinh. Tỷ lệ điều trị thành công là 98,0%, cắt nguyên khối đạt 97,1%. Tỷ lệ biến chứng thấp, với chảy máu sớm là 6,0% và thủng là 0,5%. <strong>Kết luận:</strong> Cắt polyp ĐTT qua nội soi là phương pháp an toàn và hiệu quả cao. Việc áp dụng nội soi dải tần hẹp với phân loại JNET cho phép dự đoán chính xác bản chất mô bệnh học, giúp tối ưu hóa chiến lược điều trị.</p>Dương Thị Thu HươngVũ Thị Thu Trang
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17418BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP: U NHẦY NHĨ TRÁI BIẾN CHỨNG ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO CẤP
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17419
<p>U nhầy nhĩ trái, khối u tim lành tính phổ biến nhất, là một trong các nguyên nhân gây đột quỵ hoặc thiếu máu cục bộ thoáng qua, tỷ lệ mắc ở nữ gấp đôi so với nam. Khi có triệu chứng tắc mạch não, đặc biệt ở bệnh nhân trẻ, cần chụp MRA sọ não và siêu âm tim qua thành ngực sớm để phát hiện nguyên nhân có thể là u nhầy nhĩ trái. Siêu âm tim qua thực quản giúp chẩn đoán xác định. Nên điều trị kháng đông trước phẫu thuật để giảm nguy cơ thuyên tắc và xác định thời điểm phẫu thuật thích hợp. Phẫu thuật cắt bỏ sớm là điều trị tối ưu đối với u nhầy nhĩ trái có biến chứng thần kinh.</p>Nguyễn Ngọc TuấnBùi Việt AnhNguyễn Trường VũLê Thị Kim ThủyNông Thế MinhLê Đức ThắngTrương Thị Ngọc HàCao Đức ThiệnTrương Đình CẩmNguyễn Doãn Thái Hưng
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17419ĐỀ KHÁNG INSULIN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT NGHỆ AN NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17420
<p><strong>Mở đầu: </strong>Đề kháng insulin (ĐKIR) là cơ chế chủ yếu liên quan đến quá trình tiến triển thành đái tháo đường típ 2 của người bệnh tiền đái tháo đường và phát sinh các biến chứng ở người bệnh. Việc phát hiện sớm và đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan đến ĐKIR ở người bệnhTĐTĐ có ý nghĩa trong dự phòng tiến triển thành ĐTĐT2. <strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ đề kháng insulin và phân tích một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân tiền đái tháo đường tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An năm 2025. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 116 người bệnh trên 18 tuổi, đến khám lần đầu tại viện, được xác định TĐTĐ . Chỉ số HOMA-IR (Homeostasis Model Assessment of Insulin Resistance) với ngưỡng ≥1,878 được sử dụng để xác định tình trạng đề kháng insulin. Các thông tin nhân khẩu học, lâm sàng, cận lâm sàng được thu thập và phân tích bằng hồi quy logistic đa biến. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ ĐKIR trong quần thể nghiên cứu là 26,7%. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy HbA1c ≥5,7% là yếu tố nguy cơ độc lập, có liên quan đến tình trạng ĐKIR (OR=5,51; CI95%: 1,42–21,43; p=0,04). Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: hoạt động thể lực thấp (OR=3,91; CI95%: 1,38–11,03), vòng eo lớn (OR=3,85; CI95%: 1,58–9,37), rối loạn lipid máu (OR=3,80; CI95%: 1,60–9,23), và tiền sử gia đình mắc ĐTĐ (OR=2,64; CI95%: 1,03–6,81). <strong>Kết luận:</strong> Các yếu tố nguy cơ chính là HbA1c, hoạt động thể lực, vòng eo và rối loạn lipid máu. Nghiên cứu khẳng định sự cần thiết của sàng lọc ĐKIR và quản lý lối sống ở bệnh nhân TĐTĐ nhằm giảm nguy cơ tiến triển thành ĐTĐT2</p>Nguyễn Quốc ĐứcBùi Ngọc HàHoàng Thu HàLê Anh TúTrần Thị HiềnHồ Minh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17420ĐẶC ĐIỂM LOẠN THỊ KHÚC XẠ Ở TRẺ EM TỪ 6 ĐẾN 15 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17421
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát đặc điểm dịch tễ, mức độ, phân bố của loạn thị khúc xạ và đánh giá ảnh hưởng lên thị lực chỉnh kính tối đa (BCVA) ở trẻ em. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 582 trẻ em (1164 mắt) từ 6 đến 15 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2025. Tất cả trẻ tham gia nghiên cứu được đo khúc xạ tự động sau liệt điều tiết bằng cyclopentolate 1%, đo thị lực chỉnh kính tối đa, chụp bản đồ giác mạc và đo chiều dài trục nhãn cầu. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của mẫu là 10,20 ± 2,68 tuổi. Tỷ lệ loạn thị khúc xạ là 60,4%, trong đó loạn thị thuận chiếm đa số (92,2%). Loạn thị khúc xạ mức độ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (27,5%), tiếp theo là loạn thị nhẹ (15,3%), loạn thị nặng (10,4%) và loạn thị rất nặng (7,2%). BCVA trung bình giảm dần khi mức độ loạn thị tăng, từ 0,005 LogMAR ở nhóm không loạn thị xuống 0,048 LogMAR ở nhóm loạn thị rất nặng (p < 0,001). <strong>Kết luận:</strong> Loạn thị là tật khúc xạ rất phổ biến ở trẻ em, chủ yếu là loạn thị khúc xạ mức độ nhẹ đến trung bình với loạn thị thuận chiếm đa số. Mức độ loạn thị khúc xạ càng cao, thị lực chỉnh kính tối đa càng giảm, đặc biệt là ở mức độ nặng và rất nặng.</p>Trần Đình Minh HuyLê Anh TuấnHuỳnh Bá Đông NhậtNguyễn Lê Hoàng Nguyên
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17421NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN VIÊM DA TIẾT BÃ ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP BẰNG ITRACONAZOL VIÊN, KEM TERBINAFIN TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG Y DƯỢC CẦN THƠ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17422
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả điều trị viêm da tiết bã ở người lớn bằng itraconazol phối hợp kem terbinafin tại Bệnh viện trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2025. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong><strong>:</strong> Mô tả cắt ngang ở 30 bệnh nhân viêm da tiết bã. Các bệnh nhân được khám sàng lọc đủ tiêu chuẩn để sử dụng itraconazole uống và phối hợp thoa kem terbinafin trong 4 tuần. <strong>Kết quả:</strong> Sau 4 tuần điều trị có 90% bệnh nhân đáp ứng từ tốt đến rất tốt với điều trị (p<0,001). Các triệu chứng điều đáp ứng từ tốt trở lên. Chưa phát hiện tác dụng phụ trên bệnh nhân. <strong>Kết luận:</strong> Phối hợp itraconazol đường uống và kem bôi terbinafin là một lựa chọn điều trị mới, có hiệu quả ở bệnh nhân viêm da tiết bã người lớn.</p>Nguyễn Thị Thùy TrangPhạm Thị Bảo TrâmPhạm Thanh ThảoTrần Nguyên Khả VyTrịnh Thị Hồng CủaTrần Đỗ Hùng
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17422MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HỘI CHỨNG LÃO KHOA Ở NGƯỜI BỆNH CAO TUỔI DI CHỨNG ĐỘT QUỴ NÃO
