Tạp chí Y học Việt Nam
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj
<p><strong>1. Tên cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo in (báo in, tạp chí in):</strong></p> <p><strong>Tổng hội Y học Việt Nam</strong></p> <p><strong>Địa chỉ:</strong> 68A Bà Triệu, Phường Cửa Nam, Thành phố Hà Nội</p> <p><strong>Điện thoại:</strong> 024 39431866 </p> <p><strong>2. Tôn chỉ, mục đích:</strong></p> <p>- Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về y học;</p> <p>- Phổ biến những thành tựu khoa học, công trình nghiên cứu, kiến thức khoa học trong nước và quốc tế về nghiệp vụ y tế.</p> <p><strong>3. Đối tượng phục vụ: </strong>Hội viên Tổng hội Y học Việt Nam, các cán bộ y tế, sinh viên y, dược và bạn đọc quan tâm.</p> <p><strong>4. Thể thức xuất bản: </strong>Ấn phẩm in</p> <p><strong>5. Ấn phẩm chính:</strong></p> <p>- Tên gọi: Tạp chí Y học Việt Nam.</p> <p>- Ngôn ngữ thể hiện: Tiếng Việt, tiếng Anh.</p> <p>- Kỳ hạn xuất bản: 03 kỳ/tháng tiếng Việt và 02 kỳ/năm tiếng Anh.</p> <p>- Thời gian phát hành: Ngày 15&30 hàng tháng;</p> <p>- Khuôn khổ: 19cmx27cm;</p> <p>- Số trang: 380 trang kỳ tiếng Việt và 180 trang kỳ tiếng Anh.</p> <p> </p>Vietnam Medical Associationvi-VNTạp chí Y học Việt Nam1859-1868ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HÚT ÁP LỰC ÂM TRONG ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG PHẦN MỀM PHỨC TẠP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19109
Đặt vấn đề: Có nhiều loại tổn thương phần mềm khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ cấp tính đến mạn tính. Liệu pháp hút áp lực âm (HALA) ra đời và được triển khai nhiều nơi trên thế giới. Tại Việt Nam, liệu pháp này đã được áp dụng ở một số trung tâm lớn và bước đầu cho thấy kết quả rất đáng khích lệ. Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ cũng đã triển khai HALA trong những năm gần đây nhưng chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả của phương pháp này. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả ứng dụng HALA trong điều trị tổn thương phần mềm phức tạp tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu, bao gồm 60 bệnh nhân (BN) có tổn thương phần mềm ở chi thể và thân mình được điều trị bằng phương pháp HALA tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2023, bằng bộ câu hỏi soạn sẵn về đặc điểm chung, lâm sàng, cận lâm sàng, và kết quả điều trị. Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0. Kết quả: Trong 60 BN có 30% nhóm tuổi từ 41 đến 60 tuổi và 56,7% từ 61 tuổi trở lên. Tuổi trung bình 57,9 ± 15,9, nhỏ nhất 19 tuổi, lớn nhất 93 tuổi. Giới tính nam chiếm 41,7% và 58,3% là nữ. Sau HALA, 100% tổn thương đạt kết quả tốt. Kết luận: HALA là phương pháp đơn giản dễ làm và đạt hiệu quả tốt. Đây là phương pháp điều trị tiên tiến rút ngắn thời gian lành tổn thương.Nguyễn Tuấn Cảnh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19109ĐẶC ĐIỂM NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU TẠI KHOA NỘI THẬN BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19110
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục nội viện của người bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu điều trị nội trú tại khoa Nội thận, bệnh viện Chợ Rẫy Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang hồ sơ bệnh án của người bệnh được chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu điều trị nội trú tại khoa Nội thận bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01/2024 đến tháng 7/2024. Kết quả nghiên cứu: Tuổi trung bình là 56,5 ± 17,83; nhóm tuổi 46-65 tuổi chiếm 38,4%; trên 65tuổi chiếm 36,6%. Nữ giới chiếm 64,3%. Những yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn đường tiết niệu là: đái tháo đường (35,7%), tiền căn sỏi thận - sỏi niệu quản (31,3%), phì đại tiền liệt tuyến (15,2%). Lý do nhập viện thường gặp nhất là sốt (37,5%), đau bụng (13,4%), tiểu gắt buốt (11,6%). Những triệu chứng lâm sàng thường gặp của người bệnh là sốt (39,3%); đau hông lưng (24,1%); tiểu gắt (40,2%); tiểu lắt nhắt (12,5%), đau bụng (14,3%). Có 38 (33,9%) người bệnh có tình trạng sốc tại thời điểm nhập viện. Thời gian nằm viện trung bình là 6,9 ± 4,91 ngày. Có 8 người bệnh (7,14%) có kết cục nặng về hoặc tử vong nội viện. Có 65 người bệnh (58%) được chụp CT scan bụng, với tổn thương thường gặp là thận ứ nước (40,2%); thâm nhiễm mỡ quanh thận (12,5%); sỏi thận – niệu quản (23,6%); apxe thận (4,5%). Tỉ lệ bạch cầu niệu dương tính là trong nước tiểu là 70,5%, nitrit (+) là 15,2%. Có 20 người bệnh có kết quả cấy nước tiểu dương tính (17,9%), cấy vi khuẩn gram âm là chủ yếu (75%), trong đó chủ yếu là E.Coli (60%). Vi khuẩn E.Coli còn nhạy cảm cao với tygecyclin (83,3%), nhóm carbapenem (75%), nitrofurantoin (66,7%), đề kháng 100% với nhóm Quinolone (bao gồm ciprofloxacin và levoflocaxin). Tỉ lệ sinh ESBL của E.Coli rất cao 91,7%. Kết luận: Nhiễm khuẩn đường tiết niệu có triệu chứng lâm sàng đa dạng. Người bệnh NKĐTN nhập bệnh viện Chợ Rẫy thường có tình trạng sốc. Tỉ lệ cấy nước tiểu dương tính còn thấp, tỉ lệ vi khuẩn đề kháng kháng sinh cao.Nguyễn Nữ Bảo ChiêuĐào Bùi Quý Quyền
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19110KHẢO SÁT TỶ LỆ TUÂN THỦ VỆ SINH TAY NGOẠI KHOA CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHOA PHẪU THUẬT GÂY MÊ HỒI SỨC, BỆNH VIỆN CHỢ RẪY NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19111
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay ngoại khoa (VSTNK) và các yếu tố liên quan của nhân viên y tế (NVYT) tại Khoa Phẫu thuật Gây mê hồi sức ở Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến hành từ tháng 01/2025 đến 04/2025 trên 360 cơ hội của NVYT tại Khoa Phẫu thuật Gây mê Hồi sức – Bệnh viện Chợ Rẫy. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn bằng bảng hỏi kết hợp quan sát trực tiếp sử dụng bảng kiểm tiêu chuẩn. Kết quả: Tỷ lệ tuân thủ VSTNK trung bình tại Khoa Phẫu thuật Gây mê hồi sức là 45%, trong đó có sự khác biệt giữa các nhóm chức danh chuyên môn: nhân viên phòng mổ (70,0%), phẫu thuật viên (49,1%), học viên (20,7%). Nghiên cứu đã ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tuân thủ VSTNK giữa các nhóm giới tính, tuổi, chức danh chuyên môn, và thâm niên công tác của nhân viên y tế. Kết luận: Nghiên cứu cung cấp dữ liệu cơ sở về tuân thủ VSTNK tại Việt Nam, đặc biệt ghi nhận sự tham gia và tuân thủ của Học viên thực tập, một khía cạnh ít được đề cập trong các nghiên cứu trước. Kết quả này là nền tảng quan trọng cho việc xây dựng và cải tiến các kế hoạch kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện trong tương lai.Phùng Mạnh ThắngNguyễn Duy KhaNguyễn Trí Cường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Việt Nam
563310.51298/vmj.v563i3.19111ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT SẸO KẾT HỢP XẠ TRỊ NÔNG TRONG ĐIỀU TRỊ SẸO LỒI VÙNG NGỰC SAU PHẪU THUẬT HỞ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19112
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị sẹo lồi vùng ngực sau phẫu thuật tim hở bằng phẫu thuật cắt sẹo kết hợp xạ trị nông. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 16 bệnh nhân sẹo lồi vùng ngực sau phẫu thuật tim hở tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia giai đoạn 2021–2025. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn sẹo và xạ trị nông bằng máy SRT-100 trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật, tổng liều 18 Gy chia 3 phân liều. Kết quả điều trị được đánh giá bằng thang điểm POSAS và tỷ lệ tái phát sau tối thiểu 12 tháng theo dõi. Kết quả: Tuổi trung bình 43,8 ± 11,9 tuổi; nữ giới chiếm 62,5%. Tất cả bệnh nhân đã điều trị trước đó và đều tái phát. Sau 12 tháng, tổng điểm POSAS giảm từ 81,8 ± 5,0 xuống 39,9 ± 5,8 điểm, tương ứng mức cải thiện 51,2%. Điểm POSAS của quan sát viên giảm từ 40,1 ± 3,9 xuống 19,6 ± 4,0 điểm. Điểm POSAS của bệnh nhân giảm từ 41,7 ± 3,1 xuống 20,3 ± 4,2 điểm. Tỷ lệ tái phát là 25,0%. Kết luận: Phẫu thuật cắt sẹo kết hợp xạ trị nông bằng SRT-100 giúp cải thiện đáng kể chất lượng sẹo và giảm tái phát ở bệnh nhân sẹo lồi vùng ngực sau phẫu thuật tim hở.Tống Thanh HảiNguyễn Ngọc ChìuPhan Thị Thục TrangĐỗ Trung Quyết
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19112KẾT QUẢ HÓA TRỊ KẾT HỢP PEMBROLIZUMAB TRONG UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN TÁI PHÁT/DI CĂN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19113
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn tái phát/di căn bằng phác đồ pembrolizumab kết hợp hoá chất. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 40 bệnh nhân được chẩn đoán UTPKTBN giai đoạn tái phát/di căn được điều trị pembrolizumab kết hợp hoá chất tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 01/2020 – 01/2026. Kết quả: Tỷ lệ đáp ứng chung 57,5%, tỷ lệ kiểm soát bệnh 90%. Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển trung vị (mPFS) là 10 tháng (95% CI: 4,88-15,12 tháng). Các độc tính thường gặp liên quan đến miễn dịch là viêm phổi kẽ (5%), viêm gan (5%). Các độc tính khác thường gặp bao gồm hạ bạch cầu trung tính (35%), thiếu máu (55%), hạ tiểu cầu (20%), tăng men gan (22,5%), nôn (27,5%), đa số đều ở độ 1-2. Kết luận: Phác đồ pembrolizumab kết hợp hoá chất mang lại kết quả điều trị khả quan và độc tính chấp nhận được trên nhóm bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tái phát/di căn.Hoàng Thanh ViệtTrịnh Lê HuyPhạm Tuấn Anh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19113ĐÁNH GIÁ BƯỚC ĐẦU SỰ THAY ĐỔI ĐƯỜNG THỞ SAU ĐIỀU TRỊ CHỈNH NHA Ở NGƯỜI BỆNH HÔ HAI HÀM CÓ NHỔ RĂNG HÀM NHỎ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19114
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá sự thay đổi kích thước đường thở trên phim sọ nghiêng trước và sau điều nắn chỉnh răng có nhổ 4 răng hàm nhỏ ở người bệnh vẩu hai hàm. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 32 phim sọ nghiêng của 16 người bệnh hô hai hàm, sai khớp cắn loại I bằng điều trị chỉnh nha có nhổ 4 răng hàm nhỏ vĩnh viễn trên và dưới, sử dụng phương pháp neo chặn tuyệt đối (cắm minivis) tại Trung tâm Kỹ thuật cao Khám chữa bệnh Răng Hàm Mặt – trường Đại học Y Hà Nội và khoa Nắn chỉnh răng – Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội. Kích thước đường thở vùng hầu mũi, hầu miệng và hầu thanh quản được đo trên phim sọ nghiêng trước và sau điều trị. Kết quả: Vùng hầu miệng (SPAS; MAS; IAS) và hầu thanh quản (LPW-Eb) sau điều trị đều giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,01), trong khi vùng hầu mũi không có sự thay đổi. Cụ thể, SPAS giảm 1,27 ± 1,24 mm, MPS giảm 0.87 ± 1.09 mm, IAS giảm 1,52 ± 1,32 mm, LPW-Eb giảm 1,88 ± 2,09 mm. Kết luận: Điều trị nhổ 4 răng hàm nhỏ kết hợp neo chặn tối đa làm giảm đáng kể kích thước đường thở vùng hầu miệng và hầu thanh quản trên phim sọ nghiêng ở người bệnh hô hai hàm, sai khớp cắn loại I.Bùi Đức TrungNguyễn Thị Bích NgọcNguyễn Thanh HuyềnCao Thị Phương Thảo
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19114ĐƯỜNG TIẾP CẬN XUYÊN CƠ CẮN TRƯỚC TUYẾN MANG TAI TRONG PHẪU THUẬT GÃY LỒI CẦU XƯƠNG HÀM DƯỚI: KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BƯỚC ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG VÀ BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19117
Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu của đường tiếp cận xuyên cơ cắn trước tuyến mang tai trong phẫu thuật kết hợp xương để điều trị gãy lồi cầu xương hàm dưới. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu được thực hiện trên 18 bệnh nhân gãy lồi cầu xương hàm dưới có chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 7/2025 đến tháng 7/2026. Tất cả bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp kết hợp xương qua đường tiếp cận TMAP với các đường rạch da linh hoạt tùy theo vị trí ổ gãy. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm biến chứng trong và sau phẫu thuật, chức năng thần kinh mặt theo thang điểm House-Brackmann, biên độ há miệng, khớp cắn, kết quả chụp cắt lớp vi tính (CLVT) sau phẫu thuật và mức độ hài lòng của người bệnh. Kết quả: Trong 18 bệnh nhân được tiến hành nghiên cứu, nam giới chiếm 94,4%; nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông. Không ghi nhận trường hợp nào bị liệt thần kinh mặt, chảy máu sau phẫu thuật hoặc tê vùng mang tai. Chỉ có 01 trường hợp (5,6%) xuất hiện rò nước bọt và được điều trị bảo tồn thành công. Sau 3 tháng, toàn bộ bệnh nhân đạt biên độ há miệng trên 35 mm và khớp cắn ổn định. Hình ảnh cắt lớp vi tính sau phẫu thuật cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong nắn chỉnh giải phẫu, phục hồi chiều cao ngành hàm và góc gập của ổ gãy, không ghi nhận tình trạng lỏng hoặc gãy nẹp vít. Kết luận: Đường tiếp cận đường tiếp cận xuyên cơ cắn trước tuyến mang tai là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị phẫu thuật gãy lồi cầu xương hàm dưới, giúp bộc lộ ổ gãy thuận lợi, hạn chế tổn thương thần kinh mặt, phục hồi tốt chức năng ăn nhai và đạt kết quả giải phẫu khả quan.Trần Tuấn HiệpTrương Mạnh NguyênLê Ngọc TuyếnĐồng Ngọc QuangPhạm Nhật QuangHoàng Thị HươngDương Trần TrungTạ Anh TuấnPhạm Quang DươngTrần Văn ThắngPhan Huy HoàngDương Chí HiếuTrần Lê Minh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19117SCHWANNOMA CUỐNG GAN, MẠC NỐI NHỎ: BÁO CÁO LOẠT CA LÂM SÀNG HIẾM GẶP VÀ ĐIỂM LẠI Y VĂN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19118