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17423
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá một số đặc điểm lâm sàng và hội chứng lão khoa ở người bệnh cao tuổi di chứng đột quỵ não. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 107 người bệnh ≥60 tuổi có tiền sử được chẩn đoán đột quỵ não khám và điều trị tại Bệnh viện Lão Khoa Trung ương. Các thông tin thu thập gồm đặc điểm di chứng của đột quỵ não, tình trạng chức năng, trầm cảm, dinh dưỡng, sử dụng nhiều thuốc và nguy cơ ngã. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ đột quỵ tái phát là 34,6%, chủ yếu là nhồi máu não (81,6%). Hơn một nửa số người bệnh bị liệt nửa người (53,3%). Tỷ lệ phụ thuộc trong sinh hoạt hàng ngày ở các mức độ từ phụ thuộc một phần (41,1%) đến phụ thuộc hoàn toàn (43,9%). Biểu hiện trầm cảm gặp ở 72% người bệnh, trong khi tình trạng suy dinh dưỡng và nguy cơ suy dinh dưỡng chiếm lần lượt 24,3% và 41,1%. Có 69,2% người bệnh thuộc nhóm có nguy cơ ngã cao. Tỷ lệ sử dụng nhiều thuốc là 70,1% với số thuốc trung bình người bệnh sử dụng là 5,7 loại thuốc/ngày. <strong>Kết luận:</strong> Người cao tuổi sau đột quỵ có tỷ lệ cao các hội chứng lão khoa, đặc biệt là suy giảm chức năng, trầm cảm, suy dinh dưỡng và nguy cơ ngã. Cần triển khai đánh giá lão khoa toàn diện thường quy để phát hiện sớm và can thiệp kịp thời, góp phần cải thiện tiên lượng và chất lượng cuộc sống cho người bệnh sau đột quỵ não.</p>Nguyễn Thị Thu HươngNguyễn Văn ĐạtLê Chi Viện
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17423MỐI LIÊN QUAN GIỮA BIẾN CHỨNG RỐI LOẠN NHỊP, SUY BƠM VÀ THỂ BỆNH Ở BỆNH NHÂN VIÊM CƠ TIM CẤP
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17424
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát thể bệnh, các rối loạn nhịp, biến chứng suy bơm và mối liên quan giữa ba yếu tố này ở bệnh nhân viêm cơ tim cấp nhập viện tại Bệnh viện Chợ Rẫy. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 218 bệnh nhân được chẩn đoán viêm cơ tim cấp dựa trên lâm sàng, men tim tăng và hình ảnh MRI tim phù hợp, nhập viện Bệnh viện Chợ Rẫy trong năm 2021-2022. Các biến bao gồm thể lâm sàng, loại rối loạn nhịp, phân suất tống máu thất trái (PSTM), và mức độ suy bơm tim. Phân tích thống kê được thực hiện bằng Stata 17.0 với p < 0,05 được xem là có ý nghĩa. <strong>Kết quả: </strong>Có 62 bệnh nhân (28,4%) thuộc thể tối cấp và 156 bệnh nhân (71,6%) thể cấp. Rối loạn nhịp gặp ở 71,1% trường hợp, trong đó rối loạn nhịp thất chiếm 39,0%. Biến chứng suy bơm tim gặp ở 54,6%, trong đó 28,4% có PSTM < 35%. Thể tối cấp có tỷ lệ rối loạn nhịp và suy bơm cao hơn rõ rệt so với thể cấp (p < 0,001). Phân tích tương quan cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa rối loạn nhịp thất và PSTM giảm nặng, phản ánh mức độ tổn thương cơ tim lan tỏa. <strong>Kết luận: </strong>Rối loạn nhịp, suy bơm và thể tối cấp là ba yếu tố có mối liên quan chặt chẽ trong viêm cơ tim cấp. Sự hiện diện đồng thời của rối loạn nhịp thất và PSTM giảm gợi ý tổn thương cơ tim lan tỏa và giúp nhận diện nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao cần theo dõi và can thiệp sớm</p>Nguyễn Đức KhánhTrần Thanh Tuấn
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17424ĐẶC ĐIỂM THAI PHỤ NHIỄM HBV VÀ ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN VIÊM GAN VI RUS B TỪ MẸ SANG CON TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI PHÚ THỌ NĂM 2023
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17425
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm thai phụ nhiễm HBV và thực trạng điều trị dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con tại Bệnh viện Sản Nhi Phú Thọ. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Mô tả cắt ngang hồi cứu trên 194 hồ sơ bệnh án của thai phụ nhiễm HBV khám và sinh con năm 2023. <strong>Kết quả:</strong> Có 80,4% thai phụ mới được phát hiện nhiễm HBV trong lần mang thai này, chủ yếu ở 3 tháng cuối của thai kỳ, chiếm 60,8%. Chỉ có 33% (64/194) thai phụ được cho làm xét nghiệm HBV DNA. Trong số đó 24/64 (37,5%) thai phụ có HBV DNA dưới ngưỡng phát hiện, 34/64 (53,1%) có chỉ định điều trị kháng virus viêm gan B. Có 12/34 (35,2%) được điều trị TDF muộn, sau 28 tuần. Trẻ sau sinh có 90,2% được tiêm vắc-xin viêm gan B và 82,0% được tiêm HBIG trong 24 giờ đầu. Có 149/194 trẻ (76,8%) được thực hiện chuẩn tiêm vaccine và HBIG và 23,2% cặp mẹ con thực hiện dự phòng đạt chuẩn theo hướng dẫn. <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ thực hiện chuẩn các biện pháp dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con còn thấp, cần có sự phối hợp tốt giữa các chuyên khoa Sản – Truyền nhiễm – Nhi để nâng cao tỷ lệ phòng ngừa sớm lây truyền mẹ con.</p>Bùi Thị ĐếnPhạm Thái HạPhạm Thị Việt DungTạ Thị Diệu Ngân
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17425NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA CHỈ SỐ TRIGLYCERID/GLUCOSE TRONG DỰ BÁO MỨC ĐỘ NẶNG CỦA TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17426
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định giá trị của chỉ số triglycerid/glucose (TyG) trong dự báo mức độ nặng của tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Mô tả cắt ngang, bệnh nhân khám tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ từ tháng 01/2025-09/2025 được chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp nếu thỏa tiêu chuẩn sẽ được lập danh sách và tiến hành xác định mức độ tổn thương động mạch vành và chỉ số TyG. <strong>Kết quả:</strong> Trong tổng số 60 bệnh nhân, nam giới chiếm tỷ lệ 48,3%. Tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp là 68,3%. Điểm SYNTAX trung bình: 15,92 ± 12,29 điểm. Bệnh nhân tổn thương động mạch vành nặng có TyG cao hơn nhóm không nặng, với 9,39 ± 0,34 so với 8,84 ± 0,33. Chỉ số TyG tại điểm cắt là 9,12 có AUC là 0,883; độ nhạy 84,0% và đặc hiệu 80,0% trong dự báo độ nặng của tổn thương động mạch vành. <strong>Kết luận:</strong> Bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tổn thương động mạch vành nặng có chỉ số TyG cao hơn nhóm không nặng. TyG tại điểm cắt là 9,12 có giá trị khá tốt trong dự báo mức độ nặng của tổn thương động mạch vành</p>Tống Tuệ MẫnNguyễn Thế Vinh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17426ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Ở NGƯỜI BỆNH ALZHEIMER ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỐNG ĐA NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17427
<p><strong>Bối cảnh nghiên cứu: </strong>Bệnh Alzheimer (AD) là một rối loạn thoái hóa thần kinh mạn tính tiến triển, là nguyên nhân phổ biến nhất gây sa sút trí tuệ (SSTT). AD đặc trưng bởi hội chứng SSTT với ba nhóm triệu chứng: nhóm triệu chứng nhận thức, nhóm triệu chứng ngoài nhận thức và biểu hiện suy giảm các hoạt động sống hằng ngày. Hiện nay ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về AD, tuy nhiên thời gian, đối tượng nghiên cứu và cách tiếp cận triệu chứng có sự khác biệt với nhau, trong khi bệnh cảnh rất phức tạp và có nhiều yếu tố góp phần vào sự đa dạng về các triệu chứng bệnh. <strong>Mục tiêu nghiên cứu: </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng ở người bệnh Alzheimer được quản lý tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 2025 bao gồm: triệu chứng suy giảm nhận thức và rối loạn tâm thần hành vi. <strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang, 42 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh Alzheimer đến khám tại bệnh viện đa khoa Đống Đa từ tháng 05/2025 đến tháng 11/2025. Kết quả: 100% bệnh nhân có suy giảm trí nhớ, trong đó tỷ lệ suy giảm trí nhớ gần là 100%; giai đoạn muộn, 100% các loại trí nhớ đều bị suy giảm. Rối loạn định hướng về thời gian (90,5%) và không gian (59,5%), rối loạn ngôn ngữ (92,9%), rối loạn tri giác (76,2%), mất dùng động tác (90,4%). Triệu chứng loạn thần, đặc biệt là hoang tưởng, các rối loạn cảm xúc và hành vi đều phổ biến. Số bệnh nhân nữ mắc AD cao gấp 1,6 lần số bệnh nhân nam, khởi phát sau 65 tuổi (88,1%); có bệnh đồng diễn (88,1%), trong đó nhóm bệnh tim mạch (52,4%) và nội tiết (59,5%). <strong>Kết luận: </strong>Triệu chứng suy giảm nhận thức và ngoài nhận thức ở các bệnh nhân Alzheimer rất phức tạp và đa dạng, nhiều bệnh lý đi kèm, cần cá thể hóa trên từng bệnh nhân để chọn lựa phác đồ điều trị phù hợp nhất.</p>Tạ Minh Phương
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17427ĐẶC ĐIỂM ĐỘT BIẾN GEN PRES/S CỦA VIRUS VIÊM GAN B (HBV) Ở NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ MANG HBSAG TẠI THÁI NGUYÊN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17428
<p>Mục tiêu:<strong> Mô tả đặc điểm kiểu gen và các đột biến trên vùng gen Pres/S của virus viêm gan B (HBV) ở sinh viên dân tộc thiểu số có HBsAg dương tính tại Thái Nguyên, Việt Nam. </strong>Đối tượng và phương pháp:<strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 272 mẫu huyết thanh của sinh viên dân tộc thiểu số thu thập năm 2024. Các mẫu được sàng lọc HBsAg bằng test nhanh, định lượng anti-HBs, anti-HBc bằng ELISA. DNA HBV được tách chiết, khuếch đại vùng gen Pres/S bằng nested PCR, giải trình tự Sanger và phân tích đột biến bằng phần mềm BioEdit, MEGA 11 và Geno2pheno. </strong>Kết quả: <strong>Có 5/272 mẫu (1,8%) dương tính với HBV DNA, tất cả đều là nữ, thuộc hai dân tộc Tày và Dao, đồng phát hiện HBsAg và anti-HBc (+); nồng độ anti-HBs dao động từ 0 đến 13,9 mIU/mL. Phân tích cây phát sinh chủng loại cho thấy 2 mẫu thuộc genotype B và 3 mẫu thuộc genotype C. Tổng cộng 21 vị trí đột biến trên vùng gen Pres/S được phát hiện, trong đó nhiều đột biến thuộc loại missense. Đáng chú ý, các đột biến L109P, S117N và K122R nằm gần vùng quyết định kháng nguyên “a determinant”, có thể ảnh hưởng đến cấu trúc bề mặt và tính kháng nguyên của HBsAg. </strong>Kết luận:<strong> Nghiên cứu ghi nhận sự đa dạng di truyền của HBV genotypes B và C kèm theo các đột biến Pres/S đặc trưng trong nhóm đối tượng dân tộc thiểu số mang HBsAg dương tính. Một số đột biến có thể liên quan đến biến đổi cấu trúc kháng nguyên HBsAg, là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về hiệu quả các xét nghiệm phát hiện HBsAg và cơ chế thoát miễn dịch của HBV. </strong></p>Vũ Nhị HàNgô Thị Mỹ BìnhNguyễn Đăng TùngDương Văn Cường
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17428YẾU TỐ LIÊN QUAN TÌNH TRẠNG GIẢM TIỂU CẦU Ở TRẺ EM MẮC SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI BỆNH VIỆN QUỐC TẾ GREEN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17429
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân tích một số yếu tố liên quan đến giảm tiểu cầu ở trẻ mắc sốt xuất huyết Dengue tại Bệnh viện quốc tế Green năm 2024. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 158 trẻ < 16 tuổi điều trị tại khoa Nhi, Bệnh viện Quốc tế Green từ 1/1/2024–31/12/2024. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ nam (56,3%), nữ (43,7%). Độ tuổi trung bình mắc bệnh là 7,94 ± 0,6, nhiều nhất là 7 đến 12 tuổi (44,3%). Sốt 100%, xuất huyết da 99,4% trong đó chủ yếu dạng chấm (65,8%). Dấu hiệu cảnh báo (96,2%), thường gặp là đau bụng tăng dần: (36,7%). Giảm bạch cầu (58,2%), giảm tiểu cầu (55,7%), tăng hematocrit (37,6%), tăng AST/ALT (đỉnh ngày 3–5). Yếu tố liên quan giảm tiểu cầu: giới tính nữ (OR = 2,0; p = 0,03,CI: 1-4), giảm bạch cầu (OR = 2,67; p = 0,003, CI: 1,3-5,4), tăng ALT (OR=2,67, p = 0,026, CI:1,3-5,4). Tương quan nghịch tuyến tính khá chặt giữa số lượng tiểu cầu và hematocrit trong 2 ngày điều trị đầu tiên (r= - 0,6, p=0,02). <strong>Kết luận:</strong> Đặc điểm lâm sàng: tỷ lệ nam và nữ mắc bệnh như nhau, bệnh thường gặp ở lứa tuổi học đường. Tất cả trường hợp đều có sốt, hình thái xuất huyết chủ yếu xuất huyết dưới da dạng chấm. Các yếu tố liên quan đến giảm tiểu cầu là giới tính nữ, giảm bạch cầu, tăng ALT và tăng hematocrit.</p>Vũ Văn QuangHà Tùng LâmNgô Ngọc ĐứcỨng Văn MạnhPhạm Xuân TiếnĐồng Thị HuyềnBùi Văn ThànhLê Đăng TiếnTrần Thị Phương HằngNguyễn Phương Nhung
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17429ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA VIÊM PHỔI LIÊN QUAN ĐẾN THỞ MÁY TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC – CHỐNG ĐỘC, BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17430