Báo cáo hồi cứu mô tả loạt ca lâm sàng schwannoma cuống gan hoặc trong mạc nối nhỏ hiếm gặp với 2 mục tiêu: 1. Mô tả triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật ca Schwannoma cuống gan mạc nối nhỏ. 2. Điểm lại Y văn. Kết quả nghiên cứu: 2 bệnh nhân. Ca 1 nam, 29 tuổi, tiền sử đã mổ cắt U Neurinoma cột sống L5 tại Bệnh viện Chợ Rẫy ( 5-6 lần). Ca 2. Nữ, 46 T, tiền sử chưa phẫu thuật. Lâm sàng đau thượng vị không rõ, kém ăn. Ca 1: Kết quả chụp cắt lớp vi tính (CLVT): Khối U ranh giới rõ, kích thước 7-9 cm, hỗn hợp nửa đặc, nửa nang, không đồng nhất nằm sau đầu tụy, tá tràng, cạnh động mạch chủ. Khối U thứ 2 sau phúc mạc, dạng nang kích thước 3-3 cm, trước thận trái. Tổn thương trong mổ: Khối u kích thước 7-9 cm, nằm sau, đè đẩy cuống gan, nằm sau đầu tụy, D1-D2 tá tràng, khối U lên tới bờ cong nhỏ, xâm lấn động mạch (ĐM) gan chung, nằm trước và chèn ép tĩnh mạch chủ dưới, khối u đè đẩy động mạch vị trái lan tới động mạch thân tạng.Phẫu thuật (mổ mở): cắt U khó khăn do khối u chèn ép tĩnh mạch chủ, nằm sau và xâm lấn đầu tụy, D1-D2 tá tràng, nằm sau và xâm lấn cuống gan, động mạch gan chung, xâm lấn bờ cong nhỏ dạ dày, xâm lấn động mạch vị trái cho tới động mạch thân tạng. Tiến hành phẫu tích, đặt Lac cuống gan, đặt Lac động mạch gan chung, Đặt Lac động mạch vành vị, làm thủ thuật Kocher, cắt U. Kết quả giải phẫu bệnh (GPB) và hóa mô miễn dịch là Schwannoma. Khối U thứ 2 dạng nang sau phúc mạc, nằm sát góc tá hỗng tràng, 3-3 cm. Mổ cắt U. Kết quả giải phẫu bệnh và hóa mô miễn dịch là schwannoma (hóa mô miễn dịch: S-100 (+), SOX10(+), Ki 67 (+) 3%). Ca 2: (Chụp cắt lớp vi tính) Khối U 21-23 mm sát tâm vị, ngấm thuốc sau tiêm, bờ đều, ranh giới rõ, không xâm lấn xung quanh. Kết luận GIST tâm vị dạ dày, sỏi túi mật. Tổn thương trong mổ: Khối U 3-4 cm nằm ngang mức tâm vị, phía bờ cong nhỏ (BCN), nằm hoàn toàn trong mạc nối nhỏ, thành khối U không liên tục với tâm vị, tiếp xúc với ĐM vị trái. Mổ mở cắt U, cắt túi mật. Kết quả giải phẫu bệnh và hóa mô miễn dịchSchwannoma (S-100 (+), SOX10(+), Ki 67 (+) 2%) Kết luận: Khối U schwannoma cuống gan, bờ cong nhỏ là khối U thần kinh lành tính rất hiếm gặp (Y văn tiếng Anh có 9 ca). Vị trí U thường nằm trước tĩnh mạch chủ dưới, sau tụy và D2 tá tràng, nằm sau cuống gan, dọc theo bờ cong nhỏ. Tính chất U: Khối U thường có dạng đặc phối hợp với dạng nang. ChụpCLVT là khối u córanh giới rõ, mật độ không đồng nhất, hỗn hợp nửa đặc nửa nang, tỷ trọng thấp. Không thấy hạch, không thấy xâm lấn các mạch lớn, không thấy di căn xa. Phẫu thuật là phương pháp điều trị triệt căn (Với diện cắt R0). Có thể phẫu thuật nội soi cắt U (Theo Y văn tiếng Anh thế giới có 9 ca schwannoma cuống gan, 6ca mổ mở, 3 caphẫu thuật nội soi).Kết quả hóa mô miễn dịchS100 (+), SOX 10 (+), Ki67 (+) 2-3%.Thái Nguyên HưngThái Diệp Anh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19118ĐỊNH LƯỢNG MẬT ĐỘ SỢI THẦN KINH TRONG BIỂU BÌ TRÊN MẪU SINH THIẾT DA TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH SỢI THẦN KINH NHỎ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19119
Giới thiệu: Đánh giá mật độ sợi thần kinh trong biểu bì (Intraepidermal Nerve Fiber Density – IENFD) trên mẫu sinh thiết da ở các bệnh nhân nghi ngờ bệnh thần kinh sợi nhỏ (Small Fiber Neuropathy – SFN), đồng thời mô tả đặc điểm lâm sàng và mối liên quan giữa IENFD với triệu chứng thần kinh cảm giác. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca thực hiện trên 10 bệnh nhân có triệu chứng nghi ngờ SFN. Sinh thiết da được lấy tại vị trí chuẩn, nhuộm hóa mô miễn dịch với marker PGP 9.5. Mật độ sợi thần kinh trong biểu bì được định lượng theo số sợi/mm chiều dài biểu bì và so sánh với giá trị tham chiếu. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 52,8±17,3. Giảm mật độ sợi thần kinh trong biểu bì được ghi nhận ở 100% trường hợp. Các bệnh nhân có triệu chứng đau rát, dị cảm và rối loạn cảm giác nhiệt có xu hướng giảm IENFD rõ hơn. Hơn 70 % số trường hợp có bất thường cấu trúc sợi thần kinh kèm theo, sợi thần kinh đứt đoạn hoặc kết hạt. Kết luận: Định lượng mật độ sợi thần kinh trong biểu bì là công cụ chẩn đoán quan trọng, hỗ trợ xác định bệnh thần kinh sợi nhỏ trong bối cảnh lâm sàng phù hợp. Phương pháp sinh thiết da kết hợp nhuộm PGP 9.5 có giá trị cao trong thực hành chẩn đoán giải phẫu bệnh thần kinh.Phan Đặng Anh ThưLê Thị Yến VyHà Kiều TrangPhan Hoàng Phương KhanhĐặng Hoàng MinhĐặng Trần Quân
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19119MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH SIÊU ÂM, X-QUANG VÀ CẮT LỚP VI TÍNH Ổ BỤNG Ở BỆNH NHÂN THỦNG TẠNG RỖNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA GIA LÂM
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19120
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh siêu âm, X-quang và cắt lớp vi tính ổ bụng ở bệnh nhân thủng tạng rỗng tại Bệnh viện Đa khoa Gia Lâm. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 40 bệnh nhân thủng tạng rỗng được xác định bằng phẫu thuật từ tháng 1/2022 đến tháng 7/2025. Số liệu được xử lý bằng SPSS 20.0. Kết quả: Tỷ lệ nam/nữ là 1,8/1; tuổi trung bình 55±21 tuổi, nhóm trên 40 tuổi chiếm 75%. Vị trí thủng: mặt trước dạ dày (85%), môn vị - hành tá tràng (7,5%), mặt sau dạ dày (5%), tá tràng cố định (2,5%). Nguyên nhân chủ yếu do viêm - loét (87,5%). Siêu âm: Dịch tự do (82,5%), khí trước gan (62,5%), dịch phối hợp khí (60%), thâm nhiễm mỡ (22,5%), dày thành ruột (7,5%), khí vị trí khác (5%), mất liên tục thành ruột (2,5%). X-quang: Tỷ lệ phát hiện khí tự do chung là 80% (liềm hơi hai bên: 45%, một bên: 32,5%, khí quanh thận: 2,5%). Có 72,5% ca phát hiện ở lần chụp đầu; 3 ca phát hiện ở lần chụp hai (7,5%) và 8 ca âm tính hoàn toàn (20%). Cắt lớp vi tính không tiêm thuốc: Phát hiện khí tự do đạt 100% (dưới vòm hoành/mặt trước gan: 100%, quanh khoảng cửa: 67,5%, giữa các quai ruột: 65%, tiểu khung: 60%, sau phúc mạc: 2,5%). Các dấu hiệu khác: thâm nhiễm mỡ (87,5%), bóng khí lân cận (85%), dày thành ruột (75%), dịch tự do (72,5%), mất liên tục thành ruột (30%), tụ dịch lân cận (10%). Kết luận: Siêu âm và X-quang là công cụ sàng lọc đầu tay hiệu quả. Cắt lớp vi tính không tiêm thuốc là phương tiện giá trị nhất tại tuyến cơ sở với độ nhạy phát hiện khí tự do đạt 100% và hỗ trợ định vị tốt vị trí thủng.Tăng Thị Kỳ NinhVũ Quang HiểnNguyễn Thị Minh ThúyNguyễn Minh Phương
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19120KẾT QUẢ THAY ĐỔI TRỤC CƠ HỌC SAU THAY KHỚP GỐI TOÀN PHẦN ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19121
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, X-quang trước phẫu thuật và đánh giá sự thay đổi trục cơ học chi dưới sau thay khớp gối toàn phần ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối có biến dạng trục trên 5°. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu, theo dõi dọc, không có nhóm đối chứng trên 40 bệnh nhân thoái hóa khớp gối có biến dạng trục >5°, được phẫu thuật thay khớp gối toàn phần tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 04/2025 đến tháng 01/2026. Kết quả: Nghiên cứu trên 40 bệnh nhân thoái hóa khớp gối có biến dạng trục >5° cho thấy nữ giới chiếm 87,5%, nhóm tuổi 60–69 chiếm tỷ lệ cao nhất (57,5%), và 70% bệnh nhân thoái hóa khớp độ IV theo Kellgren–Lawrence. Sau phẫu thuật, góc trục cơ học trung bình giảm từ 9,68 ± 3,84° xuống 2,11 ± 0,91°, mức cải thiện 7,57° (p < 0,001). Điểm KS tăng từ 44,1 ± 7,6 lên 84,2 ± 2,1 điểm và KFS từ 44,8 ± 6,2 lên 84,9 ± 2,0 điểm (p < 0,001). Kết luận: Thay khớp gối toàn phần giúp hiệu chỉnh rõ rệt biến dạng trục cơ học và cải thiện chức năng khớp gối ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối giai đoạn nặng. Kết quả bước đầu cho thấy phương pháp có hiệu quả tốt trong phục hồi trục chi và chức năng khớp sau 6 tháng.Đào Thế VũTrần Ngọc ThanhNguyễn Vũ Hoàng
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19121ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 5 NĂM SAU NỘI SOI TÁI TẠO DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC KHỚP GỐI BẰNG KỸ THUẬT ALL-INSIDE TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19122
Mục tiêu: Đánh giá kết quả lâm sàng, chức năng và độ vững khớp gối sau 5 năm phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước bằng kỹ thuật All-Inside. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu, theo dõi dọc trên 62 bệnh nhân đứt dây chằng chéo trước được phẫu thuật nội soi tái tạo bằng kỹ thuật All-Inside với mảnh ghép gân Hamstring tự thân tại Khoa Phẫu thuật khớp, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, từ tháng 05/2019 đến 05/2021. Kết quả sau 5 năm được đánh giá bằng thang điểm Lysholm, IKDC, độ vững khớp gối bằng máy KT-1000 và các dấu hiệu lâm sàng. Thoái hóa khớp gối được đánh giá trên X-quang theo Kellgren–Lawrence và so sánh các thông số X-quang với bên đối diện. Kết quả: Sau 5 năm, 100% bệnh nhân đạt kết quả tốt và rất tốt theo thang điểm Lysholm, với điểm trung bình 92,42 ± 2,77. Theo IKDC, 74,2% đạt loại A và 25,8% đạt loại B. Có 88,7% bệnh nhân đạt Lachman độ 0 và 100% có Pivot shift âm tính. Thoái hóa khớp gối bên phẫu thuật nặng hơn có ý nghĩa thống kê so với bên đối diện (p < 0,001). Kết luận: Phẫu thuật nội soi tái tạo DCCS là phương pháp an toàn, khả thi, mang lại kết quả tốt trong phục hồi độ vững và chức năng khớp gối, với tỷ lệ biến chứng thấp.Đào Thế VũNguyễn Đức Hiếu
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19122KẾT QUẢ TRIỂN KHAI QUY TRÌNH SÀNG LỌC HAI BƯỚC TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG BẰNG ADA RISK SCORE TẠI CỘNG ĐỒNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19123
Mục tiêu: Mô tả kết quả triển khai quy trình sàng lọc hai bước sử dụng ADA Risk Score kết hợp glucose huyết tương lúc đói (FPG) và HbA1c nhằm phát hiện tiền đái tháo đường và các trường hợp có xét nghiệm ở ngưỡng đái tháo đường trong cộng đồng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 02/2026 đến tháng 06/2026 trên 363 người từ 35 tuổi trở lên đang sinh sống tại xã Vạn Xuân, tỉnh Hưng Yên. Tất cả đối tượng được đánh giá bằng ADA Risk Score. Người có điểm ≥5 được xem là nhóm nguy cơ cao; sau khi đánh giá tiêu chuẩn đủ điều kiện cho bước xét nghiệm, những người phù hợp được chỉ định FPG và HbA1c. Tình trạng glucose máu được phân loại theo ngưỡng xét nghiệm của ADA 2025. Kết quả: Trong 363 người được sàng lọc, 112 người (30,9%) có ADA Risk Score ≥5. Trong 112 người nguy cơ cao, 15 người không đủ điều kiện do có tiền sử mắc đái tháo đường hoặc đang sử dụng corticoid; 97 người còn lại được chỉ định xét nghiệm và 61 người hoàn thành đồng thời FPG và HbA1c, tương ứng tỷ lệ hoàn thành 62,9%. Trong số 61 người hoàn thành xét nghiệm, 18 người (29,5%) có glucose máu bình thường, 26 người (42,6%) được phân loại tiền đái tháo đường và 17 người (27,9%) có kết quả xét nghiệm ở ngưỡng đái tháo đường. Tổng cộng 43/61 người (70,5%) có rối loạn glucose máu; số người cần thực hiện xét nghiệm để phát hiện một trường hợp rối loạn glucose là 1,42. FPG và HbA1c có mức đồng thuận trung bình (κ=0,45; p<0,001). Trong 26 trường hợp có FPG ở mức tiền đái tháo đường, 20 trường hợp có HbA1c vẫn ở mức bình thường. Kết luận: Quy trình sàng lọc hai bước bằng ADA Risk Score giúp lựa chọn một nhóm có tỷ lệ rối loạn glucose máu cao để thực hiện xét nghiệm tiếp theo. FPG và HbA1c có mức đồng thuận trung bình, cho thấy hai xét nghiệm có thể nhận diện các nhóm đối tượng khác nhau. Các trường hợp có kết quả ở ngưỡng đái tháo đường cần được xác nhận theo quy trình chẩn đoán phù hợp.Bùi Thị Minh PhượngHoàng Tuấn KiệtLưu Bá DũngNguyễn Khánh Huyền
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19123GIÁ TRỊ THANG ĐIỂM BISAP TRONG DỰ ĐOÁN VIÊM TỤY CẤP NẶNG THEO ATLANTA HIỆU CHỈNH 2012 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÁI BÌNH
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19124
Mục tiêu: Đánh giá giá trị của thang điểm BISAP trong dự đoán mức độ nặng của bệnh nhân viêm tụy cấp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu được thực hiện trên 143 bệnh nhân viêm tụy cấp tại khoa Nội tiêu hóa, khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đa khoa Thái Bình năm 2025. Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là: 52,71 ± 13,62 tuổi, tỷ lệ nam giới chiếm 73,42%. Trong 143 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu có 29 bệnh nhân nặng theo phân loại Atlanta 2012, chiếm 20,3%. SIRS và tràn dịch màng phổi là hai thành phần của BISAP liên quan có ý nghĩa thống kê với viêm tụy cấp nặng theo Atlanta 2012. Ngược lại, ure > 8,9 mmol/l, Glasgow < 15 và tuổi > 60 chưa ghi nhận sự liên quan có ý nghĩa thống kê với viêm tụy cấp nặng. Điểm BISAP tăng dần rõ rệt theo mức độ nặng của viêm tụy cấp: BISAP trung vị của nhóm viêm tụy cấp nhẹ là 0 (IQR: 0 – 1), nhóm viêm tụy cấp trung bình là 1 (IQR: 0 – 1) và nhóm viêm tụy cấp nặng là 2 (IQR: 1 – 3). Sự khác biệt giữa ba nhóm là có ý nghĩa thống kê (p < 0,01). AUC của BISAP trong dự đoán viêm tụy cấp nặng là 0,894. Tại ngưỡng khuyến cáo BISAP ≥ 3, độ nhạy, độ đặc hiệu trong chẩn đoán viêm tụy cấp nặng là 76,3% và 81,6%. Kết luận: Thang điểm BISAP có giá trị cao trong dự đoán viêm tụy cấp nặng trong 24 giờ đầu sau nhập viện.Bùi Thị Lan AnhTrịnh Thị ThúyTrần Thị Như Quỳnh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19124KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BƯỚC MỘT UNG THƯ DẠ DÀY GIAI ĐOẠN IV BẰNG PHÁC ĐỒ XELOX TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19125
Mục tiêu: Đánh giá đáp ứng điều trị và độc tính của phác đồ XELOX bước một trên bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn IV tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu, theo dõi dọc trên 38 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến dạ dày giai đoạn IV. Bệnh nhân được điều trị XELOX gồm Oxaliplatin 130 mg/m² ngày 1 và Capecitabine 1000 mg/m², 2 lần/ngày từ ngày 1–14, chu kỳ 21 ngày, tối đa 8 chu kỳ. Độc tính được đánh giá theo CTCAE v5.0 và đáp ứng sau mỗi 3 chu kỳ theo RECIST 1.1. Kết quả: Tỷ lệ đáp ứng đạt 52,6%, gồm 7,9% đáp ứng hoàn toàn và 44,7% đáp ứng một phần; 15,8% bệnh giữ nguyên và 31,6% bệnh tiến triển. Sau điều trị, triệu chứng lâm sàng và chỉ số toàn trạng cải thiện có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tỷ lệ đáp ứng ở nhóm dùng liều chuẩn cao hơn nhóm dưới liều chuẩn (72,2% so với 40,0%; p < 0,05). Kết luận: Phác đồ XELOX là lựa chọn điều trị bước một hiệu quả cho bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn IV, giúp cải thiện triệu chứng, chỉ số toàn trạng. Duy trì liều chuẩn giúp nâng cao hiệu quả đáp ứng. Phác đồ có tính an toàn và dung nạp tốt trong thực hành.Trần Thị NhiNguyễn Việt LongNguyễn Thị Thu Huyền
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19125ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HUYẾT DO STAPHYLOCOCCUS AUREUS ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 TỪ THÁNG 1/2024 ĐẾN THÁNG 12/2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19126