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, căn nguyên vi sinh ở bệnh nhân viêm phổi liên quan đến thở máy - Ventilator-associated pneumonia (VAP) tại khoa Hồi sức tích cực – Chống độc, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang. <strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu tiến cứu mô tả trên 61 bệnh nhân thở máy ≥ 48 giờ, từ tháng 1 đến 8/2025. Dữ liệu thu thập từ bệnh án, xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình 74,8 ± 15,1; 59% mắc VAP muộn. Bệnh nhân chủ yếu có bệnh nền. Triệu chứng thường gặp: sốt, đờm mủ, khó thở, giảm oxy. X-quang ghi nhận tổn thương kẽ (36,1%) và thâm nhiễm hai bên (31,1%), Acinetobacter baumannii là vi khuẩn phân lập với tỉ lệ cao nhất 52,3%. <strong>Kết luận:</strong> Bệnh nhân viêm phổi liên quan đến thở máy chủ yếu là người cao tuổi, đa bệnh nền, cần chẩn đoán sớm và lựa chọn kháng sinh phù hợp để cải thiện kết quả điều trị.</p>Trần Thị OanhNguyễn Thị ThủyĐỗ Anh SơnTrần Thiện Nam
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17430NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ NT-PROBNP TRÊN BỆNH NHÂN SUY TIM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÂN ĐÌNH NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17431
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Nghiên cứu này nhằm mô tả nồng độ NT-proBNP ở bệnh nhân suy tim và tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ NT-proBNP với các mức độ suy tim theo phân loại NYHA. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu và tiến cứu trên 105 bệnh nhân suy tim theo phân loại NYHA trong thời gian từ tháng 01/2025 đến tháng 9/2025 tại khoa Nội tim mạch – Lão học, Bệnh viện đa khoa Vân Đình. <strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 79,84 ± 10,99 tuổi; nữ giới chiếm 65,7%. Chỉ số BMI trung bình là 20,89 ± 2,42 kg/m². Triệu chứng hay gặp nhất là khó thở (87,6%) và mệt mỏi (85,7%). Nồng độ NT-proBNP trung bình tăng dần theo mức độ NYHA, thấp nhất ở NYHA I (1.733,15 ± 1.179,31 pg/mL), cao nhất ở NYHA IV (14.076,69 ± 13.067,52 pg/mL) (p < 0,001) và có mối liên quan thuận. NT-proBNP có xu hướng cao hơn ở nữ và tăng dần theo tuổi nhưng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Nhóm BMI ≥ 23 kg/m² có NT-proBNP cao hơn nhóm BMI < 23 kg/m² (p = 0,036). <strong>Kết luận: </strong>Nồng độ NT-proBNP tăng dần theo mức độ suy tim theo NYHA, phản ánh mối liên quan thuận giữa NT-proBNP và mức độ nặng của suy tim. Các bệnh nhân nữ, tuổi cao và BMI ≥ 23 kg/m² có xu hướng nồng độ NT-proBNP cao hơn, cần theo dõi định kỳ để đánh giá diễn biến suy tim.</p>Hoàng Đức ChungMai Thị ThươngNguyễn Văn CườngNgô Thị Quỳnh Chi
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17431ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG RỐI LOẠN CHỨC NĂNG NUỐT Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO CẤP
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17432
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> Xác định các yếu tố tiên lượng liên quan đến tình trạng rối loạn chức năng nuốt ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấptại khoa bệnh lý mạch máu não, bệnh viện nhân dân 115. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến cứu. Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện. Bệnh nhân được chẩn đoán đột quỵ thiếu máu não cấp trong vòng 72 giờ sau khởi phát. <strong>Kết quả: </strong>Từ tháng 11/2022 đến tháng 8/2023 chúng tôi khảo sát được 278 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp. Tỉ lệ rối loạn chức năng nuốt được ghi nhận là 38.8%. Dân số nghiên cứu có độ tuổi trung bình: 63,6 ± 12,8 tuổi, Nam giới chiếm 53,2%. Điểm NIHSS trung bình 12,7, tỉ lệ đột quỵ thiếu máu não tuần hoàn trước chiếm 91,7%. Về các yếu tố nguy cơ: Tỉ lệ tăng huyết áp chiếm 64,7%, tiền căn đột quỵ chiếm 22,3%, đái tháo đường chiếm 36,3%, rối loạn lipid máu chiếm 55,4%, hút thuốc lá chiếm 37,8%, nghiện rượu chiếm 25,9%, thừa cân/béo phì chiếm 34,9%/19,1%, rung nhĩ chiếm 7,6%. Các yếu tố tiên lượng đến RLCN nuốt ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp gồm: Tuổi cao trên 80, điểm Glasgow ≤13, tổn thương thùy trán, phân loại TOAST bệnh lý mạch máu lớn, điểm NIHSS trên 11, điểm ASPECT thấp ≤7. Không ghi nhận các biến chứng liên quan đến test nuốt nước trong nghiên cứu. <strong>Kết luận: </strong>Rối loạn chức năng nuốt ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp rất thường gặp. Các yếu tố: Tuổi cao trên 80, điểm Glasgow ≤ 13, tổn thương thùy trán, phân loại TOAST bệnh lý mạch máu lớn, điểm NIHSS trên 11, điểm ASPECT thấp ≤ 7 làm gia tăng nguy cơ rối loạn chức năng nuốt.</p>Đặng Nhất TâmNguyễn Huy ThắngTrương Lê Tuấn Anh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17432ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN NHỊP TIM QUA HOLTER ĐIỆN TÂM ĐỒ 24 GIỜ TRÊN BỆNH NHÂN TIM MẠCH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÂN ĐÌNH TỪ THÁNG 4/2024 ĐẾN THÁNG 9/2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17433
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm các rối loạn nhịp tim qua Holter điện tâm đồ (ECG) 24 giờ trên bệnh nhân tim mạch và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến các rối loạn nhịp tim. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu và tiến cứu trên 198 bệnh nhân tim mạch được đeo Holter ECG 24 giờ trong thời gian từ tháng 4/2024 đến tháng 9/2025 tại khoa Nội tim mạch – Lão học, Bệnh viện đa khoa Vân Đình. <strong>Kết quả: </strong>Rối loạn nhịp tim được ghi nhận trên Holter ECG 24 giờ với tần suất cao, trong đó ngoại tâm thu nhĩ (39,9%), ngoại tâm thu thất (34,3%) và cơn nhịp nhanh trên thất là ba nhóm rối loạn nhịp phổ biến nhất. Nhóm bệnh nhân ≥ 60 tuổi chiếm tỉ lệ lớn và có xu hướng xuất hiện rối loạn nhịp nhiều hơn. Suy tim là yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với rối loạn nhịp được phát hiện qua Holter. Không ghi nhận sự liên quan rõ rệt giữa giới tính, tăng huyết áp hoặc đái tháo đường với tỉ lệ rối loạn nhịp. <strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu cho thấy ngoại tâm thu nhĩ, ngoại tâm thu thất và cơn nhịp nhanh trên thất là các rối loạn nhịp thường gặp nhất. Triệu chứng choáng/chóng mặt là triệu chứng phổ biến. Tuổi cao và suy tim là những yếu tố liên quan đến sự xuất hiện rối loạn nhịp trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu.</p>Mai Thị ThươngĐào Thúy Hằng
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17433PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN TƯƠNG TÁC THUỐC – BỆNH VỚI CÁC THUỐC TIM MẠCH – NỘI TIẾT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÂN ĐÌNH NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17434
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xây dựng danh mục và phân tích thực trạng kê đơn tương tác thuốc – bệnh chống chỉ định với các thuốc tim mạch – nội tiết tại Bệnh viện Đa khoa Vân Đình năm 2025. <strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang.<strong> Kết quả nghiên cứu</strong><strong>:</strong> Từ danh mục thuốc năm 2025 của Bệnh viện đa khoa Vân Đình, nhóm nghiêm cứu lựa chọn được 31 hoạt chất đưa vào nghiên cứu. Sau khi tra cứu và tổng hợp thông tin từ các cơ sở dữ liệu, loại bỏ các cặp có bệnh cấp tính hoặc bệnh/tình trạng cần yêu cầu phải điều trị nội khoa và các bệnh chưa xác định được mã ICD chính, nhóm nghiên cứu thu được 59 cặp tương tác thuốc tim mạch, nội tiết – bệnh chống chỉ định. Dựa trên danh mục đã xây dựng, nghiên cứu đưa vào rà soát 7.674 đơn thuốc với tổng 3.9289 lượt thuốc sử dụng (không tính việc sử dụng lặp lại ở bệnh nhân nội trú) thu được 35 đơn thuốc có xuất hiện tương tác thuốc – bệnh theo danh mục. Các bệnh nhân được xác định gặp tương tác thuốc – bệnh chống chỉ định có độ tuổi trung bình cao, nhiều bệnh mắc kèm và sử dụng đồng thời nhiều thuốc. Các cặp tương tác được ghi nhận với 7 hoạt chất, tương ứng với 47 cặp tương tác thuốc – bệnh chống chỉ định. Các thuốc tim mạch được xác định có tương tác thuốc – bệnh trong đơn bao gồm trimetazidim, nifedipin (chiếm lần lượt 8,51%; 6,38% tổng số cặp tương tác). Thuốc lợi tiểu bao gồm 2 thuốc là hydroclorothiazid và spironolacton (chiếm lần lượt 34,04%; 2,13%). Thuốc hạ đường huyết được xác định có tương tác bao gồm gliclazid, metformin và glimepirid (chiếm lần lượt 27,66%; 19,15%; 2,13%). Cặp tương tác thuốc – bệnh chống chỉ định với bệnh mắc kèm gặp nhiều nhất là suy thận nặng có độ thanh thải creatinin <30ml/phút (chiếm 91,49% tổng số cặp tương tác).</p>Phạm Thị HảoChu Xuân VănNguyễn Thị Thu HiềnVương Quốc DũngKim Thị Khánh Huyền
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17434MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG NẶNG Ở BỆNH NHÂN VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC-CHỐNG ĐỘC BVĐK HOÈ NHAI NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17435
<p><strong>Đặt vấn đề</strong><strong>:</strong> Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng (VPMPCĐ) là bệnh thường gặp và hiện tại vẫn là một trong những căn nguyên chính gây tử vong trên thế giới. <strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố tiên lượng nặng ở bệnh nhân viêm phổi cộng đồng tại khoa Hồi sức tích cực - chống độc BVĐK Hòe Nhai<strong>. P</strong><strong>hương pháp</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang hồi cứu. Đối tượng là bệnh nhân VPMPTCĐ người lớn điều trị tại khoa HSTC-CĐ từ tháng 01/2025 đến tháng 09/2025. Cỡ mẫu chọn mẫu thuận tiện. Nghiên cứu thu được 46 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn. <strong>Kết quả và bàn luận: </strong>Độ tuổi thường gặp >65 tuổi với tỉ lệ 80.43%, nam giới chiếm 32.61%, nữ giới chiếm 67.39%. Triệu chứng lâm sàng thường gặp trong VPMPTCĐ là ho (84.8%), khạc đờm (73.9%), sốt (56.5%), khó thở (43.5%), đau ngực (13%). 100% bệnh nhân viêm phổi nặng có triệu chứng khó thở. Chỉ số bạch cầu tăng (73,9%) và CRP tăng trên 25 mg/L (65.2%) phản ánh tình trạng viêm cấp tính, không có giảm bạch cầu<strong>. </strong>Trên Xquang ngực, tổn thương cả hai bên phổi ở nhóm bệnh nhân nặng chiếm tỉ lệ 57.14%. Tỉ lệ tổn thương đa thuỳ ở nhóm bệnh nhân viêm phổi nặng là 50%. Cỡ mẫu của nghiên cứu không đủ để kết luận mối liên quan giữa các yếu tố tiên lượng: tuổi, giới, bệnh lí nền, thời gian nhập viện, dùng kháng sinh trước nhập viện với mức độ nặng của CAP. Ở nhóm bệnh nhân viêm phổi nặng, 100% bệnh nhân có điểm CURB-65 >2. <strong>Kết luận: </strong>VPMPTCĐ thường gặp ở người cao tuổi. Triệu chứng cơ năng điển hình là ho, khạc đờm, sốt, khó thở và đau ngực. Ở nhóm BN viêm phổi nặng, tổn thương phổi hai bên hoặc tổn thương đa thùy chiếm lần lượt 57.14% và 50%. 100% bệnh nhân viêm phổi nặng có điểm CURB-65 >2 điểm.</p>Lý Việt HảiPhan Thị Thanh BìnhPhạm Nguyễn TrungNguyễn Ngọc Chi LanNguyễn Ngọc Sơn
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17435 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH Ở NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA BA VÌ NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17436
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ tim mạch chính; việc kiểm soát HA và các yếu tố nguy cơ kèm theo (ĐTĐ, rối loạn lipid, béo phì) là then chốt để giảm biến cố tim mạch. Tại BVĐK Ba Vì đang quản lý số lượng lớn bệnh nhân THA ngoại trú nhưng chưa có nghiên cứu đánh giá thực trạng kiểm soát các yếu tố nguy cơ tại đơn vị. <strong>Mục tiêu:</strong> 1) Đánh giá thực trạng kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch ở người bệnh THA điều trị ngoại trú tại BVĐK Ba Vì năm 2025. 2) Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến khả năng kiểm soát huyết áp.<strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 400 bệnh nhân THA đang quản lý ngoại trú tại Phòng khám THA, BVĐK Ba Vì (năm 2025). Thu thập thông tin lâm sàng, huyết áp, xét nghiệm glucose đói, HbA1c, LDL-C, BMI, tiền sử và thuốc điều trị; xử lý bằng Epidata và SPSS. <strong>Kết quả chính: </strong>Tổng số: 400 bệnh nhân, nam 200 (50%), nữ 200 (50%). Nhóm tuổi ≥55 chiếm 88,5%. Trình độ THCS trở xuống chiếm 58,5%. Tỷ lệ đạt mục tiêu huyết áp (HA): 32,5% (130/400 đạt, 270/400 không đạt). Kiểm soát glucose: Đạt HbA1c: 25%; glucose đói đạt: 39,7%. Kiểm soát LDL-C: Đạt: 44,2%. Liên quan thống kê: Tỷ lệ đạt mục tiêu HA, glucose, LDL-C khác biệt theo nhóm tuổi, trình độ học vấn, nhóm BMI (các p < 0,05 ở nhiều so sánh). Nhóm thừa cân/béo phì có tỷ lệ đạt mục tiêu thấp hơn rõ rệt (p < 0,001). Tỷ lệ đạt mục tiêu LDL-C tốt hơn ở nhóm học vấn cao (p = 0,004). <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ kiểm soát HA và các yếu tố nguy cơ tim mạch ở đối tượng nghiên cứu còn thấp (HA đạt 32,5%; LDL-C đạt 44,2%; HbA1c đạt 25%). Tuổi, BMI, trình độ học vấn là các yếu tố liên quan. Cần can thiệp liên tục ở tuyến cơ sở: nâng cao tư vấn thay đổi lối sống, tối ưu hoá liệu pháp thuốc và quản lý ngoại trú.</p>Nguyễn Đức ĐaNguyễn Thị ThoaNguyễn Thị Việt AnhNguyễn Thị Thanh HảoLê Thị Hạnh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17436ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP GỐI NGUYÊN PHÁT BẰNG LASER CHÂM, ĐIỆN XUNG VÀ VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆU TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA BA VÌ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17437