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tính kháng kháng sinh ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết do S. aureus tại Bệnh viện Quân y 103. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 66 bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết do S. aureus từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025. Kết quả: Bệnh nhân đa số là nam giới (77,3%), trên 60 tuổi (56,1%) và có bệnh nền (tăng huyết áp, đái tháo đường). Đường vào của vi khuẩn chủ yếu qua da và niêm mạc (43,9%). Triệu chứng lâm sàng nổi bật gồm sốt (100%), viêm phổi (62,1%) và suy hô hấp (40,9%). Tỷ lệ tử vong hoặc diễn biến nặng xin về ở mức 40,9%. Tỷ lệ chủng vi khuẩn kháng Methicillin (MRSA) rất cao, chiếm 71,2%. Kết luận: Bệnh có tiên lượng nặng, tỷ lệ biến chứng và kháng thuốc cao. Viêm phổi, sốc, suy hô hấp và giảm tiểu cầu (<100G/L) là các yếu tố liên quan đến tiên lượng nặng ở nhóm bệnh nhân này.Nguyễn Minh NamNguyễn Việt PhươngBùi Quang ThuậnHoàng Thị Anh TrâmHoàng Xuân Quảng
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19126ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ CỦA CREATININ HUYẾT THANH TRONG PHÁT HIỆN TỔN THƯƠNG THẬN THEO TIÊU CHUẨN eGFR VÀ ACR Ở BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA NHẬT TÂN, TỈNH AN GIANG, NĂM 2026
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19128
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ tổn thương thận theo tiêu chí eGFR và ACR, đồng thời đánh giá giá trị chẩn đoán của creatinin huyết thanh trong phát hiện tổn thương thận ở bệnh nhân ngoại trú. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 400 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên có chỉ định xét nghiệm creatinin huyết thanh, creatinin niệu và albumin niệu tại Bệnh viện Đa khoa Nhật Tân từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2026. Tổn thương thận được xác định khi eGFR <60 mL/phút/1,73 m² và/hoặc ACR ≥30 mg/g. Giá trị chẩn đoán của creatinin huyết thanh được đánh giá thông qua độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm. Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 56,81 ± 13,28 tuổi; nữ giới chiếm 56,2%. Tỷ lệ tăng huyết áp và đái tháo đường lần lượt là 64,3% và 65,0%. Tỷ lệ eGFR <60 mL/phút/1,73 m² là 15,3%, tỷ lệ ACR ≥30 mg/g là 31,8%. Tỷ lệ tổn thương thận theo tiêu chuẩn eGFR <60 mL/phút/1,73 m² và/hoặc ACR ≥30 mg/g là 37,5%. Có 23,5% bệnh nhân có creatinin huyết thanh bình thường nhưng vẫn có tổn thương thận. Creatinin huyết thanh có độ nhạy 37,3%, độ đặc hiệu 96,8%, giá trị tiên đoán dương 87,5% và giá trị tiên đoán âm 72,0%. Kết luận: Creatinin huyết thanh có độ nhạy thấp trong phát hiện tổn thương thận và có thể bỏ sót nhiều trường hợp khi sử dụng đơn độc. Việc kết hợp đánh giá eGFR và ACR có thể giúp nâng cao khả năng phát hiện sớm tổn thương thận.Châu Thiên BìnhLê Thị Mỹ Thanh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19128GIÁ TRỊ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ TRONG ĐÁNH GIÁ ĐỨT DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC DO CHẤN THƯƠNG KHỚP GỐI TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19129
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh đứt dây chằng chéo trước (DCCT) do chấn thương khớp gối trên cộng hưởng từ (CHT) và đánh giá giá trị của CHT trong chẩn đoán đứt DCCT, đối chiếu với phẫu thuật nội soi (PTNS) khớp gối. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên 77 bệnh nhân chấn thương khớp gối được chụp CHT khớp gối trước phẫu thuật và được PTNS tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Kết quả nội soi được sử dụng làm tiêu chuẩn đối chiếu. Các đặc điểm hình ảnh trực tiếp, gián tiếp, vị trí và mức độ tổn thương DCCT trên CHT được ghi nhận. Tính giá trị chẩn đoán của CHT bằng độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính, độ chính xác và hệ số Kappa. Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 37,82 ± 13,56 tuổi; nhóm 20–40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (49,4%). Tỷ lệ nam/nữ khoảng 1,26/1. Trên CHT, dấu hiệu tăng tín hiệu DCCT trên T2W và PD fatsat gặp nhiều nhất (74,0%), tiếp theo là mất liên tục dây chằng (70,1%). Các dấu hiệu gián tiếp thường gặp gồm tràn dịch khớp (97,4%), phù tủy xương lồi cầu đùi và/hoặc mâm chày (64,9%) và DCCS chùng (59,7%). Về vị trí, type II chiếm tỷ lệ cao nhất trên CHT (33,8%), tiếp theo là type III (27,3%). Đối chiếu với nội soi, CHT có độ nhạy 98,67%, độ đặc hiệu 100%, giá trị dự báo dương tính 100%, giá trị dự báo âm tính 66,67% và độ chính xác 98,70% trong xác định tổn thương DCCT. Độ chính xác trong xác định vị trí tổn thương là 78,1%, Kappa = 0,692. Đối với phân loại mức độ tổn thương, CHT có độ chính xác 89,6%, Kappa = 0,774. Độ nhạy thấp nhất ở nhóm đứt bán phần thể nhẹ (60%), trong khi đứt hoàn toàn có độ nhạy 92,7%, độ đặc hiệu 90,9% và độ chính xác 92,2%. Kết luận: CHT 1.5 Tesla có giá trị cao trong xác định tổn thương DCCT do chấn thương, đặc biệt trong chẩn đoán có hay không có tổn thương và đánh giá đứt hoàn toàn. CHT có mức độ phù hợp tốt với PTNS trong xác định vị trí và mức độ tổn thương, tuy nhiên khả năng nhận diện đứt bán phần thể nhẹ còn hạn chế.Nguyễn Văn SangVũ Thị Minh ThuNguyễn Hồng ThanhTrần Chiến
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19129CHUẨN HOÁ QUY TRÌNH NHUỘM HÓA MÔ MIỄN DỊCH THẢ NỔI VỚI DẤU ẤN PGP 9.5 TRONG ĐỊNH LƯỢNG MẬT ĐỘ SỢI THẦN KINH TRONG BIỂU BÌ TRÊN MẪU SINH THIẾT DA
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19130
Giới thiệu: Bệnh thần kinh sợi nhỏ (Small Fiber Neuropathy – SFN) là bệnh lý thần kinh ngoại biên đặc trưng bởi tổn thương các sợi thần kinh nhỏ có bao myelin mỏng hoặc không có myelin, đó là các sợi Aδ (A-delta) và C. Các phương pháp chẩn đoán điện sinh lý thông thường như điện cơ không phát hiện được tổn thương này. Định lượng mật độ sợi thần kinh trong biểu bì (Intraepidermal Nerve Fiber Density – IENFD) thông qua sinh thiết da sử dụng phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch thả nổi với dấu ấn PGP 9.5 đã được chứng minh là phương pháp đáng tin cậy trong chẩn đoán SFN. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện chưa có quy trình chuẩn hóa cho kỹ thuật này. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng và tối ưu hóa quy trình nhuộm hóa mô miễn dịch thả nổi với dấu ấn PGP 9.5, phục vụ đánh giá mật độ sợi thần kinh nhỏ trên mẫu sinh thiết da. Phương pháp: Nghiên cứu thực hiện tại Bộ môn Mô phôi – Giải phẫu bệnh, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Hai mẫu sinh thiết da đường kính 4 mm được lấy ở cẳng chân dưới và đùi trên ngoài theo hướng dẫn của EFNS/PNS. Mẫu được cố định trong dung dịch PLP 2%, rửa PBS, thấm sucrose 30%, cắt lạnh dọc dày 50 µm, và nhuộm thả nổi với kháng thể PGP 9.5. Các sợi thần kinh xuyên qua đường nối bì – biểu bì được đếm thủ công dưới kính hiển vi quang học ×40. Mật độ sợi thần kinh được biểu thị bằng số sợi/mm chiều dài biểu bì (IENFD) và đối chiếu giá trị tham chiếu theo Umapathi et al. (2006). Kết quả: Nghiên cứu xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nhuộm gồm: thời gian cố định, nồng độ và thời gian ủ kháng thể, cũng như quy trình phát hiện kháng nguyên. Khi tối ưu các thông số này, dấu ấn PGP 9.5 cho hình ảnh nhuộm rõ nét, độ tương phản cao, thể hiện chính xác cấu trúc và mật độ sợi thần kinh nhỏ trong biểu bì và hạ bì. Kỹ thuật cho phép định lượng IENFD chính xác, hỗ trợ hiệu quả chẩn đoán và theo dõi bệnh SFN. Kết luận: Nghiên cứu đã thiết lập được một quy trình nhuộm hóa mô miễn dịch chuẩn hoá với dấu ấn PGP 9.5, góp phần chuẩn hóa kỹ thuật định lượng mật độ sợi thần kinh trong biểu bì trên mẫu sinh thiết da ở người bệnh nghi ngờ bệnh thần kinh sợi nhỏ. Quy trình này giúp nâng cao độ chính xác, tính tái lập và khả năng ứng dụng trong chẩn đoán bệnh thần kinh sợi nhỏ, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực thần kinh học và giải phẫu bệnh tại Việt Nam.Phan Đặng Anh ThưHà Kiều TrangLê Thị Yến VyĐặng Hoàng MinhĐặng Trần QuânPhan Hoàng Phương Khanh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19130RỐI LOẠN CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ TRÊN BỆNH NHÂN VẢY NẾN: MỘT NGHIÊN CỨU MÔ TẢ HÀNG LOẠT CA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19131
Đặt vấn đề:Vảy nến là tình trạng viêm da phổ biến, không chỉ ảnh hưởng khu trú bên ngoài mà còn làm suy giảm chất lượng cuộc sống về cả thể chất lẫn tinh thần. Gần đây, nhiều nghiên cứu hướng sự quan tâm đến rối loạn giấc ngủ (RLGN) ở bệnh nhân vảy nến vì tình trạng này làm tăng nguy cơ khởi phát và làm nặng lên vảy nến thông qua các cytokine tiền viêm. Do đó, nghiên cứu này nhằm khảo sát mối liên quan giữa tình trạng RLGN và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân vảy nến. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca vảy nến mảng ≥ 18 tuổi có RLGN ở Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2025 đến tháng 10/2025. Đánh giá chất lượng giấc ngủ bằng bộ câu hỏi Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index - PSQI) phiên bản tiếng Việt. Kết quả: Nghiên cứu của chúng tôi gồm 101 bệnh nhân, trong đó 63 nam (62,4%), độ tuổi trung bình 50,24 ± 15,29 tuổi. Điểm số PSQI trung bình là 8,99 ± 3,51. RLGN mức độ nhẹ chiếm 64,36%, mức độ trung bình chiếm 28,71% và mức độ nặng chiếm 6,93%. Trong đó, tiêu chuẩn “Độ trễ giấc ngủ” được điểm cao nhất (2,19 ± 0,95). Có mối tương quan thuận giữa tuổi, thời gian mắc bệnh vảy nến và các mức độ RLGN theo thang điểm PSQI (p<0,05). Kết luận: Rối loạn chất lượng giấc ngủ phổ biến ở bệnh nhân vảy nến lớn tuổi, có thời gian mắc bệnh kéo dài. Nên tiến hành thêm các nghiên cứu đoàn hệ với quy mô cỡ mẫu lớn hơn để khảo sát chính xác tác động của rối loạn chất lượng giấc ngủ theo thời gian diễn tiến bệnh vảy nến.Chung Lê Thùy VânNgô Minh VinhLương Kim Khánh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19131KẾT QUẢ XỬ TRÍ U XƠ TỬ CUNG TRONG MỔ LẤY THAI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THANH HÓA
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19132
Mục tiêu: Nhận xét kết quả xử trí u xơ tử cung trong mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa từ tháng 1/2023 đến tháng 8/2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 165 sản phụ có u xơ tử cung được xử trí trong mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa từ tháng 01/2023 đến tháng 08/2025. Đối tượng nghiên cứu bao gồm các sản phụ có thai sống từ 22 tuần tuổi trở lên được chẩn đoán u xơ tử cung trước, trong thời kỳ mang thai hoặc phát hiện khi mổ lấy thai. Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 33,47 ± 5,36 tuổi; 63,7% dưới 35 tuổi. Bóc u xơ tử cung là phương pháp xử trí được thực hiện nhiều nhất với 72 trường hợp (43,7%), tiếp theo là không can thiệp lên khối u với 54 trường hợp (32,7%) và cắt tử cung với 39 trường hợp (23,6%). Phương pháp xử trí có liên quan đến kích thước khối u (p = 0,005), số lượng khối u (p = 0,002) và vị trí u xơ tử cung (p < 0,001). Tỷ lệ cắt tử cung cao hơn ở nhóm u có kích thước >10 cm và nhóm có từ 3 u xơ trở lên. Chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa vị trí u xơ tử cung và tình trạng chảy máu trong mổ (p = 0,078). Tỷ lệ truyền máu sau mổ là 5,5%; ghi nhận 2 trường hợp chảy máu sau mổ do đờ tử cung phải phẫu thuật lại cắt tử cung. Kết luận: Bóc u xơ tử cung là phương pháp xử trí được áp dụng phổ biến nhất trong mổ lấy thai ở sản phụ có u xơ tử cung. Việc lựa chọn phương pháp xử trí có liên quan đến kích thước, số lượng và vị trí khối u. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc xử trí u xơ tử cung trong mổ lấy thai đạt kết quả khả quan khi được chỉ định phù hợp.Nguyễn Thị Tú AnhNguyễn Anh Tuấn
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19132KHẢO SÁT SỰ TRƯỞNG THÀNH ĐƯỜNG KHỚP GIỮA KHẨU CÁI TRÊN PHIM CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH (CT) Ở TRẺ EM 8 ĐẾN 15 TUỔI
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19133
Đặt vấn đề: Sự thành công của phương pháp nong hàm nhanh (RPE) phụ thuộc vào mức độ trưởng thành của đường khớp giữa khẩu cái (MPS). Nghiên cứu này nhằm khảo sát sự trưởng thành đường khớp giữa khẩu cái bằng phim CT ở trẻ 8-15 tuổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tổng cộng 100 phim CT của trẻ em từ 8 đến 15 tuổi được chọn. Sự trưởng thành của MPS được phân loại theo 5 giai đoạn (A-E), theo nhóm tuổi 8-9, 10-12, và 13-15 tuổi và theo nam và nữ. Phân tích thống kê đánh giá sự khác biệt tỉ lệ các giai đoạn giữa nam và nữ và giữa các nhóm tuổi và đánh giá tương quan giữa sự trưởng thành đường khớp và tuổi. Kết quả: Tỷ lệ đường khớp mở (giai đoạn A, B, C) là 90%, đường khớp khoáng hoá một phần hoặc hoàn toàn (D, E) là 10%. Giai đoạn B phổ biến nhất (41%), tiếp theo là C (35%) và A (14%). Giai đoạn trưởng thành MPS có mối tương quan thuận trung bình có ý nghĩa thống kê với tuổi tác (Spearman’s ρ=0,43, p<0,001). Tỷ lệ đường khớp thuộc giai đoạn A, B, C giảm dần theo tuổi và có xu hướng khoáng hoá sớm hơn ở nữ giới, nhưng sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê (p >0.05). Kết luận: Tỷ lệ cao đường khớp mở ở nhóm tuổi 8-15 tạo điều kiện thuận lợi cho nong hàm truyền thống ở nhóm tuổi này ở người Việt.Lê Huy Thục MỹNguyễn Lý Xuân Quỳnh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19133ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA NGƯỜI BỆNH MẮC BỆNH GAN LIÊN QUAN ĐẾN RƯỢU TẠI KHOA NỘI TIÊU HÓA, BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19136
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh mắc bệnh gan liên quan đến rượu điều trị tại Khoa Nội tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 187 người bệnh mắc bệnh gan liên quan đến rượu điều trị tại Khoa Nội tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông từ tháng 01/2025 đến tháng 01/2026. Các thông tin về đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng sử dụng rượu, triệu chứng lâm sàng, huyết học, đông máu và sinh hóa máu được thu thập và phân tích bằng phần mềm SPSS. Kết quả: Tuổi trung bình của người bệnh là 53,75 ± 9,02 tuổi; nhóm 40–59 tuổi chiếm 69,5% và nam giới chiếm 99,5%. Tuổi bắt đầu uống rượu trung bình là 24,69 ± 4,72 tuổi, thời gian uống rượu trung bình 28,47 ± 7,88 năm và lượng ethanol tiêu thụ trung bình 226,82 ± 98,60 g/ngày. Các triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là mệt mỏi (68,4%), chán ăn (51,9%) và buồn nôn hoặc nôn (43,9%). Dấu hiệu thực thể nổi bật gồm da, niêm mạc nhợt, vàng da, vàng mắt và cổ trướng. 44,4% người bệnh có thiếu máu và tỷ lệ giảm tiểu cầu là 33,7% người bệnh; 35,8% có hồng cầu to và 31,0% có INR > 1,2. Tỷ lệ tăng AST là 88,8%, tăng ALT 43,9%, tăng GGT 90,5% và tỷ lệ AST/ALT >2 là 74,9%. Tăng bilirubin toàn phần gặp ở 76,3% và giảm albumin gặp ở 22,3% người bệnh. Kết luận: Người bệnh mắc bệnh ganrượu điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông chủ yếu là nam giới trung niên, có thời gian sử dụng rượu kéo dài và lượng ethanol tiêu thụ cao. Các bất thường nổi bật gồm thiếu máu, giảm tiểu cầu, tăng INR, tăng AST và GGT, tăng bilirubin và giảm albumin, cho thấy nhiều người bệnh nhập viện khi tổn thương gan đã tiến triển. Việc đánh giá cần kết hợp toàn diện biểu hiện lâm sàng, huyết học, đông máu và chức năng gan rất cần thiết để đánh giá mức độ bệnh và phân tầng nguy cơ và định hướng điều trị.Trần Thị LiênNguyễn Thị Bạch TuyếtPhạm Văn Huy