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tác dụng điều trị thoái hoá khớp gối nguyên phát bằng Laser châm kết hợp điện xung và vận động trị liệu tại khoa Y, Dược cổ truyền bệnh viện Đa khoa Ba Vì năm 2025. Theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp can thiệp trên lâm sàng. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Thử nghiệm lâm sàng trên 60 bệnh nhân được chẩn đoán xác định thoái hóa khớp gối nguyên phát theo Y học hiện đại và Hạc tất phong thể phong hàn thấp tý kiêm can thận hư theo Y học cổ truyền, chia có chủ đích thành 2 nhóm. Nhóm đối chứng (n=30) điều trị bằng điện xung, tập vận động trị liệu. Nhóm nghiên cứu (n=30) điều trị bằng laser châm, điện xung, vận động trị liệu. Liệu trình 15 ngày, so sánh kết quả trước - sau điều trị và so sánh với nhóm đối chứng. <strong>Kết quả:</strong> Bệnh nhân có tuổi trung bình là 62,50±7,67 tuổi, tỷ lệ nữ nhiều hơn nam (44/60 so với 16/60). Kết quả điều trị cho thấy sau 15 ngày điều trị, phương pháp laser châm, điện xung và vận động trị liệu cải thiện Thang điểm đau NRS giảm 3,73 điểm; thang điểm Lequesne giảm 4,04 điểm; khoảng cách gót – mông giảm 8,57cm; tầm vận động khớp gối tăng 30<sup>o</sup>, không có bệnh nhân nào ghi nhận hiệu quả điều trị kém. Sự khác biệt giữa trước sau điều trị và so sánh với nhóm đối chứng có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Không ghi nhận bất kỳ tác dụng phụ nào của phương pháp trong suốt quá trình điều trị. <strong>Kết luận: </strong>Phương pháp laser châm, điện xung kết hợp vận động trị liệu có tác hiệu quả giảm đau, cải thiện tầm vận động rõ rệt hơn nhóm đối chứng với p<0,05. Theo dõi tác dụng không mong muốn: Phương pháp này là an toàn, trong quá tình nghiên cứu không ghi nhận bất kỳ tác dụng không mong muốn nào.</p>Phan Kim LongNguyễn Văn ThắngPhương Thu HươngPhùng Thanh YênPhùng Thị Hải LýNguyễn Thế Anh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17437PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ TẦN SUẤT CHỈ ĐỊNH CẬN LÂM SÀNG TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA GIA LÂM
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17438
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Phân tích thực trạng sử dụng thuốc và và tần suất chỉ định cận lâm sàng trong điều trị đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2 tại bệnh viện đa khoa Gia Lâm từ 7/2024 đến 7/2025. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu hồi cứu không can thiệp thông qua bệnh án ngoại trú của các bệnh nhân (BN). Đối tượng nghiên cứu là BN ĐTĐ typ 2 tái khám định kỳ hàng tháng trong thời gian từ 01/07/2024 đến 31/07/2025. Nghiên cứu thực hiện phương pháp chọn mẫu hệ thống với cỡ mẫu theo công thức (n =196). <strong>Kết quả:</strong> Độ tuổi trung bình của BN là 67 ± 10. Các BN có kết quả xét nghiệm ban đầu đều ở mức ổn định do đang điều trị trước đó. Về tần suất chỉ định cận lâm sàng, BN được làm xét nghiệm glucose huyết, HbA1c trung bình 3–4 lần/năm, phù hợp khuyến cáo của Bộ Y tế. Về phác đồ trị ĐTĐ, phác đồ có insulin chiếm 18,4% trong đó phác đồ insulin đơn độc chiếm 51%; Phác đồ chỉ có đường uống (81,6%) chủ yếu là phối hợp đôi metformin + sulfonylure (57%). Về phác đồ trị tăng huyết áp, phác đồ dùng nhiều nhất là ACEi/ARB + lợi tiểu (35%). Trong quản lý lipid máu sử dụng chủ yếu là statin (82%). <strong>Kết luận:</strong> Việc điều trị và sử dụng thuốc, theo dõi xét nghiệm, cận lâm sàng tại bệnh viện nhìn chung phù hợp hướng dẫn điều trị, cần duy trì. Tuy nhiên cần đa dạng danh mục thuốc điều trị ĐTĐ và cải thiện cường độ statin để tăng hiệu quả bảo vệ sức khỏe tim mạch thận cho BN</p>Nguyễn Đức HòaNguyễn Minh QuýThái Thị Hồng Phúc
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17438ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DỰ TRỮ SẮT Ở BỆNH NHÂN THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17439
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> Đánh giá tình trạng dự trữ sắt ở bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ tại bệnh viện Thanh Nhàn và mối liên quan giữa tình trạng dự trữ sắt với một số yếu tố ở đối tượng nghiên cứu. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 110 bệnh nhân TNT chu kỳ tại khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 3 năm 2024 đến tháng 9 năm 2024. <strong>Kết quả</strong><strong>:</strong> Tuổi trung bình của nhóm BN trong nghiên cứu là 51.8± 11.6 tuổi, tập trung chủ yếu vào độ tuổi 31-50 tuổi chiếm 39,1% , 51-70 tuổi chiếm 34,54%. Hemoglobin trung bình của nhóm BN nghiên cứu là 93.8 ± 11.3 g/l. BN thiếu máu chiếm 87.3 % chủ yếu thiếu máu nhẹ. Nồng độ sắt huyết thanh trung bình là 14.8 ±7.5 µmol/l, ferritin trung bình 546±152 ng/ml, nồng độ transferrin trung bình 161±32,7 mg/dl, TSAT trung bình 37.5 ±19.2%. Nồng độ ferritin có mối tương quan thuận với các yếu tố RET-He r=0.11, creatinin r= 0.269, chỉ số BMI của cơ thể r =0.111, thời gian TNT r=0.126, nồng độ Hb r=012 với p<0.05. Sắt có mối tương quan thuận với các yếu tố Creatinin: r=0.172, Protein r=0.148, Albumin: r=0.255, RET-He r=0.28 ,p<0.05.Nồng độ transferrin có mối liên quan thuận với nồng độ albumin trong máu r=0.065, p<0.05. TSAT có mối tương quan tỷ lệ thuận với nồng độ albumin máu r=0.287, RET-He r=0.165, p<0.05.</p>Bùi Anh TuấnNguyễn Đăng QuốcPhạm Thị Oanh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17439ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA LỌC MÁU LIÊN TỤC VỚI QUẢ LỌC OXIRIS TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM TỤY CẤP NẶNG TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17440
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân viêm tụy cấp nặng, đánh giá hiệu quả của lọc máu liên tục với quả lọc Oxiris trong điều trị viêm tụy cấp nặng. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu can thiệp tiến cứu, được thực hiện trên 27 bệnh nhân viêm tụy cấp nặng, được điều trị tại bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 1/2024 - 9/2025. <strong>Kết quả nghiên cứu:</strong> trong 27 bênh nhân viêm tụy cấp, không có bệnh nhân tử vong, sau lọc máu, <strong>IL-6 giảm mạnh từ 623 xuống 64 pg/mL</strong> bạch cầu giảm từ 14,8 xuống 9,2 G/L, <strong>n</strong><strong>hịp thở giảm từ</strong> 31,3 ± 4,5 xuống 18,2 ± 3,6, điểm APACHE II giảm từ 14,3 ± 3,9, xuống 9,8 ± 1,8.</p>Phạm Thi Trà GiangTrương Vinh Long