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19136SỬ DỤNG MÁY QUÉT TRONG MIỆNG ĐÁNH GIÁ THAY ĐỔI KHỚP CẮN TRƯỚC VÀ SAU ĐIỀU TRỊ ĐAU CƠ RỐI LOẠN THÁI DƯƠNG HÀM
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19137
Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi về mức độ đau và đặc điểm khớp cắn ở người bệnh đau cơ trong rối loạn thái dương hàm (RLTDH) trước và sau điều trị bằng máng ổn định sử dụng máy quét trong miệng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc trên 24 trường hợp đau cơ RLTDH được chẩn đoán theo Phân loại quốc tế về đau miệng mặt năm 2020, có chỉ định điều trị bằng máng ổn định. Đối tượng nghiên cứu được đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS và đặc điểm khớp cắn bằng máy quét trong miệng trước và sau điều trị. Kết quả: Mức độ đau trung bình theo thang điểm VAS giảm rõ rệt từ 5,79 ± 1,74 xuống còn 1,67 ± 1,31 (p=0,000). Số lượng răng chạm khớp trung bình tại vị trí LMTĐ giảm từ 15,83 ± 4,68 xuống 12,33 ± 3,73 (p=0,005). Số lượng răng chạm khớp giảm có ý nghĩa ở bên không đau (p=0,009) và ở nhóm răng hàm nhỏ (p=0,010); tỷ lệ cản trở khớp cắn sang bên có xu hướng giảm từ 70,83% xuống 58,33% nhưng chưa có ý nghĩa thống kê (p=0,083); kiểu hướng dẫn răng (87,5% hướng dẫn nhóm, 12,5% hướng dẫn răng nanh) không thay đổi sau điều trị (p=1,000). Kết luận: Điều trị đau cơ RLTDH bằng máng ổn định làm giảm rõ rệt mức độ đau lâm sàng và giảm tổng số lượng răng chạm khớp ở vị trí lồng múi tối đa (LMTĐ). Kiểu hướng dẫn răng không thay đổi sau điều trị. Máy quét trong miệng là công cụ hỗ trợ định lượng khớp cắn khách quan và hiệu quả.Bùi Thị Thúy HồngNguyễn Thị Thu HươngKhiếu Thanh TùngTrần Thanh AnTống Minh Sơn
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19137ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG, GIẢI PHẪU BỆNH VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TÚI MẬT DO POLYP TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC GIAI ĐOẠN 2021-2024
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19139
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm cận lâm sàng, giải phẫu bệnh và kết quả phẫu thuật nội soi cắt túi mật trên các bệnh nhân polyp túi mật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu, 103 bệnh nhân được chẩn đoán polyp túi mật và được phẫu thuật nội soi cắt túi mật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 01/2021 đến tháng 12/2024. Kết quả: Đa polyp chiếm 76,7%. Tỉ lệ polyp kích thước ≥10mm là 35,0%. Polyp cholesterol chiếm 83,5%. Tỷ lệ ung thư biểu mô tuyến là 1,9%, tất cả đều ở nhóm polyp ≥ 10mm. Thời gian phẫu thuật trung bình là 58,09 ± 19,1 phút. Thời gian nằm viện trung bình là 3,7 ± 1,1 ngày. Hội chứng sau cắt túi mật giảm đáng kể từ 34% (1 tháng) xuống 9,9% (6 tháng). Chất lượng cuộc sống sau mổ tốt hơn trước mổ. Kết luận: Polyp đơn độc và có kích thước ≥ 10mm có nguy cơ ác tính cao hơn. Phẫu thuật nội soi cắt túi mật là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả, giúp cải thiện rõ rệt chất lượng cuộc sống của người bệnh có polyp túi mật.Dương Xuân TùngNguyễn Thị LanTrần Bảo Long
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19139CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG ĐIỀU TRỊ NỘI SOI MỞ THÔNG SÀN NÃO THẤT III BỂ ĐÁY KẾT HỢP ĐÓT ĐÁM RỐI MẠCH MẠC
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19140
Mục tiêu: Xác định các yếu tố lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh tiên lượng kết quả phẫu thuật nội soi mở thông sàn não thất III kết hợp đốt đám rối mạch mạc (ETV/CPC) ở trẻ sơ sinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 30 trẻ sơ sinh (≤ 28 ngày tuổi) tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 2020-20241. Kết quả: Tỷ lệ thành công tránh dẫn lưu não thất ổ bụng sau 6 tháng là 63,3%. Cân nặng trung bình ở nhóm thành công (3020,89±900,32g) cao hơn rõ rệt nhóm thất bại (2018,18±745,41 g) với p=0,0035. Trẻ đủ tháng có tỷ lệ thành công (77,8%) cao hơn trẻ sinh non (41,7%) với p=0,0446. Kết luận: Cân nặng thấp và tuổi thai non tháng là hai yếu tố tiên lượng quan trọng nhất báo hiệu nguy cơ thất bại của phẫu thuật ETV/CPC ở trẻ sơ sinh.Trần Trung KiênNguyễn Thị DuyênPhạm Hồng HuyênNguyễn Thị DuyênNguyễn Thị Hiền
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19140TÌNH TRẠNG LỆCH MŨI Ở BỆNH NHÂN CẦN PHẪU THUẬT CHỈNH HÌNH XƯƠNG HÀM
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19141
Mục đích: Việc đánh giá tình trạng lệch mũi ở bệnh nhân cần phẫu thuật chỉnh hình xương hàm có vai trò quan trọng trong xây dựng kế hoạch điều trị toàn diện. Nghiên cứu này nhằm mô tả mức độ lệch mũi, lệch vách ngăn ở bệnh nhân cần phẫu thuật chỉnh hình xương hàm, đồng thời khảo sát mối liên quan của chúng với bất cân xứng hàm trên, hàm dưới và cằm. Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả trên 110 bệnh nhân được điều trị phẫu thuật chỉnh hình hàm mặt dựa vào hình ảnh 3D tạo lập từ dữ liệu CBCT trước phẫu thuật. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm dị tật sọ mặt bẩm sinh, tiền sử tăng sản lồi cầu xương hàm dưới hoặc đã từng phẫu thuật tạo hình mũi - vách ngăn. Kết quả: Trong 110 bệnh nhân, 91,8% trường hợp có mức độ lệch mũi nhất định và tất cả bệnh nhân đều có lệch vách ngăn. Độ lệch vách ngăn mũi tương quan có ý nghĩa với độ lệch đầu mũi (r = 0,41; p < 0,001) và độ lệch sống mũi (r = 0,39; p < 0,001). Sự kết hợp giữa lệch mũi với lệch hàm trên, hàm dưới và cằm lần lượt hiện diện ở 77,3%, 83,5% và 88,3% bệnh nhân. Các tương quan có ý nghĩa được ghi nhận giữa hướng lệch mũi và hướng lệch của hàm trên (r = 0,21; p = 0,032), hàm dưới (r = 0,25; p = 0,012) và cằm (r = 0,19; p = 0,050). Kết luận: Nghiên cứu này cho thấy lệch mũi và lệch vách ngăn có tỷ lệ rất cao ở bệnh nhân cần phẫu thuật chỉnh hình xương hàm; do đó, đánh giá và chẩn đoán các lệch mũi và cách ngăn là thiết yếu để lập chẩn đoán và kế hoạch phẫu thuật toàn diện hơn.Lê Tấn HùngTrần Ái KhiêmNguyễn Mỹ HuyềnNguyễn Hoàng Khang
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19141TỶ LỆ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIÊM TEO NIÊM MẠC DẠ DÀY THEO NỘI SOI Ở BỆNH NHÂN CÓ TRIỆU CHỨNG TIÊU HÓA TRÊN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC PHENIKAA
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19142
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ viêm teo niêm mạc dạ dày theo nội soi và phân tích một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân có triệu chứng tiêu hóa trên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang bệnh nhân có triệu chứng tiêu hóa trên đến khám và được nội soi dạ dày tại Bệnh viện Đại học Phenikaa trong thời gian từ 01/2025 đến tháng 01/2026. Kết quả: Trong 357 bệnh nhân có triệu chứng tiêu hóa trên được nội soi, có 73 trường hợp viêm teo niêm mạc dạ dày, chiếm 20,4%. Tuổi trung bình của nhóm viêm teo là 57,58 ± 12,24 tuổi. Tỷ lệ viêm teo niêm mạc dạ dày tăng có ý nghĩa theo tuổi với p < 0,001. Tỷ lệ nhiễm H. pylori ở nhóm viêm teo là 57,5%, cao hơn nhóm không viêm teo là 40,5% (p = 0,009). Tỷ lệ viêm teo ở người từ 60 tuổi trở lên là 40,2%, cao hơn rõ rệt so với 13,9% ở nhóm dưới 60 tuổi (p < 0,001). Dị sản ruột gặp ở 23,3% bệnh nhân viêm teo và 0,7% bệnh nhân không viêm teo (p < 0,001). Phân tích đơn biến cho thấy nhiễm H. pylori, tuổi ≥60 và dị sản ruột có liên quan có ý nghĩa thống kê với viêm teo niêm mạc dạ dày, với OR lần lượt là 1,991; 4,529 và 42,804. Kết luận: Viêm teo niêm mạc dạ dày theo nội soi gặp ở khoảng một phần năm bệnh nhân có triệu chứng tiêu hóa trên. Tuổi từ 60 trở lên, nhiễm H. pylori và dị sản ruột là những yếu tố có liên quan đáng kể với tình trạng viêm teo, trong đó dị sản ruột có mức độ liên quan mạnh nhất. Kết quả cho thấy cần chú ý đánh giá viêm teo ở người cao tuổi, xác định và tiệt trừ H. pylori khi có chỉ định, đồng thời phát hiện các tổn thương tiền ung thư như dị sản ruột trong quá trình nội soi và theo dõi người bệnh.Phạm Văn HuyNguyễn Thị Bạch TuyếtTrần Thị Liên
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19142ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI TÁI TẠO DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC KHỚP GỐI BẰNG KỸ THUẬT TẤT CẢ BÊN TRONG VỚI GÂN CƠ CHÂN NGỖNG TỰ THÂN TẠI BỆNH VIỆN VINMEC NHA TRANG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19143
Đặt vấn đề: Tổn thương dây chằng chéo trước là nguyên nhân thường gặp gây mất vững khớp gối và suy giảm chức năng vận động. Phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước bằng kỹ thuật tất cả bên trong với mảnh ghép gân cơ chân ngỗng tự thân được áp dụng ngày càng rộng rãi trong điều trị. Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước bằng kỹ thuật tất cả bên trong với mảnh ghép gân cơ chân ngỗng tự thân tại Bệnh viện Vinmec Nha Trang. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 30 bệnh nhân đứt dây chằng chéo trước được phẫu thuật nội soi tái tạo bằng kỹ thuật tất cả bên trong tại Bệnh viện Vinmec Nha Trang từ tháng 9/2024 đến tháng 4/2026. Kết quả được đánh giá dựa trên đặc điểm lâm sàng, đặc điểm mảnh ghép và điểm Lysholm trước, sau phẫu thuật. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 34,76 ± 5,24 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 1,31:1. Tai nạn thể thao là nguyên nhân chấn thương chủ yếu (66,67%). Đường kính mảnh ghép trung bình là 8,98 ± 0,15mm. Chiều dài mảnh ghép trung bình là 59,57 ± 1,17mm. Điểm Lysholm sau phẫu thuật đạt 96 ± 0,15 điểm, cải thiện có ý nghĩa thống kê so với trước phẫu thuật (p < 0,001). Tỷ lệ kết quả chức năng rất tốt và tốt đạt 100%, không ghi nhận trường hợp kết quả kém. Kết luận: Phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước bằng kỹ thuật tất cả bên trong với mảnh ghép gân cơ chân ngỗng tự thân là phương pháp an toàn, giúp phục hồi tốt chức năng khớp gối.Hoàng Xuân HùngHồ Ngọc MinhVũ Tú NamTrần Trung DũngNguyễn Công HoàngNguyễn Thị Như Quỳnh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19143TỶ LỆ CHẢY MÁU TÁI PHÁT DO VỠ TĨNH MẠCH THỰC QUẢN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN XƠ GAN ĐIỀU TRỊ BẰNG PROPRANOLOL KẾT HỢP THẮT VÒNG CAO SU TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TUYÊN QUANG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19145
Mục tiêu: Tỷ lệ tái phát chảy máu và phân tích một số yếu tố liên quan đến tái phát chảy máu ở bệnh nhân xơ gan điều trị bằng Propranolol kết hợp thắt vòng cao su tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang năm 2025-2026. Đối tượng: Có 86 bệnh nhân xơ gan bị giãn vỡ tĩnh mạch thực quản được điều trị bằng Propranolol kết hợp thắt vòng cao su tại Khoa Nội, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả: Tỷ lệ tái phát 26,7% (trong đó có 10,4% tử vong). Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ tái phát chảy máu trong nghiên cứu này bao gồm: Tất cả các bệnh nhân có nguyên nhân xơ gan do rượu (OR=0,2; 95%CI: 0,04-0,92). Bệnh nhân có giãn tĩnh mạch thực quản độ III (OR=7,8; 95%CI:1,09-55,57), giãn toàn bộ tĩnh mạch thực quản (OR=8,8; 95%CI:0,62-17,34), bệnh nhân sau khi điều trị về nhà vẫn tiếp tục uống rượu (OR=5,4; 95%CI: 1,04-28,39), uống thuốc Propranolol không đều hoặc không uống thuốc (OR=0,1; 95%CI: 0,01-0,5). Kết luận: Tỷ lệ tái phát chảy máu trong 6 tháng là 26,7%. Những bệnh nhân bị xơ gan nguyên nhân do rượu, bệnh nhân có tĩnh mạch thực quản giãn độ III, bệnh nhân giãn toàn bộ tĩnh mạch thực quản, bệnh nhân sau khi điều trị về vẫn tiếp tục uống rượu và bệnh nhân uống thuốc Propranolol không đều hoặc không uống thuốc là yếu tố nguy cơ gây tái phát chảy máu.Chu Văn TuânDương Hồng Thái
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19145NGHIÊN CỨU SO SÁNH CUNG RĂNG CẢI TIẾN HỖN HỢP SMART LOCK VỚI VÍT NEO CỐ ĐỊNH VÀO XƯƠNG TRONG CỐ ĐỊNH LIÊN HÀM Ở BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG HÀM MẶT TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19147
Đặt vấn đề: Cố định liên hàm là bước quan trọng trong điều trị chấn thương hàm mặt có rối loạn khớp cắn. Cung Erich/Tiguerstedt ổn định nhưng đặt lâu, khó vệ sinh và có nguy cơ gây tổn thương cho phẫu thuật viên. Vít neo cố định vào xương (IMF) thao tác nhanh hơn nhưng có thể gặp lỏng vít, tăng sinh mô mềm hoặc chạm chân răng. Cung răng cải tiến Smart Lock được kỳ vọng khắc phục một phần các hạn chế này. Mục tiêu: So sánh kết quả cố định liên hàm bằng cung răng cải tiến Smart Lock và vít IMF trong điều trị chấn thương hàm mặt tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu có so sánh trên 20 bệnh nhân có chỉ định cố định liên hàm, gồm 10 bệnh nhân dùng Smart Lock và 10 bệnh nhân dùng vít IMF. Các chỉ tiêu gồm đặc điểm chung, nguyên nhân, vị trí gãy, thời gian đặt khí cụ, số vít, chạm chân răng, đau sau mổ, khớp cắn và biến chứng. Kết quả: Tuổi trung bình là 26,7 ± 10,6; nam giới chiếm 75,0%. Tai nạn giao thông chiếm 80,0%. Gãy xương hàm dưới đơn thuần chiếm 55,0%. Thời gian đặt khí cụ ở nhóm Smart Lock là 24,5 ± 10,2 phút, dài hơn nhóm vít IMF 11,8 ± 5,5 phút. Nhóm Smart Lock dùng nhiều vít hơn, chạm chân răng 20,0% so với 10,0%. Khớp cắn tốt đạt 10/10 ở nhóm Smart Lock và 9/10 ở nhóm vít IMF. Kết luận: Cả hai phương pháp đều hiệu quả. Vít IMF nhanh và đơn giản; Smart Lock đặt lâu hơn nhưng cố định vững, phù hợp với các trường hợp phức tạp hoặc cần duy trì ổn định sau phẫu thuật.Vũ Đức NhãNguyễn Thanh HảiNguyễn Bá NgọcĐặng Triệu HùngNguyễn Hồng HàPhạm Thị Huyền TrangHoàng Kim Loan
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19147KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU XẠ TRỊ LẬP THỂ ĐỊNH VỊ THÂN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN SỚM TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19148
Mục tiêu: Đánh giá kết quả đáp ứng điều trị và tác dụng phụ sớm của xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn sớm. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 40 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn I-IIA (T1 - 2N0M0) được điều trị bằng SBRT từ tháng 01/2018 đến tháng 02/2026. Đánh giá đáp ứng điều trị theo RECIST 1.1, biến đổi hình ảnh trên cắt lớp vi tính ngực được đánh giá tại thời điểm 3 và 6 tháng, đánh giá tác dụng phụ theo CTCAE phiên bản 5.0. Kết quả: Tuổi trung bình là 71,5 ± 10,2, nam giới chiếm 70,0%, ung thư biểu mô tuyến chiếm 95,0%. Tỷ lệ giai đoạn IA, IB và IIA là 77,5%, 15,0% và 7,5%. Các khối u có đường kính trục dài trung bình là 2,57 ± 0,9 (1,2 - 4,8) cm. Liều sinh học tương đương trung bình được chỉ định 109,19 ± 14,47 Gy. Tỷ lệ đáp ứng khách quan tại thời điểm 3 và 6 tháng là 52,5% và 87,5%. Các biến đổi trên cắt lớp vi tính ngực sau điều trị tại thời điểm 3 và 6 tháng gồm đông đặc khu trú (70,0% và 60,0%), đông đặc lan tỏa (7,5% và 7,5%), kính mờ khu trú (12,5% và 10,0%), kính mờ lan tỏa (5,0% và 2,5%), dạng hỗn hợp (5,0% và 20,0%). Tác dụng phụ độ 1-2 chiếm 47,5% gồm viêm phổi 35,0% và mệt mỏi 12,5%. Không có tác dụng phụ từ độ 3 trở lên. Kết luận: SBRT là phương pháp điều trị có đáp ứng sớm trên hình ảnh khả quan, tác dụng phụ ở mức chấp nhận được ở bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn sớm không đủ điều kiện phẫu thuật.Giáp Văn VũLưu Thị HuyềnBùi Quang BiểuNguyễn Anh TuấnHoàng Đào ChinhNguyễn Xuân KiênTô Quang DuyVi Trần DoanhNguyễn Đình Châu
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19148KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU HÓA XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI TIỀN PHẪU BỆNH NHÂN UNG THƯ THỰC QUẢN 1/3 GIỮA - DƯỚI GIAI ĐOẠN II-III TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19149
Mục tiêu: Đánh giá đáp ứng điều trị và các độc tính cấp sau hóa xạ trị tiền phẫu ở bệnh nhân ung thư thực quản 1/3 giữa - dưới có khả năng phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 66 người bệnh điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 02/2022 đến tháng 03/2026. Người bệnh được xạ trị điều biến liều 41,4 Gy/23 phân liều kết hợp paclitaxel–carboplatin hàng tuần. Đáp ứng được đánh giá sau hóa xạ trị 4–6 tuần; đáp ứng mô bệnh học sau phẫu thuật được phân loại theo Mandard và độc tính cấp theo CTCAE 5.0. Kết quả: Tuổi trung bình là 58,7 ± 7,4 tuổi; 100% là nam giới. Tỷ lệ sút cân ≥ 5% chiếm 34,8%. U đoạn 1/3 giữa và dưới chiếm 69,7% và 30,3%. Tỷ lệ giai đoạn II và III lần lượt là 13,6% và 86,4%. Có 75,8% bệnh nhân hoàn thành đủ 5 chu kỳ hóa chất. Trong 66 người bệnh điều trị, 54 trường hợp (81,8%) được phẫu thuật, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn mô bệnh học pCR được ghi nhận ở 20/54 người bệnh phẫu thuật (37,0%) và diện cắt R0 đạt 53/54 trường hợp 98,1%. Tác dụng phụ của hóa – xạ độ 3-4 gồm giảm bạch cầu (22,7%); giảm bạch cầu trung tính (9,1%) và tăng men gan (1,5%). Kết luận: Hóa xạ trị đồng thời tiền phẫu cho kết quả đáp ứng mô bệnh học khả quan, với độc tính sớm chấp nhận được ở bệnh nhân ung thư thực quản có khả năng phẫu thuật.Lưu Thị HuyềnGiáp Văn VũVi Trần DoanhBùi Quang BiểuNguyễn Đình Châu
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19149CHIẾN LƯỢC HYBRID NHIỀU GIAI ĐOẠN CHO PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC-BỤNG DỌA VỠ KÈM HỞ VAN HAI LÁ NẶNG VÀ BẤT THƯỜNG XUẤT PHÁT ĐỘNG MẠCH DƯỚI ĐÒN PHẢI Ở BỆNH NHÂN MARFAN CÓ LÓC ĐỘNG MẠCH CHỦ NON-A NON-B: BÁO CÁO CA BỆNH
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19150
Điều trị bệnh lý động mạch chủ phức tạp ở bệnh nhân mắc hội chứng Marfan đặc biệt thách thức khi phối hợp với bệnh van tim và các bất thường giải phẫu của các nhánh quai động mạch chủ. Chúng tôi trình bày trường hợp một bệnh nhân nữ 28 tuổi mắc hội chứng Marfan, bị hở van hai lá nặng, lóc động mạch chủ non A non B kéo dài từ quai đến ngã ba chủ chậu, phình lớn quai và động mạch chủ ngực xuống với đường kính 78 mm có nguy cơ vỡ, cùng với bất thường xuất phát của động mạch dưới đòn phải. Chiến lược hybrid toàn diện, gồm nhiều giai đoạn, đã được áp dụng để xử lý đồng thời tất cả các tổn thương. Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân được sửa van hai lá bằng vòng van và thực hiện phẫu thuật FET cải tiến. Ngày hôm sau, động mạch chủ bụng dưới thận và động mạch chậu chung hai bên được thay bằng mạch nhân tạo chữ Y, đồng thời thực hiện debranching toàn bộ các động mạch tạng, bao gồm động mạch thân tạng, động mạch mạc treo tràng trên và hai động mạch thận. Cuối cùng, toàn bộ đoạn động mạch chủ ngực-bụng bệnh lý được loại trừ bằng chuỗi stent-graft. Mặc dù bệnh nhân phải trải qua nhiều cuộc đại phẫu, quá trình hồi phục sau mổ diễn biến phức tạp, bệnh nhân đã được xuất viện sau 37 ngày. Siêu âm tim trước khi xuất viện cho thấy không còn hở van hai lá tồn lưu và phân suất tống máu thất trái được bảo tồn. Chụp cắt lớp vi tính theo dõi xác nhận toàn bộ động mạch chủ đã được thay thế bằng mạch nhân tạo và stent graft, không có rò nội mạch. Các nhánh động mạch xuất phát từ quai và các động mạch tạng đã được debranching và tưới máu tốt. Trường hợp này cho thấy chiến lược hybrid nhiều giai đoạn, được lên kế hoạch cho toàn bộ động mạch chủ, có thể là lựa chọn khả thi cho các ca bệnh van tim-động mạch chủ phức tạp ở bệnh nhân Marfan được chọn lọc.Phùng Duy Hồng SơnVũ Xuân HiệpNguyễn Tùng SơnDương Ngọc ThắngHoàng Trọng HảiNguyễn Quang Đức
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19150KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ LỒNG RUỘT CẤP Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19151
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi hỗ trợ điều trị lồng ruột cấp ở trẻ em và phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, theo dõi dọc. Hồi cứu kết hợp tiến cứu, có phân tích trên 33 bệnh nhi được chẩn đoán lồng ruột cấp và điều trị bằng phẫu thuật nội soi hỗ trợ tại Khoa Ngoại Nhi, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2026. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là: 22,76 ± 16,74 tháng. Nam giới chiếm 69,7%, bệnh nhi ≤24 tháng chiếm 69,7%. Đau bụng cơn là triệu chứng thường gặp nhất; tháo lồng bằng hơi thất bại là chỉ định phẫu thuật chủ yếu. Có 26/33 (78,8%) trường hợp đoạn ruột lồng hồng hoặc xung huyết và 3/33 (9,1%) trường hợp phải cắt đoạn ruột. Cắt đoạn ruột có liên quan có ý nghĩa thống kê với thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đến phẫu thuật (p=0,010), đường kính khối lồng (p<0,001) và chiều dài khối lồng (p=0,022). Nhóm cắt đoạn ruột có thời gian trung tiện và ăn lại ≥4 ngày cao hơn nhóm bảo tồn ruột (p<0,001). Nhiễm trùng vết mổ gặp nhiều hơn ở nhóm cắt đoạn ruột (66,7% so với 3,3%; p=0,017). Kết luận: Phẫu thuật nội soi hỗ trợ là phương pháp an toàn, có hiệu quả trong điều trị lồng ruột cấp ở trẻ em, cho phép đánh giá trực tiếp tình trạng đoạn ruột, có tỷ lệ bảo tồn đoạn ruột cao, tỷ lệ biến chứng thấp, thời gian hồi phục nhanh và kết quả điều trị tốt.Châu Văn ViệtLa Huy HàVũ Thị Hồng Anh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19151ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG Ở NGƯỜI BỆNH CÓ TRIỆU CHỨNG NGHI NGỜ TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19152
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ và phân tích một số yếu tố liên quan đến ung thư đại trực tràng (UTĐTT) ở người bệnh có triệu chứng nghi ngờ bệnh lý đại trực tràng tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1.126 người bệnh có triệu chứng nghi ngờ bệnh lý đại trực tràng đến khám và điều trị tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 01/2024 đến tháng 05/2026. Các yếu tố liên quan đến UTĐTT được phân tích bằng hồi quy logistic đa biến. Kết quả: Trong 1.126 người bệnh, 511 trường hợp (45,4%) được chẩn đoán xác định UTĐTT bằng mô bệnh học. Tỷ lệ UTĐTT cao hơn ở nhóm ≥ 60 tuổi, sống tại khu vực nông thôn, lao động chân tay và có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông (p < 0,05). Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy BMI ≥ 23 kg/m², tiêu thụ thịt đỏ ≥100 g/ngày, hút thuốc lá và tiền sử gia đình liên quan đến ung thư là các yếu tố liên quan độc lập với UTĐTT (p < 0,05). Không ghi nhận mối liên quan độc lập với sử dụng rượu bia và tiền sử bệnh lý đại trực tràng. Kết luận: Một số đặc điểm dịch tễ và yếu tố lối sống có liên quan đến UTĐTT ở người bệnh có triệu chứng nghi ngờ bệnh lý đại trực tràng. BMI ≥ 23 kg/m², tiêu thụ thịt đỏ ≥ 100 g/ngày, hút thuốc lá và tiền sử gia đình liên quan đến ung thư là các yếu tố liên quan độc lập với UTĐTT. Kết quả góp phần nhận diện nhóm có nguy cơ và định hướng các biện pháp dự phòng, phát hiện sớm UTĐTT.Dương Đình PhùngPhan Đình ViệtNguyễn Thị NgọcNguyễn Thị ThủyNguyễn Thị Thuỳ LinhHoàng Đình CảnhNguyễn Thị Trang
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19152KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ BUỒNG TRỨNG GIAI ĐOẠN III-IV TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2019-2024
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19153
Mục tiêu: Mô tả kết quả sống thêm và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn III-IV tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên giai đoạn 2019-2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả, hồi cứu trên 47 bệnh nhân điều trị tại Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên trong thời gian từ 01/01/2019 đến 31/12/2024. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 57,68 ± 8,8, nhóm tuổi thường gặp nhất là 50-60 tuổi. Giai đoạn III, IV chiếm lần lượt 74,5% và 25,5%. Ung thư biểu mô thể thanh dịch chiếm tỉ lệ cao nhất với 83,0%. Trung vị sống thêm toàn bộ đạt 44,0 tháng (khoảng tin cậy 95%: 25,5 - 62,4), sống thêm không tiến triển đạt 16,0 tháng (khoảng tin cậy 95%: 13,1 - 19,0). Thể mô bệnh học (p = 0,002) và phương pháp điều trị ban đầu (p = 0,001) có liên quan có ý nghĩa thống kê với sống thêm không tiến triển. Giai đoạn III có trung vị sống thêm không tiến triển cao hơn giai đoạn IV (16,3 so với 13,1 tháng) và sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,239). Kết luận: Thời gian sống thêm ở các bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn III-IV còn hạn chế. Các yếu tố: thể mô bệnh học và phương pháp điều trị ban đầu có liên quan có ý nghĩa với sống thêm không tiến triển (p < 0,05).Trần Thị Kim PhượngPhạm Thị HảiLê Phong ThuNguyễn Thị Chi
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19153ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH HỌC VÀ ỨNG DỤNG HUỲNH QUANG TRONG MỔ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT TÚI PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO TUẦN HOÀN TRƯỚC VỠ TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19154
Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm hình ảnh học trước phẫu thuật và kết quả ứng dụng huỳnh quang trong mổ (ICG) kết hợp vi phẫu thuật điều trị túi phình động mạch não tuần hoàn trước vỡ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu cắt ngang trên 51 bệnh nhân được chẩn đoán xác định vỡ túi phình động mạch não tuần hoàn trước và được can thiệp phẫu thuật tại Khoa Phẫu thuật Thần kinh, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Kết quả: Đặc điểm bệnh nhân: Nhóm tuổi từ 40–59 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (51,0%)5. Tỷ lệ nữ (54,9%) cao hơn nam (45,1%). Đặc điểm túi phình: Đa số bệnh nhân chỉ có một túi phình (76,5%)78. Đường kính cổ túi phình trung bình là 3,7 ± 1,1 mm (với 60,8% < 4mm)78. Kích thước túi phình trung bình là 6,5 ± 3,7 mm, trong đó túi phình nhỏ (< 7mm) chiếm đa số (64,7%) và hình dạng hình túi chiếm ưu thế (84,3%). Ứng dụng huỳnh quang ICG trong mổ được áp dụng ở 20/51 bệnh nhân (39,2%). Đánh giá ICG ngay sau lần đặt clip đầu tiên cho thấy chỉ 40,0% trường hợp đạt tối ưu ngay từ đầu; phát hiện còn cổ hoặc tồn lưu túi phình ở 60,0%, hẹp động mạch mang ở 10,0% và tắc nhánh xuyên ở 5,0%69. Kết quả sau mổ 1 tháng, chụp MSCT kiểm tra mạch não ở 45 bệnh nhân ghi nhận tỷ lệ hẹp động mạch mang ở nhóm có sử dụng ICG là 10,0% (2/20), có xu hướng thấp hơn so với nhóm không sử dụng ICG là 13,3% (4/31). Kết luận: Vi phẫu thuật kết hợp đánh giá huỳnh quang ICG trong mổ là phương pháp an toàn và hiệu quả, đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ phẫu thuật viên ra quyết định kẹp clip tối ưu ngay trong mổ, giúp bảo tồn động mạch mang và các nhánh xuyên.Trần Trung KiênNgô Anh QuânĐoàn Tuấn AnhPhạm Hồng HuyênNguyễn Thị Duyên
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19154KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT GÃY PHỨC HỢP MŨI - SÀNG - Ổ MẮT TẠI KHOA PHẪU THUẬT HÀM MẶT - TẠO HÌNH - THẨM MỸ, BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19155
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính, phương pháp phẫu thuật và kết quả điều trị gãy phức hợp mũi - sàng - ổ mắt (naso-orbito-ethmoid, NOE) tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 30 bệnh nhân gãy NOE được điều trị phẫu thuật. Các biến số gồm đặc điểm người bệnh, nguyên nhân chấn thương, triệu chứng lâm sàng, tổn thương trên cắt lớp vi tính, phân loại Markowitz, phương pháp phẫu thuật, biến chứng và kết quả sau mổ. Kết quả: Tuổi trung bình là 32,1 ± 11,6; nam giới chiếm 76,7%. Tai nạn giao thông là nguyên nhân chủ yếu (83,3%). Triệu chứng thường gặp gồm phù nề bầm tím quanh ổ mắt (90,0%), biến dạng tháp mũi (76,7%), chảy máu mũi (63,3%) và giãn khoảng cách hai góc mắt trong (36,7%). Theo Markowitz, loại I chiếm 43,3%, loại II 40,0% và loại III 16,7%. Nắn chỉnh mở và kết hợp xương bằng nẹp vít titanium được thực hiện ở 93,3%; cố định góc mắt trong ở 23,3%. Kết quả tốt và khá chiếm 86,7%. Biến chứng thường gặp nhất là chảy nước mắt sống kéo dài (10,0%). Kết luận: Gãy NOE thường gặp ở nam giới trẻ tuổi, chủ yếu do tai nạn giao thông. Cắt lớp vi tính đa dãy có vai trò quan trọng trong chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị. Nắn chỉnh giải phẫu, kết hợp xương vững chắc và phục hồi dây chằng góc mắt trong khi cần thiết giúp đạt kết quả chức năng và thẩm mỹ khả quan.Nguyễn Bá NgọcĐặng Triệu HùngNguyễn Hồng HàHoàng Kim LoanNguyễn Thanh HảiVũ Đức Nhã