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17440ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHỐNG ĐÔNG MÀNG LỌC CỦA ENOXAPARIN TRONG LỌC MÁU NGẮT QUÃNG TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN THANH NHÀN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17441
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kết quả chống đông màng lọc của Enoxaparine trong lọc máu ngắt quãng tại khoa Hồi sức tích cực bệnh viện Thanh Nhàn từ T3/2025 đến T9/2025. <strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu can thiệp tiến cứu trên 41 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu có chỉ định lọc máu ngắt quãng tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 3 năm 2025 đến tháng 9 năm 2025. <strong>Kết quả:</strong> Nhóm nghiên cứu có 41 bệnh nhân, trong đó có 25 nam (61%), 16 nữ (39%), bệnh nhân trong nhóm chủ yếu có chỉ định lọc máu ngắt quãng là phù phổi cấp ở bệnh nhân suy thận (51%), toan chuyển hóa không đáp ứng nội khoa (24%), hội chứng ure huyết (12%)… Tuổi trung bình 65,3 ± 16.6, nam: 66.4 ± 18.5, nữ: 54.2 ± 12.8, p=0,451. Sự thay đổi Ure trước – sau lọc: 25,7 ± 12,1 vs 15,5 ± 8,1, p=0,0318; sự thay đổi Creatinin trước – sau lọc: 361,12 ± 85,12 vs 202,8 ± 22,2, p=0,0273; sự thay đổi Kali trước – sau lọc: 5,6 ± 1,5 vs 3,6 ± 0,4, p=0,0392. Sự thay đổi tiểu cầu trước – sau lọc không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê p> 0,05. Các chỉ số TMP, Filter drop tăng dần theo thời gian IHD đây là một diễn biến bình thường trong khi tiến hành IHD nhưng TMP vẫn trong giới hạn báo động cài đặt, 25/130 lần IHD (19,2%) có anti Xa < 0,4 IU/ml nhưng chỉ có 2 trường hợp có biểu hiện tắc màng TMP cao mà không xử lý được. Trước tiêm enoxaparin: 128/135 lần IHD (94,8%) có anti Xa < 0,4UI/ml; sau tiêm enoxaparin 1 giờ: 25/130 lần IHD (19,2%) có anti Xa <0,4 IU/ml. 80/130 lần IHD (61,6%) có anti Xa 0,4 - 1,2 IU/ml. 25/130 lần IHD (19,2%) có anti Xa >1,2 IU/ml; sau IHD: 4/128 số lần IHD (3,1 %) có anti Xa >1,2 IU/ml nằm ngoài tác dụng chống đông mong muốn nhưng không thấy hiện tượng chảy máu và mất máu. <strong>Kết luận: </strong>Hiệu quả chống đông màng khi sử dụng phác đồ enoxaparin trong thay HT đạt 98,5% (133/135)</p>Nguyễn Thị Thanh ThuỷPhạm Huy KhánhNguyễn Thị Hoa
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17441NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ NÃO MẠCH NÃO CỦA BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CẤP HỆ ĐỘNG MẠCH ĐỐT SỐNG THÂN NỀN TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17442
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ não mạch não của nhồi máu não cấp hệ động mạch sống - nền 2. Nhận xét mối liên quan giữa lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ của nhồi máu não cấp hệ động mạch sống - nền. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 30 người bệnh nhồi máu não cấp hệ động mạch đốt sống thân nền điều trị tại bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 1 năm 2025 đến tháng 9 năm 2025. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 70.2±8.95.Tỷ lệ nam/nữ là 1/2. Cách khởi phát: đột ngột 67%, tiến triển từ từ tăng dần 33%. Triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là chóng mặt (50%), tiếp theo là buồn nôn và nôn (30%) và đau đầu(23.33%). Trên phim cộng hưởng từ não mạch não, tổn thương nhu mô não nhiều vị trí chiếm 30%, tổn thương đơn thuần 1 vị trí chiếm 70%. Vị trí tổn thương thường gặp nhất là cầu não chiếm 46.67%, tổn thương tiểu não chiếm 10%, đồi thị chiếm 6.67%. Điểm pc-Aspect từ 8-10 chiếm 80%, 0-7 chiếm 20%. Ở nhóm bệnh nhân pc-Aspect 8-10, tình trạng lâm sàng của bệnh nhân tiên lượng tốt, tỷ lệ tàn tật sau ra viện thấp. Ở nhóm bệnh nhân có điểm pc-Aspect 0-7 điểm thì tình trạng lâm sàng nặng hơn, tỷ lệ tàn tật sau ra viện cao hơn.</p>Nguyễn Thế AnhLê Thị Khánh Ly
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17442NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHUYỂN DẠNG CHẢY MÁU Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO DO TẮC ĐỘNG MẠCH NÃO GIỮA TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17443
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá một số yếu tố liên quan đến chuyển dạng chảy máu ở bệnh nhân nhồi máu não do tắc động mạch não giữa có chuyển dạng chảy máu tại bệnh viện Thanh Nhàn. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu mô tả loạt bệnh cắt ngang được thực hiện trên 28 người bệnh nhồi máu não do tắc động mạch não giữa điều trị tại Bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 3 năm 2025 đến tháng 9 năm 2025. Kết quả: Tuổi trung bình của các bệnh nhân nhồi máu động mạch não giữa có chuyển dạng chảy máu là 69,07 ± 10,84. Tỷ lệ nhóm bệnh nhân nam là 42,9%. Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là liệt nửa người (78,6%). Điểm NIHSS trung bình lúc nhập viện và tại thời điểm xuất hiện chuyển dạng chảy máu lần lượt là 10,64 ± 8,25 và 11,93±8,27. Huyết áp tâm thu trung bình là 153,57 ± 26,49 mmHg. Trên chẩn đoán hình ảnh, số lượng bệnh nhân nhồi máu não diện rộng có kích thước ổ nhồi máu >30mm chiếm tỷ lệ 64,3%. Số lượng bệnh nhân thuộc nhóm Tụ máu nhu mô chiếm 64,3%. Các yếu tố góp phần dự đoán chuyển dạng chảy máu trên các bệnh nhân nhồi máu động mạch não giữa, bao gồm: Huyết áp tâm thu (OR = 6,250, 95% CI: 1,213 đến 32,214), kích thước ổ nhồi máu >30mm (OR = 6,600, 95% CI: 1,229 đến 35,438).</p>Vũ Hồng TháiLê Thị Khánh LyLê Hương Quỳnh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17443GIÁ TRỊ CỦA VIỆC PHÁT HIỆN NHANH CARBAPENEMASE VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI KIỂU HÌNH KHÁNG CEFTAZIDIME/AVIBACTAM Ở VI KHUẨN GRAM ÂM TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17444