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19155KẾT QUẢ PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG BÁN PHẦN ĐIỀU TRỊ GÃY LIÊN MẤU CHUYỂN XƯƠNG ĐÙI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TIỀN GIANG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19156
Mục tiêu:Đánh giá kết quả thay khớp háng bán phần điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả hàng loạt ca trên 21 bệnh nhân gãy liên mấu chuyển xương đùi, được phẫu thuật thay khớp háng tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang từ tháng 01/2024 đến tháng 3/2026 với thời gian theo dõi trung bình là 9,14 ± 2,98 (3 -12 tháng). Kết quả: Tuổi trung bình 72,0 5± 5,34 (63 – 85 tuổi); Phân loại A2 chiếm 76,2% (theo AO/OTA); Khớp háng bán phần chuôi dài không xi măng được sử dụng ở 71,4% trường hợp; Có 71,4% phục hồi chức năng loại tốt và rất tốt với điểm Harris trung bình là 82,10 ± 5,23 điểm; Có 01 trường hợp (4,7%) bị huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới. Kết luận: Phẫu thuật thay khớp háng bán phần điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi mang lại kết quả tốt. Tuy nhiên cần tiếp tục theo dõi và đánh giá lâu dài.Lê Quang VàngĐỗ Quang ThànhNguyễn Chánh LậpNguyễn Anh Huy
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19156KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THAI NGOÀI TỬ CUNG CHƯA VỠ BẰNG METHOTREXATE TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI KIÊN GIANG NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19157
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thành công của phương pháp điều trị thai ngoài tử cung chưa vỡ bằng Methotrexate tại Bệnh viện Sản Nhi Kiên Giang năm 2025. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu hồi cứu mô tả, trên 90 bệnh nhân được chẩn đoán thai ngoài tử cung chưa vỡ điều trị nội khoa bằng Methotrexate tại Bệnh viện Sản Nhi Kiên Giang từ ngày 01/01/2025 đến hết ngày 31/12/2025. Kết quả: Điều trị nội khoa bằng Methotrexate thành công ở 77,8% bệnh nhân. Nồng độ β-hCG giảm có ý nghĩa qua các mốc theo dõi (p < 0,001). Tỷ lệ bệnh nhân cần sử dụng liều Methotrexate thứ hai là 15,7%, tỷ lệ chuyển sang điều trị ngoại khoa là 1,4%. Thừa cân - béo phì liên quan có ý nghĩa với nhu cầu sử dụng nhiều hơn một liều Methotrexate (OR = 5,6; KTC 95%: 1,4–22; p = 0,008), trong khi tuổi không liên quan đến kết quả điều trị. Kết luận: Điều trị nội khoa bằng Methotrexate đạt tỷ lệ thành công 77,8%. Thừa cân - béo phì là yếu tố liên quan có ý nghĩa với nhu cầu sử dụng nhiều hơn một liều Methotrexate.Lê Anh KhôiNguyễn Thị Thanh Hà
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19157KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI KHOA NỘI HÔ HẤP BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ NĂM 2025-2026
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19158
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng điều trị nội trú tại Khoa Nội Hô hấp Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2025-2026. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, trên 87 bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú tại Khoa Nội hô hấp Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ được chẩn đoán viêm phổi cộng đồng trong thời gian nghiên cứu từ tháng 1/2026 đến 6/2026. Kết quả: Nghiên cứu trên 87 bệnh nhân viêm phổi mắc phải cộng đồng điều trị nội trú cho thấy nam và nữ có tỷ lệ tương đương, tuổi trung bình 74,20 ± 13,49; nhóm ≥60 tuổi chiếm 87,36%. Tất cả trường hợp đều có căn nguyên vi khuẩn, tăng huyết áp là bệnh đồng mắc phổ biến nhất (73,56%). Phác đồ phối hợp hai nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất (68,97%), chủ yếu là beta-lactam kết hợp quinolon (16,09%). Thời gian điều trị trung bình là 10,92 ± 5,54 ngày. Kết quả điều trị cho thấy 77,01% bệnh nhân cải thiện lâm sàng, 13,79% không thay đổi, 9,20% chuyển viện và không ghi nhận trường hợp tử vong. Kết luận: Người bệnh viêm phổi mắc phải cộng đồng điều trị nội trú chủ yếu là người cao tuổi và có nhiều bệnh đồng mắc. Phối hợp hai nhóm kháng sinh, đặc biệt beta-lactam kết hợp quinolon, là phác đồ được sử dụng phổ biến. Điều trị đạt kết quả khả quan với tỷ lệ cải thiện lâm sàng cao và không ghi nhận trường hợp tử vong.Huỳnh Anh HuyNguyễn Hữu Chung
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19158ĐẶC ĐIỂM THOÁI HÓA KHỚP GỐI Ở BỆNH NHÂN NỮ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19159
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm thoái hóa khớp gối ở bệnh nhân nữ tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản năm 2025. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết hợp hồi cứu hồ sơ bệnh án, trên 114 bệnh nhân nữ được chẩn đoán thoái hóa khớp gối theo tiêu chuẩn ACR 1991, có đo mật độ xương theo phương pháp siêu âm định lượng tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản từ 1/1/2025 đến 30/12/2025. Kết quả: Phần lớn bệnh nhân nữ mắc thoái hóa khớp gối có tổn thương cả hai khớp (77,2%), trong khi thoái hóa một khớp chiếm 22,8%. Trên X-quang, giai đoạn II là phổ biến nhất (66,7%), còn giai đoạn IV chiếm tỷ lệ thấp nhất (2,6%). Trên siêu âm khớp gối, gai xương gặp nhiều nhất (91,2%), tiếp theo là tràn dịch khớp (57,0%) và hẹp khe khớp (27,2%). Một số yếu tố nội tiết – sinh sản có liên quan có ý nghĩa thống kê với loãng xương, gồm tuổi bắt đầu có kinh muộn (≥15 tuổi), mãn kinh sớm (≤45 tuổi) và thời gian mãn kinh ≥3 năm. Kết luận: Thoái hóa khớp gối ở bệnh nhân nữ chủ yếu tổn thương hai bên, thường ở giai đoạn II trên X-quang và có các dấu hiệu điển hình trên siêu âm như gai xương và tràn dịch khớp. Một số yếu tố nội tiết – sinh sản như tuổi bắt đầu có kinh, tuổi mãn kinh và thời gian mãn kinh có liên quan đến loãng xương.Phạm Thế QuanTrần Đỗ Thanh Phong
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19159ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI U BUỒNG TRỨNG TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 4 - QUÂN KHU 4
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19160
Mục tiêu: Đánh giá kết quả của phẫu thuật nội soi điều trị u buồng trứng tại Bệnh viện Quân y 4 – Quân khu 4. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu và tiến cứu, mô tả cắt ngang, với 83 bệnh nhân chẩn đoán u buồng trứng được điều trị bằng phẫu thuật nội soi từ 01/2024 đến tháng 4/2026 tại Bệnh viện Quân y 4. Kết quả: Bệnh nhân bị u buồng trứng đa số được thực hiện phẫu thuật bóc u (65,1%), ở độ tuổi dưới 45 tỉ lệ bóc u bảo tồn buồng trứng là chủ yếu (92,7%). Ở nhóm bệnh nhân còn kinh thì bóc u bảo tồn buồng trứng trong chiếm đa số (76,8%). Tỉ lệ bóc u chiếm đa số (80,5%) với kết quả giải phẫu bệnh là u nang bì buồng trứng và cắt buồng trứng chỉ chiếm 19,5%. Kích thước khối u nhỏ hơn 5 cm thì tỉ lệ bóc u là 79,3%, trong khi đó khối u lớn hơn 10 cm tỉ lệ bóc chỉ còn 37,5%. Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt u buồng trứng lành tính là một phẫu thuật rất an toàn và hiệu quả.Lô Minh TríNguyễn Văn HươngTrương Quang ThắngNguyễn Phúc Hảo
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19160KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG GIAI ĐOẠN I- IVA Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19161
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị trên 26 bệnh nhân cao tuổi được chẩn đoán ung thư vòm mũi họng giai đoạn I–IVA, điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu có theo dõi dọc trên 26 bệnh nhân cao tuổi (≥ 60 tuổi) chẩn đoán xác định ung thư vòm mũi họng giai đoạn I-IVA điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ ngày 01/01/2021 đến 30/06/2025. Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 01/01/2026 đến 31/07/2026. Đánh giá đáp ứng theo RECIST 1.1; thời gian sống thêm không bệnh (DFS) tính từ khi kết thúc điều trị đến khi ghi nhận biến cố tái phát, di căn xa hoặc tử vong. Ước tính DFS bằng phương pháp Kaplan-Meier trên phần mềm SPSS. Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 66,2 ± 4,68 tuổi; nam giới chiếm 84,6%. Phần lớn bệnh nhân đến khám trong vòng 3 tháng đầu từ khi có triệu chứng (61,5%); 61,5% bệnh nhân ở giai đoạn III-IVA. Hóa xạ trị đồng thời đơn thuần là phác đồ chủ đạo (57,7%). Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn (CR) ở nhóm nhận liều xạ trị < 70 Gy cao hơn nhóm đủ ≥ 70 Gy (70,0% so với 18,8%; p = 0,024), đây là mối liên quan quan sát được trên cỡ mẫu nhỏ, chịu ảnh hưởng của các yếu tố nhiễu lâm sàng và tuyệt đối không suy luận rằng giảm liều xạ làm tăng hiệu quả. Thời gian DFS trung vị là 12,3 tháng (95% CI: 8,08 - 16,51 tháng); tỷ lệ DFS sau 6, 12 và 18 tháng lần lượt là 96,0%, 57,6% và 38,4%. Kết luận: Nghiên cứu bước đầu phản ánh kết quả điều trị ung thư vòm mũi họng ở bệnh nhân cao tuổi tại địa phương. Hóa xạ trị đồng thời là phác đồ khả thi, tuy nhiên tỷ lệ sống thêm không bệnh tái phát giảm nhanh theo thời gian cần được theo dõi sát và đánh giá kỹ lưỡng hơn trên cỡ mẫu lớn hơn.Trần Thị Bích HuyềnHoàng Thị Ái VânTrần Bảo Ngọc
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19161KẾT QUẢ HÓA TRỊ TÂN BỔ TRỢ BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ BUỒNG TRỨNG GIAI ĐOẠN IIIC-IV TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19162
Mục tiêu: Đánh giá kết quả hóa trị tân bổ trợ bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn IIIC-IV tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 36 bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn IIIC-IV điều trị hóa trị tân bổ trợ tại Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/12/2025. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 58,61 ± 9,34; 86,1% có PS 0-1. Giai đoạn IIIC, IV chiếm tỉ lệ lần lượt là 52,8% và 47,2%. Phác đồ Paclitaxel - Carboplatin được sử dụng nhiều nhất với 66,7%. Tỉ lệ đáp ứng khách quan đạt 88,9%. Tuy nhiên, chỉ có 28 bệnh nhân được phẫu thuật công phá u tối ưu sau hóa trị tân bổ trợ, kết quả: 69,5% bệnh nhân đạt đáp ứng một phần và 8,3% đạt đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học; tỉ lệ đạt phẫu thuật tối ưu là 75,0%. Độc tính độ 3 - 4 chủ yếu là độc tính huyết học. Kết luận: Kết quả cho thấy hóa trị tân bổ trợ ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn IIIC-IV mang lại hiệu quả điều trị tốt, tăng tỉ lệ phẫu thuật tối ưu và độc tính chấp nhận được.Phạm Thị HảiTrần Thị Kim Phượng
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19162GIÁ TRỊ CỦA THANG ĐIỂM DECAF TRONG DỰ BÁO KẾT CỤC BẤT LỢI Ở BỆNH NHÂN ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA LONG AN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19164
Mục tiêu: Đánh giá giá trị của thang điểm DECAF trong dự báo kết cục bất lợi ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu quan sát tiến cứu, mô tả có phân tích trên 108 bệnh nhân đợt cấp BPTNMT điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Long An từ tháng 01/2025 đến tháng 5/2026. Điểm DECAF được xác định tại thời điểm nhập viện. Kết quả: Tuổi trung bình là 69,4 ± 9,8 tuổi, nam giới chiếm 75,9%. Điểm DECAF trung vị là 2 (IQR: 1–3); 35 bệnh nhân (32,4%) có DECAF ≥ 3. Có 30 bệnh nhân (27,8%) xuất hiện kết cục bất lợi và 10 bệnh nhân (9,3%) tử vong nội viện. Tỷ lệ kết cục bất lợi tăng dần theo điểm DECAF (p xu hướng <0,001). DECAF ở nhóm có kết cục bất lợi cao hơn nhóm không có kết cục bất lợi [3 (2–4) so với 1 (1–2), p<0,001]. Diện tích dưới đường cong ROC của DECAF đối với kết cục bất lợi là 0,842 (KTC 95%: 0,763–0,921; p<0,001). Tại ngưỡng DECAF ≥ 3, độ nhạy đạt 70,0% và độ đặc hiệu 82,1%. Kết luận: Điểm DECAF cao hơn liên quan với tỷ lệ kết cục bất lợi trong viện cao hơn ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp BPTNMT. DECAF cho thấy khả năng phân biệt tốt đối với kết cục bất lợi và có thể hỗ trợ phân tầng nguy cơ ban đầu bên cạnh đánh giá lâm sàng và cận lâm sàng thường quy.Lê Quang ThànhPhan Duy TrinhNguyễn Ngọc Phương AnhBùi Tùng HiệpBùi Đặng Lan HươngBùi Đặng Minh Trí
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19164ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ SỰ KHÁC BIỆT THEO VỊ TRÍ U Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19165
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân tích sự khác biệt theo vị trí khối u ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu trên 511 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư đại trực tràng lần đầu bằng mô bệnh học, từ 01/2024 đến 05/2026. Kết quả: Bệnh nhân ≥ 60 tuổi chiếm 68,1%, tỷ lệ nam/nữ là 1,6. Tiền sử mắc bệnh đại trực tràng và tiền sử gia đình liên quan đến ung thư lần lượt là 2,5% và 9,2%. Đau bụng thường gặp nhất (78,5%). Khối u chủ yếu ở trực tràng (41,7%) và đại tràng trái (37,2%); ung thư biểu mô tuyến biệt hóa vừa chiếm 88,7%; giai đoạn III–IV chiếm 58,9%. Có sự khác biệt theo vị trí khối u về đau bụng (p = 0,021), đại tiện phân máu (p = 0,001), sụt cân (p = 0,016) và giai đoạn bệnh (p < 0,001). Kết luận: Bệnh thường gặp ở người ≥ 60 tuổi, chủ yếu tại trực tràng và đại tràng trái. Một số triệu chứng lâm sàng và giai đoạn bệnh khác biệt theo vị trí khối u.Dương Đình PhùngPhan Đình ViệtNguyễn Thị Thuỳ LinhNguyễn Thị NgọcNguyễn Thị ThủyHoàng Đình CảnhNguyễn Thị Trang
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19165ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI VỊ TRÍ CỦA CÀNH CAO XƯƠNG HÀM DƯỚI SAU PHẪU THUẬT LÙI HÀM DƯỚI BẰNG BSSO
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19166
Mục tiêu: Nghiên cứu hồi cứu này nhằm đánh giá sự thay đổi vị trí đoạn xa và mức độ xoay đoạn gần sau phẫu thuật lùi hàm dưới bằng BSSO, đồng thời phân tích mối tương quan giữa mức độ di chuyển phẫu thuật, xoay đoạn gần ngay sau phẫu thuật và tái phát xương sau 6 tháng. Phương pháp nghiên cứu: Các hình ảnh sọ nghiêng được tái tạo từ CBCT của 34 bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật lùi hàm dưới bằng BSSO, có hoặc không kết hợp cắt xương Le Fort I, tại ba thời điểm: trước phẫu thuật (T0), ngay sau phẫu thuật (T1) và 6 tháng sau phẫu thuật (T2). Kết quả: Mức độ lùi phẫu thuật trung bình tại điểm B là 8,28 ± 4,21 mm. Mức xoay sau trung bình ngay sau phẫu thuật của đoạn gần là 2,53 ± 3,59 độ. Sau phẫu thuật 6 tháng, mức tái phát trung bình của đoạn xa tại điểm B là 0,79 ± 3,52 mm. Mức tái phát của đoạn gần là 0,79 ± 1,77 độ. Ghi nhận mối tương quan trung bình có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) giữa mức độ di chuyển phẫu thuật và sự xoay đoạn gần ngay sau phẫu thuật, cũng như giữa mức độ di chuyển phẫu thuật và tái phát đoạn xa. Có mối tương quan có ý nghĩa giữa tái phát đoạn xa và tái phát đoạn gần trung bình cũng như bên trái. Không có mối tương quan giữa sự xoay đoạn gần ngay sau phẫu thuật và tái phát đoạn xa. Kết luận: Sự xoay sau ngay sau phẫu thuật của đoạn gần có ảnh hưởng không đáng kể đến tái phát xương hàm dưới. Ngược lại, mức độ di chuyển phẫu thuật có liên quan rõ hơn đến tái phát đoạn xa. Do đó, trong các trường hợp cần lùi hàm dưới nhiều, cần giảm thiểu sự xoay đoạn gần trong phẫu thuật.Lê Tấn HùngTrần Ái KhiêmNguyễn Mỹ HuyềnNguyễn Hoàng Khang
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19166MỘT SỐ YẾU TỐ BỆNH LÝ LIÊN QUAN ĐẾN LOÃNG XƯƠNG Ở PHỤ NỮ MẮC THOÁI HÓA KHỚP GỐI TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19167
Mục tiêu: Phân tích một số yếu tố bệnh lý liên quan đến loãng xương ở phụ nữ mắc thoái hóa khớp gối tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản năm 2025. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết hợp hồi cứu hồ sơ bệnh án, trên 114 bệnh nhân nữ được chẩn đoán thoái hóa khớp gối theo tiêu chuẩn ACR 1991, có đo mật độ xương theo phương pháp siêu âm định lượng tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản từ 1/1/2025 đến 30/12/2025. Kết quả: Rối loạn lipid máu được ghi nhận có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với loãng xương ở phụ nữ mắc thoái hóa khớp gối (OR = 3,93; KTC 95%: 1,63–9,48; p = 0,002). Các yếu tố khác như tiền sử gãy xương, tiền sử gia đình loãng xương, sử dụng corticoid kéo dài, tăng huyết áp, đái tháo đường, gout, viêm khớp dạng thấp và cường giáp chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết luận: Rối loạn lipid máu là yếu tố bệnh lý có liên quan có ý nghĩa thống kê với loãng xương ở phụ nữ mắc thoái hóa khớp gối, trong khi các yếu tố bệnh lý khác chưa ghi nhận mối liên quan.Lê Mộng Thuỳ DươngTrần Đỗ Thanh Phong
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19167KẾT QUẢ HÓA TRỊ BỔ TRỢ BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐẠI TRÀNG GIAI ĐOẠN II-III BẰNG PHÁC ĐỒ mFOLFOX6 TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU BẮC NINH
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19169
Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị ở bệnh nhân ung thư đại tràng giai đoạn II–III được hóa trị bổ trợ bằng phác đồ mFOLFOX6 tại Bệnh viện Ung bướu Bắc Ninh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 55 bệnh nhân ung thư đại tràng giai đoạn II–III được điều trị hóa trị bổ trợ bằng phác đồ mFOLFOX6 tại Bệnh viện Ung bướu Bắc Ninh từ tháng 01/2020 đến tháng 01/2025. Các chỉ tiêu đánh giá gồm đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, giai đoạn bệnh, số lượng hạch thu được, thời gian sống thêm toàn bộ, thời gian sống thêm không bệnh và độc tính của phác đồ. Kết quả: Tuổi trung bình là 59,9 ± 9,2 tuổi. Lý do vào viện chủ yếu là đau bụng, chiếm 70,9%. U đại tràng phải chiếm 58,2%, đại tràng trái chiếm 41,8%; ung thư biểu mô tuyến chiếm tỷ lệ cao nhất với 81,8%. Giai đoạn II nguy cơ cao chiếm 54,5% và giai đoạn III chiếm 45,5%. Có 29,1% bệnh nhân được vét dưới 12 hạch. Thời gian theo dõi trung bình là 35,8 ± 12,3 tháng. Tỷ lệ sống thêm toàn bộ và sống thêm không bệnh 3 năm lần lượt là 88,7% và 78,3%. Phần lớn độc tính ở mức độ 1–2; độc tính độ 3–4 chủ yếu là độc tính huyết học. Kết luận: Phác đồ mFOLFOX6 cho kết quả sống thêm khả quan và khả năng dung nạp tương đối tốt ở bệnh nhân ung thư đại tràng giai đoạn II nguy cơ cao và giai đoạn III.Nguyễn Minh CảnhNguyễn Trọng HiếuTrần Bảo Ngọc
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19169KẾT QUẢ LÀNH THƯƠNG TRÊN LÂM SÀNG VÀ X-QUANG SAU ĐIỀU TRỊ NỘI NHA TÁI SINH SỬ DỤNG FIBRIN GIÀU TIỂU CẦU TRÊN RĂNG VĨNH VIỄN CHƯA ĐÓNG CHÓP TỦY HOẠI TỬ
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19170
Mục tiêu: Đánh giá kết quả lành thương trên lâm sàng và X-quang sau điều trị nội nha tái sinh sử dụng fibrin giàu tiểu cầu trên răng vĩnh viễn chưa đóng chóp tủy hoại tử. Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng, thực hiện trên 12 bệnh nhân với 16 răng vĩnh viễn chưa đóng chóp tủy hoại tử. Các răng được điều trị nội nha tái sinh có sử dụng fibrin giàu tiểu cầu. Kết quả được đánh giá dựa trên triệu chứng lâm sàng sau 1 tuần và tình trạng lành thương quanh chóp trên X-quang sau 3 tháng và 6 tháng. Kết quả: Trước điều trị, đau được ghi nhận ở 12/16 răng, gõ đau ở 13/16 răng và sưng ở 8/16 răng. Sau 1 tuần, tất cả các răng đều không đau. Sau 3 tháng, 5/16 răng đã lành thương và 11/16 răng đang lành thương. Sau 6 tháng, 12/16 răng đã lành thương và 4/16 răng đang lành thương. Không ghi nhận trường hợp không lành thương. Tỷ lệ đạt kết quả lâm sàng và X-quang thuận lợi sau 6 tháng là 100%. Kết luận: Điều trị nội nha tái sinh sử dụng fibrin giàu tiểu cầu cho thấy kết quả thuận lợi về kiểm soát triệu chứng lâm sàng và lành thương quanh chóp sau 6 tháng ở răng vĩnh viễn chưa đóng chóp tủy hoại tử.Nguyễn Thị Thu ThủyLê Hồng VânTrịnh Thị Thái Hà
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19170ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ NHIỄM TRÙNG VẾT MỔ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN SAU PHẪU THUẬT LỖ TIỂU THẤP KHÔNG SỬ DỤNG KHÁNG SINH DỰ PHÒNG KÉO DÀI
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19172
Đặt vấn đề: Kháng sinh dự phòng kéo dài sau phẫu thuật lỗ tiểu thấp vẫn được sử dụng rộng rãi dù thiếu bằng chứng hiệu quả và làm gia tăng nguy cơ kháng thuốc. Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ và biến chứng cần phẫu thuật lại khi ngưng sử dụng kháng sinh dự phòng kéo dài sau mổ lỗ tiểu thấp một thì. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu loạt ca tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 (01/2023–07/2025) trên 272 bệnh nhi nam được phẫu thuật tạo hình niệu đạo một thì lần đầu. Tất cả bệnh nhi đều nhận một liều kháng sinh trước mổ. So sánh nhóm dùng và không dùng kháng sinh dự phòng kéo dài sau mổ. Kết cục chính là nhiễm trùng vết mổ; kết cục phụ là phẫu thuật lại. Phân tích hồi quy đa biến được thực hiện. Kết quả: Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ không khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm có và không sử dụng kháng sinh(14,9% so với 9,9%; p=0,216). Tỷ lệ phẫu thuật lại tương đương (17,7% so với 19%; p=0,805). Sử dụng kháng sinh sau mổ không liên quan độc lập đến nhiễm trùng hoặc phẫu thuật lại. Tuổi bệnh nhi và chiều dài đoạn niệu đạo tân tạo là các yếu tố tiên lượng độc lập. Kết luận: Ngưng kháng sinh dự phòng kéo dài sau mổ lỗ tiểu thấp một thì có thể là khả thi, an toàn và ủng hộ chiến lược quản lý sử dụng kháng sinh hợp lý.Nguyễn Tài ÂnHồ Trung CườngVõ Lê Đức TrọngNguyễn Trần Minh QuỳnhNguyễn Thị Anh ĐàoTrần Đại PhúHuỳnh Công ChấnNguyễn Thị Trúc LinhLê Thanh Hùng
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19172CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG MẠCH VÀNH THEO THANG ĐIỂM SYNTAX Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19173
Đặt vấn đề. Hội chứng mạch vành cấp (HCMVC) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế. Thang điểm SYNTAX dựa trên hình ảnh chụp mạch vành, giúp phân loại bệnh nhân theo mức độ tổn thương mạch vành từ đó hỗ trợ quyết định phương pháp can thiệp mạch vành phù hợp và có giá trị tiên lượng kết cục. Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ phức tạp của tổn thương mạch vành theo thang điểm SYNTAX giúp các bác sĩ phân tầng nguy cơ ngay từ giai đoạn tiếp cận ban đầu ở phòng cấp cứu, giảm thiểu thời gian đưa ra quyết định phương pháp điều trị tái tưới máu. Phương pháp. Nghiên cứu cắt ngang bao gồm 181 bệnh nhân được chẩn đoán HCMVC nhập khoa Tim mạch can thiệp của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, thành phố Hồ Chí Minh đã được CĐMVXL từ tháng 02 năm 2025 đến tháng 06 năm 2026. Các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng có giá trị dự đoán độc lập mức độ tổn thương mạch vành theo thang điểm SYNTAX ở mức trung bình - cao được xác định thông qua kiểm định bằng phương pháp hồi quy logistic đa biến. Biến số kết cục là nguy cơ SYNTAX trung bình - cao (≥ 23 điểm). Phân tích hồi quy logistic đơn biến được sử dụng nhằm xác định các yếu tố gây nhiễu. Kết quả. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy nồng độ NT – pro BNP, tiền căn đái tháo đường và tình trạng hút thuốc lá là các yếu tố dự báo độc lập đối với tình trạng tổn thương động mạch vành mức độ trung bình - cao (điểm SYNTAX ≥ 23). Cứ mỗi 1000 pg/mL nồng độ NT-proBNP tăng thêm, nguy cơ bệnh nhân có điểm SYNTAX ≥ 23 tăng lên 17,9% (OR = 1,179; KTC 95%: 1,075 – 1,289; p < 0,001). Bệnh nhân có tiền căn đái tháo đường có nguy cơ điểm SYNTAX ≥ 23cao gấp 3,76 lần so với nhóm không mắc (OR = 3,758; KTC 95%: 1,719 – 8,222; p = 0,001). Bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá có nguy cơ điểm SYNTAX ≥ 23 cao gấp 4,36 lần (OR = 4,364; KTC 95%: 1,541 – 12,357; p = 0,006). Kết luận. Nồng độ NT – pro BNP huyết thanh, tiền căn bệnh lý đái tháo đường và tiền sử hút thuốc lá là các yếu tố độc lập dự báo mức độ tổn thương mạch vành theo thang điểm SYNTAX ở mức trung bình – cao (SYNTAX ≥ 23).Lê Tự Phương ThuýTrần Đăng Anh KhoaLê Cao Phương Duy
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19173GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA SIÊU ÂM BƠM DỊCH ĐÁNH GIÁ ĐỘ THÔNG VÒI TỬ CUNG TRONG PHÁT HIỆN BẤT THƯỜNG TỬ CUNG - VÒI TỬ CUNG Ở PHỤ NỮ VÔ SINH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19174
Mục tiêu: Đánh giá giá trị chẩn đoán của siêu âm bơm dịch đánh giá độ thông vòi tử cung trong phát hiện bất thường tử cung – vòi tử cung ở phụ nữ vô sinh; đồng thời so sánh khả năng phát hiện bất thường với siêu âm thường quy và khảo sát một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, trên 52 phụ nữ vô sinh được thực hiện siêu âm thường quy và siêu âm bơm dịch đánh giá độ thông vòi tử cung, đối chiếu kết quả với tiêu chuẩn tham chiếu. Các chỉ số độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính và độ chính xác được tính với khoảng tin cậy 95%. Kết quả: Siêu âm bơm dịch phát hiện ít nhất một bất thường ở 22/52 trường hợp (42,3%), trong đó bất thường vòi tử cung 28,8% và bất thường buồng tử cung 19,2%; tắc vòi tử cung là bất thường thường gặp nhất (19,2%). So với tiêu chuẩn tham chiếu, độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính và độ chính xác lần lượt là 82,6%, 89,7%, 86,4%, 86,7% và 86,5%. Khả năng phát hiện ít nhất một bất thường của siêu âm bơm dịch cao hơn siêu âm thường quy (42,3% so với 19,2%; p=0,002), đặc biệt đối với tắc vòi tử cung (19,2% so với 7,7%; p=0,031). Tỷ lệ bất thường cao hơn ở nhóm >35 tuổi (72,2% so với 29,4%; p=0,004) và nhóm vô sinh thứ phát (60,9% so với 31,0%; p=0,049). Kết luận: Siêu âm bơm dịch đánh giá độ thông vòi tử cung có giá trị chẩn đoán tốt trong phát hiện bất thường tử cung – vòi tử cung ở phụ nữ vô sinh và cho khả năng phát hiện bất thường cao hơn siêu âm thường quy. Phương pháp có thể là công cụ hữu ích trong đánh giá hình thái tử cung và độ thông vòi tử cung ở phụ nữ vô sinh.Hoàng Thị Thu HươngNguyễn Thị MaiNguyễn Quang NamPhạm Ngọc HàĐào Ngọc Quyền
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19174ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN XUẤT TINH MÁU TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19175
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng xuất tinh máu tái diễn hoặc kéo dài ở bệnh nhân tại Bệnh viện Bình Dân. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu có phân tích trên 68 bệnh nhân nam từ 18 tuổi trở lên đến khám tại Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân, từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025. Các đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và hình ảnh học được thu thập từ hồ sơ bệnh án điện tử; các mối liên quan với xuất tinh máu tái diễn/kéo dài được phân tích đơn biến và biểu diễn bằng OR thô với 95%CI. Kết quả: Tuổi trung vị là 46,0 (38,0–55,0) tuổi; 64,7% bệnh nhân có xuất tinh máu tái diễn hoặc kéo dài và 45,6% không có triệu chứng phối hợp. LUTS gặp ở 25,0%, tiểu buốt/rát 17,6%. Bạch cầu niệu và hồng cầu niệu vi thể lần lượt là 14,7% và 11,8%. Trong 60 bệnh nhân được TRUS, 63,3% có ít nhất một bất thường, thường gặp nhất là vôi hóa tuyến tiền liệt (28,3%). Tuổi ≥40 (OR=3,40; 95%CI: 1,17–9,88), có LUTS (OR=5,69; 95%CI: 1,18–27,51) và TRUS bất thường (OR=3,22; 95%CI: 1,05–9,89) liên quan với xuất tinh máu tái diễn hoặc kéo dài. Kết luận: Trong phân tích đơn biến, tuổi ≥40, LUTS và bất thường trên TRUS có liên quan với tình trạng xuất tinh máu tái diễn hoặc kéo dài. Các mối liên quan này cần được diễn giải thận trọng do thiết kế hồi cứu và chưa hiệu chỉnh các yếu tố nhiễu.Mai Bá Tiến Dũng
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19175ĐẶC ĐIỂM MẠCH MÁU TRÊN DSA LIÊN QUAN VỚI HO RA MÁU NẶNG VÀ KẾT QUẢ CẦM MÁU SỚM SAU NÚT MẠCH
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19176
Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa một số đặc điểm mạch máu trên chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) với ho ra máu nặng và mô tả kết quả cầm máu sớm sau nút động mạch phế quản và/hoặc động mạch hệ thống ngoài phế quản. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên 34 bệnh nhân ho ra máu được nút mạch tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 01/2024 đến tháng 06/2026. Các đặc điểm hình thái mạch trên DSA, mức độ ho ra máu và kết quả sớm sau nút mạch được ghi nhận; số liệu được xử lý bằng SPSS 25.0. Kết quả: Ho ra máu nặng chiếm 52,9% (18/34). Đường kính động mạch phế quản lớn nhất trên DSA lần lượt là 2,73 ± 0,49 mm ở nhóm nhẹ, 2,94 ± 0,52 mm ở nhóm trung bình và 3,72 ± 1,01 mm ở nhóm nặng. Tăng sinh mạch dạng búi/lưới gặp ở 88,9% nhóm nặng và 37,5% nhóm không nặng (OR = 13,33; 95% CI: 2,24 - 79,44; p = 0,003); phình mạch gặp ở 38,9% nhóm nặng và không gặp ở nhóm không nặng (95% CI: 1,12 - 415,37; p = 0,008); shunt động–tĩnh mạch gặp ở 38,9% và 6,2% (OR = 9,55; 95% CI: 1,02 - 89,23; p = 0,043). Động mạch hệ thống ngoài phế quản chưa có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với ho ra máu nặng (OR = 3,00; 95% CI: 0,70 - 12,93; p = 0,172). Thành công kỹ thuật đạt 100,0% và thành công lâm sàng sớm đạt 97,1%. Không ghi nhận nhồi máu tạng trong thời gian nằm viện. Kết luận: Tăng sinh mạch dạng búi/lưới, phình mạch và shunt động–tĩnh mạch trên DSA có liên quan với ho ra máu nặng trong nhóm bệnh nhân được nút mạch. Nút mạch đạt tỷ lệ thành công kỹ thuật và lâm sàng sớm cao trong nhóm nghiên cứu.Nguyễn Văn SangĐặng Quốc VũTrần Phan NinhPhạm Việt HàNguyễn Trường Giang