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định một số loại carbapenemase bằng test nhanh O.K.N.V.I RESIST-5 và RESIST-ACINETO, đồng thời mô tả mối liên quan giữa loại carbapenemase và kiểu hình kháng ceftazidime/ avibactam (CZA) ở các vi khuẩn Gram âm phân lập tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2025. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> ghiên cứu mô tả cắt ngang trên 150 chủng Gram âm (Klebsiella pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumannii), gồm 120 chủng kháng carbapenem và 30 chủng nhạy cảm. Test nhanh O.K.N.V.I RESIST-5 và RESIST-ACINETO được sử dụng để phát hiện KPC, NDM, VIM, OXA-48 và OXA-23/40/58. Kiểu hình kháng CZA được xác định bằng hệ thống tự động và vi pha loãng. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ carbapenemase dương tính ở nhóm vi khuẩn kháng carbapenem đạt 89,2%, cao hơn đáng kể so với nhóm nhạy cảm (10%, p < 0,001). Ở Klebsiella pneumoniae, enzyme chủ yếu gồm OXA-48 (56,8%), KPC (45,9%) và NDM (37,8%). Pseudomonas aeruginosa mang chủ yếu KPC (59%) và NDM (43,6%), trong khi Acinetobacter baumannii gần như đặc trưng bởi OXA-23 (77,3%). NDM dự đoán mạnh tình trạng kháng CZA ở P. aeruginosa (PPV 91,7%; OR = 13,75; p < 0,01) và K. pneumoniae (PPV 100%; OR = ∞). Ngược lại, KPC liên quan rõ rệt tới nhạy CZA ở K. pneumoniae (PPV 80%; OR = 0,125; p < 0,01) và P. aeruginosa (PPV 78,9%; OR = 0,014; p < 0,01). <strong>Kết luận:</strong> Test nhanh carbapenemase là công cụ hữu ích trong định hướng lựa chọn CZA sớm. Kháng CZA phụ thuộc chặt chẽ vào loại enzyme, nhấn mạnh tầm quan trọng của xét nghiệm này trong tối ưu điều trị và kiểm soát nhiễm khuẩn.</p>Lưu Thị Vũ NgaNguyễn Thị Thanh Hoa
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17444ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT KÉM ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP – BỆNH VIỆN ĐA KHOA BA VÌ NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17445
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Kiểm soát đường huyết đóng vai trò trung tâm trong dự phòng biến chứng ở người bệnh đái tháo đường typ 2. Tuy nhiên, tỷ lệ kiểm soát đường huyết kém vẫn còn cao tại các cơ sở y tế tuyến cơ sở. <strong>Mục tiêu:</strong> (1) Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh đái tháo đường typ 2 kiểm soát đường huyết kém điều trị nội trú năm 2025 tại Bệnh viện Đa khoa Ba Vì; (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng kiểm soát đường huyết kém. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh trên 94 người bệnh đái tháo đường typ 2 có HbA1c ≥ 7% điều trị nội trú tại khoa Nội tổng hợp từ 3/2025–8/2025. Các thông tin thu thập gồm: đặc điểm nhân khẩu học, bệnh sử, chỉ số lâm sàng – cận lâm sàng, bệnh đồng mắc, biến chứng và các yếu tố lối sống. Xử lý số liệu bằng thống kê mô tả và phân tích mối liên quan. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 64,3 ± 11,3 tuổi, nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam. Thời gian mắc bệnh trên 5 năm chiếm ưu thế. Tỷ lệ thừa cân – béo phì (BMI ≥ 23) cao. Phần lớn người bệnh có tăng huyết áp và rối loạn lipid máu đi kèm. Đa số không đạt mục tiêu lipid máu và huyết áp. Các yếu tố liên quan đến kiểm soát đường huyết kém gồm: BMI cao, học vấn thấp, thu nhập thấp, thời gian mắc bệnh dài, tuân thủ điều trị kém và lối sống ít vận động. <strong>Kết luận:</strong> Trong nghiên cứu, người bệnh chủ yếu là người cao tuổi, mắc đái tháo đường tư 1 đến 5 năm, có thể trạng trung bình. Tình trạng rối loạn chuyển hóa như: tăng triglycerid, tăng glucose lúc đói, HbA1c ≥ 10mml/l xuất hiện với tỷ lệ cao.Người bệnh thường mắc các bệnh đồng mắcvà có biến chứng võng mạc, thần kinh ngoại vi, đột quỵ.</p>Phan Thị LuyếnĐinh Thị Mai YếnLê Thị Thu TrangĐàm Thị Minh ThúyLê Thị Thanh An
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17445HÌNH THÁI TỔN THƯƠNG VÀ CÁC TỔN THƯƠNG PHỐI HỢP TRONG RÁCH HOÀN TOÀN GÂN CƠ CHÓP XOAY ĐIỀU TRỊ BẰNG NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN ĐÀ NẴNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17446
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Trên bệnh lý rách gân cơ chóp xoay thì đặc điểm hình thái tổn thương trước phẫu thuật cũng như các đặc điểm tổn thương phối hợp có khả năng ảnh hưởng đến tiên lượng phẫu thuật và mức độ hồi phục trên bệnh nhân.<strong> Mục tiêu</strong>: Mô tả hình thái rách gân cơ chóp xoay trong rách toàn phần và đánh giá các tổn thương phối hợp phát hiện qua nội soi khớp vai. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu hồi cứu và tiến cứu, cắt dọc, không đối chứng trên bệnh nhân bị bệnh lý rách hoàn toàn gân cơ chóp xoay có chỉ định phẫu thuật nội soi khớp tại Bệnh viện Đà Nẵng từ tháng 10/2022 đến tháng 07/2024.<strong> Kết quả</strong>: Nghiên cứu ghi nhận tổn thương rách gân cơ chóp xoay với kích thước lỗ rách từ 1-3 cm chiếm tỷ lệ cao nhất (48,7%) và kích thước lỗ rách >5 cm chiếm tỷ lệ thấp nhất (12,8%). Rách hình chữ C chiếm tỷ lệ cao nhất với 59,0%, cao gấp khoảng 4-5 lần các kiểu rách khác. Co rút gân độ I và độ II chiếm tỷ lệ rất cao (46,2%) và co rút gân độ III chiếm tỷ lệ rất thấp (7,6%). Trong các tổn thương kèm theo ghi nhận được bao gồm rách sụn viền, rách đầu dài gân nhị đầu và chèn ép mỏm cùng thì tổn thương thường gặp nhất là chèn ép mỏm cùng (30,8%). <strong>Kết luận:</strong> Đánh giá hình thái tổn thương và các tổn thương phối hợp với rách gân cơ chóp xoay là vấn đề rất quan trọng trong điều trị nội soi để lựa chọn kỹ thuật phù hợp trong quá trình phẫu thuật.</p>Đặng Văn ThởiNgô Hạnh
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17446THỰC TRẠNG TUÂN THỦ GÓI DỰ PHÒNG VIÊM PHỔI LIÊN QUAN ĐẾN THỞ MÁY TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC - CHỐNG ĐỘC, BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17447
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ gói dự phòng viêm phổi liên quan đến thở máy tại Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2025. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Mô tả tiến cứu thực hiện trên 71 người bệnh thở máy từ tháng 03/2025 đến tháng 09/2025. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ được tuân thủ trung bình là 83,9%, có 73,2% người bệnh có mức độ được tuân thủ cao (≥75%). Xác định mối liên quan ghi nhận người bệnh có mức độ được tuân thủ thấp có tỷ lệ VPLQTM cao gấp 4,7 lần so với người có mức độ được tuân thủ cao (p<0,05), có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê tỷ lệ VPLQTM và tuân thủ giải pháp đánh giá rút ống. <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ được tuân thủ các giải pháp dự phòng VPLQTM ≥75% giúp giảm tỷ lệ VPLQTM. Cần tăng cường can thiệp nâng cao tỷ lệ được tuân thủ gói dự phòng nhằm giảm tỷ lệ VPLQTM.</p>Trần Thị OanhNguyễn Thị Ngân
Copyright (c) 2026
2026-02-092026-02-09559110.51298/vmj.v559i1.17447