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19176KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN NGHẸT TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19178
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn nghẹt trẻ em (TVBNTE) tại khoa Ngoại nhi Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả theo dõi dọc, thu thập số liệu hồi cứu kết hợp với tiến cứu trên 55 bệnh nhi dưới 16 tuổi được chẩn đoán TVBN và được phẫu thuật cấp cứu từ tháng 3/2024 đến tháng 6/2026 tại khoa Ngoại nhi Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhi là 20,94 ± 26,63 tháng, tỷ lệ nam/nữ là 4/1. Có 83,6% bệnh nhi có tiền sử thoát vị bẹn cùng bên và 56,4% đến viện trong vòng dưới 6 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng. Quai ruột kèm mạc nối là nội dung tạng thoát vị thường gặp nhất, chiếm 80,0%. Trong mổ 60,0% tạng thoát vị được đánh giá nghi hoại tử; tỷ lệ bảo tồn tạng đạt 98,2%, chỉ 1 bệnh nhi (1,8%) phải cắt tạng hoại tử và không ghi nhận tai biến trong mổ. Thời gian phẫu thuật trung bình là 40,45 ± 11,27 phút, thời gian hồi phục sau mổ 1,45 ± 0,69 ngày và thời gian nằm viện sau mổ 3,38 ± 1,46 ngày. Đánh giá kết quả ra viện, tỉ lệ tốt đạt 76,4%, tăng lên 89,1% sau 1 tháng và 94,5% sau 3 tháng theo dõi. Các biến chứng sớm chủ yếu gồm tụ máu vùng mổ (27,3%), sưng bìu/môi lớn (45,5%)và nhiễm trùng vết mổ (7,3%). Kết luận: Phẫu thuật cấp cứu điều trị TVBNTE đạt tỷ lệ bảo tồn tạng cao, không ghi nhận tai biến trong mổ và cho kết quả sớm thuận lợi và tiếp tục cải thiện trong thời gian theo dõi.Phạm Văn HuấnChâu Văn ViệtVũ Thị Hồng Anh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19178PHẠM VI BAO PHỦ VÀ KHOẢNG TRỐNG TRONG CHÍNH SÁCH VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHỎE CỦA LAO ĐỘNG TỰ DO NGOÀI TRỜI TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: TỔNG QUAN CÓ HỆ THỐNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19179
Mục tiêu: Tổng quan các văn bản chính sách liên quan đến sức khỏe của người lao động tự do ngoài trời trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại Việt Nam. Phương pháp: Nghiên cứu tổng quan có hệ thống các văn bản được tìm kiếm trên Cơ sở dữ liệu Quốc gia về Văn bản pháp luật. Dữ liệu được tổng hợp theo các lĩnh vực chính sách; trong lần hiệu chỉnh, mức độ liên quan của từng văn bản được đánh giá lại theo ba nhóm: trực tiếp, rộng hơn và gián tiếp. Kết quả: Có 45 văn bản trong tập tài liệu ban đầu; không có văn bản nào tập trung đồng thời vào lao động tự do ngoài trời, nguy cơ nghề nghiệp nhạy cảm với khí hậu và biện pháp bảo vệ sức khỏe. Các quy định liên quan chủ yếu thuộc các lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động, bảo hiểm và an sinh xã hội, tiếp cận dịch vụ y tế, thông tin và huấn luyện, khí hậu - môi trường và trách nhiệm quản lý. Kết luận: Cần phân biệt giữa nội dung có khả năng áp dụng gián tiếp và sự bao phủ chính sách rõ ràng đối với nhóm đích. Khoảng trống chính là chưa có sự ghi nhận tích hợp lao động tự do ngoài trời trong các quy định về sức khỏe nghề nghiệp, an sinh xã hội và thích ứng khí hậu.Nguyễn Văn KínhNguyễn Thu GiangTrương Hồng SơnNguyễn Việt HưngHoàng Hà LinhLê Việt Anh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19179ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ NẶNG CỦA CƠN HEN PHẾ QUẢN CẤP Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM TRÍ ĐÀ NẴNG
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19180
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xác định một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của cơn hen phế quản cấp ở trẻ dưới 5 tuổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 57 trẻ từ 12 tháng đến dưới 60 tháng tuổi được chẩn đoán cơn hen phế quản cấp và điều trị nội trú tại Khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Tâm Trí Đà Nẵng từ tháng 4/2024 đến tháng 4/2025. Kết quả: Ho, khó thở và ran rít/ran ngáy là các triệu chứng gặp ở 100% trường hợp. Các triệu chứng khác bao gồm co kéo cơ hô hấp phụ (82,5%), chảy mũi (28,1%), sốt (15,8%), khò khè (14,0%) và ran ẩm (14,0%). Tăng bạch cầu và tăng bạch cầu trung tính chiếm tỷ lệ cao, lần lượt là 78,9% và 64,9%; tăng bạch cầu ái toan ít gặp (5,3%). CRP tăng được ghi nhận ở 43,9% trường hợp và gặp nhiều hơn ở nhóm trẻ từ 2–5 tuổi so với nhóm dưới 2 tuổi (53,5% so với 14,3%; p = 0,016). Hình ảnh X-quang ngực chủ yếu ghi nhận tăng đậm nhánh phế quản với tỷ lệ 75,0%. Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, tiền sử dị ứng, tăng bạch cầu, tăng bạch cầu trung tính hoặc tăng bạch cầu ái toan với mức độ nặng của cơn hen cấp. Điều trị dự phòng hen phế quản có liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ nặng của cơn hen cấp; tỷ lệ cơn hen nặng thấp hơn ở nhóm trẻ có điều trị dự phòng. Kết luận: Ho, khó thở và ran rít/ran ngáy là các biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất của cơn hen phế quản cấp ở trẻ dưới 5 tuổi. Tăng bạch cầu, tăng bạch cầu trung tính và tăng CRP là những bất thường cận lâm sàng thường gặp. Điều trị dự phòng hen phế quản là yếu tố duy nhất có liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ nặng của cơn hen phế quản cấp.Hoàng Nguyễn Thanh ThủyĐinh Thanh Mế
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19180ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH SIÊU ÂM VÀ GIÁ TRỊ DỰ BÁO SINH NON TỰ PHÁT Ở THAI PHỤ CÓ TRIỆU CHỨNG DỌA CHUYỂN DẠ SINH NON TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19182
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh siêu âm và đánh giá giá trị dự báo của một số dấu hiệu siêu âm đối với sinh non tự phát ở thai phụ có triệu chứng dọa chuyển dạ sinh non tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu được thực hiện trên 63 thai phụ đơn thai từ 24 tuần 0 ngày đến 36 tuần 6 ngày, có triệu chứng nghi ngờ chuyển dạ sinh non, được khám và siêu âm tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ tháng 01/2025 đến tháng 12/2025. Kết quả: Tuổi mẹ trung bình là 30,4 ± 4,7 tuổi; tuổi thai trung bình tại thời điểm siêu âm là 30,8 ± 3,3 tuần. Chiều dài cổ tử cung trung bình là 29,1 ± 7,5 mm. Có 18/63 trường hợp (28,6%) có chiều dài cổ tử cung ≤25 mm, 17 trường hợp (27,0%) có funneling và 8 trường hợp (12,7%) có bùn ối. Có 10 trường hợp (15,9%) sinh tự phát trong vòng 7 ngày và 20 trường hợp (31,7%) sinh non tự phát trước 37 tuần. Ở nhóm sinh trong vòng 7 ngày, chiều dài cổ tử cung ngắn hơn rõ rệt so với nhóm không sinh trong 7 ngày (21,8 ± 5,6 mm so với 30,5 ± 7,2 mm; p<0,001). Với ngưỡng chiều dài cổ tử cung ≤25 mm, độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính và độ chính xác trong dự báo sinh trong 7 ngày lần lượt là 80,0%, 90,6%, 61,5%, 96,0% và 88,9%. AUC của chiều dài cổ tử cung là 0,871 (KTC 95%: 0,781–0,961; p<0,001). Funneling và bùn ối cũng liên quan có ý nghĩa với sinh trong 7 ngày (p=0,001 và p=0,018). Kết luận: Ở thai phụ có triệu chứng dọa chuyển dạ sinh non, chiều dài cổ tử cung ngắn, funneling và bùn ối là những dấu hiệu siêu âm có liên quan với nguy cơ sinh sớm. Chiều dài cổ tử cung qua đường âm đạo có khả năng phân biệt tương đối tốt nhóm sinh trong 7 ngày và có thể được sử dụng như một thành phần của đánh giá nguy cơ, kết hợp với lâm sàng và các yếu tố nguy cơ khác.Hoàng Thị Thu HươngNguyễn Thị MaiNguyễn Quang NamPhạm Ngọc HàĐào Ngọc Quyền
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19182PHƠI NHIỄM VỚI THỜI TIẾT CỰC ĐOAN VÀ SỨC KHỎE CỦA LAO ĐỘNG TỰ DO LÀM VIỆC NGOÀI TRỜI TẠI BỐN ĐÔ THỊ LỚN Ở VIỆT NAM
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19183
Mục tiêu: Mô tả phơi nhiễm với thời tiết cực đoan, sức khỏe và việc thực hiện các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu của lao động tự do làm việc ngoài trời tại bốn đô thị. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1.208 người làm xây dựng, bán hàng rong, xe ôm/giao hàng hoặc bốc vác tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Kết quả: Người tham gia làm việc trung bình 8,7 giờ/ngày và 55,3 giờ/tuần; 95,4% phơi nhiễm nắng nóng, 71,0% mưa lớn và 38,7% ngập lụt. Có 55,6% tiếp xúc với 6–10 yếu tố nguy cơ thời tiết, môi trường và nghề nghiệp, 29,1% với 11–15 yếu tố. Sau ngày làm việc, 68,5% báo cáo triệu chứng cơ-xương-khớp, 24,2% triệu chứng mắt và 23,7% triệu chứng hô hấp. Trong 12 tháng, 42,6% tự báo cáo ít nhất một biến cố bất lợi về sức khỏe hoặc công việc mà họ quy cho thời tiết bất thường; 35,7% cảm nhận ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần. Tỷ lệ lo âu và căng thẳng từ mức nhẹ trở lên theo DASS-21 lần lượt là 32,9% và 17,8%. Có 73,5% có bảo hiểm y tế nhưng chỉ 2,2% tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Trong mô hình đa biến, mỗi điểm nhận thức tăng thêm liên quan với điểm thực hiện biện pháp ứng phó tăng trung bình 0,774 điểm (KTC 95%: 0,735–0,812). Kết luận: Mẫu khảo sát có mức phơi nhiễm cao cùng nhiều bất lợi về sức khỏe và an sinh xã hội. Cần phối hợp thích ứng khí hậu, sức khỏe nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội. Thiết kế cắt ngang và tuyển mẫu phi xác suất không cho phép suy luận nhân quả hoặc suy rộng tỷ lệ cho quần thể.Nguyễn Văn KínhNguyễn Thu GiangTrương Hồng SơnVũ Thị Minh HạnhLê Việt Anh
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19183ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU TRONG VÀ SAU MỔ CỦA PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ MẶT PHẲNG CƠ DỰNG SỐNG ĐOẠN NGỰC DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA SIÊU ÂM TRONG PHẪU THUẬT LỒNG NGỰC
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19184
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả giảm đau trong và sau mổ của gây tê mặt phẳng cơ dựng sống (ESP) đoạn ngực dưới dưới hướng dẫn siêu âm trong phẫu thuật nội soi lồng ngực. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 114 bệnh nhân phẫu thuật nội soi lồng ngực, chia thành hai nhóm: nhóm ESP (n=57) và nhóm PCA morphin (n=57). Đánh giá hiệu quả giảm đau bằng thang điểm VAS, mức độ vô cảm theo Vester-Andersen, lượng morphin tiêu thụ và tác dụng không mong muốn. Kết quả: Hai nhóm tương đồng về đặc điểm chung và yếu tố phẫu thuật (p>0,05). Nhóm ESP đạt mức vô cảm tốt hơn, với đa số đạt độ 3 theo Vester-Andersen. Lượng morphin sau mổ ở nhóm ESP thấp hơn rõ rệt so với nhóm PCA (4,54 ± 2,02 mg so với 35,93 ± 15,28 mg; p<0,01). Điểm VAS khi nghỉ <3 ở cả hai nhóm, tuy nhiên từ sau 12 giờ, nhóm ESP có điểm đau thấp hơn có ý nghĩa (p<0,05). Đối với đau khi vận động, sự khác biệt xuất hiện từ giờ thứ 6 sau mổ (p<0,05). Tỷ lệ buồn nôn, nôn và ngứa ở nhóm ESP thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,01). Kết luận: Gây tê ESP dưới hướng dẫn siêu âm mang lại hiệu quả giảm đau tương đương PCA morphin trong 12 giờ đầu sau mổ, nhưng tốt hơn ở các thời điểm sau, đồng thời giúp giảm đáng kể nhu cầu morphin và tác dụng không mong muốn liên quan opioid.Hoàng Văn LươngNguyễn Thị ThươngNguyễn Đức Phương
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19184ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ ĐAU Ở BỆNH NHÂN ZONA TẠI KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA HẢI DƯƠNG NĂM 2025
https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/19185
Đặt vấn đề: Bệnh Zona (Herpes Zoster) là một trong những bệnh da do virus hay gặp nhất, do sự tái hoạt động của virus Varicella-Zoster tiềm ẩn trong dây thần kinh sọ não hoặc hạch rễ sau tủy sống sau lần nhiễm Varicella trước đó. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến mức độ đau ở bệnh nhân Zona tại Khoa Da liễu Bệnh viện Đa khoa Hải Dương năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 63 bệnh nhân Zona được chẩn đoán tại Khoa Da liễu Bệnh viện Đa khoa Hải Dương từ tháng 10 năm 2025 đến tháng 3 năm 2026. Kết quả: Trong 63 bệnh nhân, nam chiếm 52,4%, nữ 47,6%; nhóm từ 50 tuổi trở lên chiếm 87,3%. Đau là triệu chứng cơ năng phổ biến nhất và là lý do trực tiếp khiến 87,3% người bệnh đi khám; mụn nước đứng thứ hai (11,1%). Triệu chứng tiền triệu thường gặp nhất là rát bỏng (81%), tiếp theo là đau nhức (71,4%), ngứa (15,9%), trong khi sốt và hạch rất hiếm. Thời gian tiền triệu trên 3 ngày chiếm 81%. Ở giai đoạn toàn phát, mệt mỏi phổ biến nhất (52,4%); hạch, chóng mặt, buồn nôn rất hiếm hoặc không xuất hiện. Đau nhiều chiếm 92,1%, đau ít 7,9%; đa số bệnh nhân bị đau vừa đến nặng. Tổn thương bên phải chiếm 57,1%, bên trái 42,9%, không có trường hợp tổn thương hai bên. Vùng đầu-mặt thường gặp nhất (33,3%). Tổn thương nhỏ chiếm 25,4% (16 ca), vừa 27% (17 ca) và rộng 47,6% (30 ca). Phân tích các yếu tố liên quan cho thấy nhóm từ 50 tuổi trở lên có nguy cơ đau vừa và nặng cao gấp 15,9 lần nhóm dưới 50 tuổi. Rát bỏng tiền triệu làm tăng nguy cơ đau nhiều 8,17 lần. Diện tích tổn thương liên quan có ý nghĩa với cường độ đau (p=0,019), với tỷ lệ đau vừa/nặng ở nhóm tổn thương nhẹ, vừa và rộng lần lượt là 100%, 76,5% và 96,7%. Giới tính, thời gian tiền triệu, đau nhức tiền triệu, sốt, bệnh lý nền và vị trí tổn thương không ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến mức độ đau. Kết luận: Bệnh Zona chủ yếu gặp ở người từ 50 tuổi trở lên (87,3%), không khác biệt rõ về giới. Đau là triệu chứng nổi bật, với 95,2% bệnh nhân có DN4 ≥ 4 và 87,3% đi khám do đau. Tổn thương khu trú một bên (100%), thường gặp nhất ở vùng đầu-mặt (33,3%). Rát bỏng tiền triệu (81%), tuổi ≥50 và diện tích tổn thương da là các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với cường độ đau vừa đến nặng.Tạ Thị NguyênNgô Thị HiềnHồ Thị Hồng Nhung
Copyright (c) 2026
563310.51298/vmj.v563i3.19185