Tạp chí Y học Việt Nam https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj <p><strong>1. T&ecirc;n cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o in (b&aacute;o in, tạp ch&iacute; in):</strong></p> <p><strong>Tổng hội Y học Việt Nam</strong></p> <p><strong>Địa chỉ:</strong> 68A B&agrave; Triệu, Phường Cửa Nam, Th&agrave;nh phố H&agrave; Nội</p> <p><strong>Điện thoại:</strong> 024 39431866&nbsp;</p> <p><strong>2. T&ocirc;n chỉ, mục đ&iacute;ch:</strong></p> <p>- Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng; ch&iacute;nh s&aacute;ch, ph&aacute;p luật của Nh&agrave; nước về y học;</p> <p>- Phổ biến những th&agrave;nh tựu khoa học, c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu, kiến thức khoa học trong nước v&agrave; quốc tế về nghiệp vụ y tế.</p> <p><strong>3. Đối tượng phục vụ: </strong>Hội vi&ecirc;n Tổng hội Y học Việt Nam, c&aacute;c c&aacute;n bộ y tế, sinh vi&ecirc;n y, dược v&agrave; bạn đọc quan t&acirc;m.</p> <p><strong>4. Thể thức xuất bản: </strong>Ấn phẩm in</p> <p><strong>5. Ấn phẩm ch&iacute;nh:</strong></p> <p>- T&ecirc;n gọi: Tạp ch&iacute; Y học Việt Nam.</p> <p>- Ng&ocirc;n ngữ thể hiện: Tiếng Việt, tiếng Anh.</p> <p>- Kỳ hạn xuất bản: 03 kỳ/th&aacute;ng tiếng Việt v&agrave; 02 kỳ/năm tiếng Anh.</p> <p>- Thời gian ph&aacute;t h&agrave;nh: Ng&agrave;y 15&amp;30 h&agrave;ng th&aacute;ng;</p> <p>- Khu&ocirc;n khổ: 19cmx27cm;</p> <p>- Số trang: 380 trang kỳ tiếng Việt v&agrave; 180 trang kỳ tiếng Anh.</p> <p>&nbsp;</p> vi-VN toasoan@tapchiyhocvietnam.vn (Tạp chí Y học Việt Nam) tiendungvma@gmail.com (Nguyễn Tiến Dũng) Fri, 24 Apr 2026 07:05:58 +0000 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 KẾT QUẢ CA GHÉP HAI PHỔI ĐẦU TIÊN TỪ NGƯỜI HIẾN CHẾT NÃO TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY CHO BỆNH NHÂN XƠ PHỔI VÔ CĂN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17924 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Thông báo kết quả ca ghép hai phổi cho bệnh nhân bệnh xơ phổi vô căn từ người hiến chết não đầu tiên tại Bệnh viện (BV) Chợ Rẫy. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Mô tả trường hợp lâm sàng ca ghép hai phổi được thực hiện vào ngày 7/11/2025 cho bệnh nhân xơ phổi vô căn tại BV Chợ Rẫy. <strong>Kết quả: </strong>Người hiến chết não là bệnh nhân nam, 43 tuổi, bị máu tụ dưới màng cứng. Người nhận là bệnh nhân nam, 39 tuổi, bị xơ phổi vô căn. Cả người hiến và người nhận đều có sự phù hợp về kích thước phổi, nhóm máu O, không có bất thường khi đọ chéo miễn dịch. Ca mổ ghép phổi kéo dài 6 giờ 50 phút. Hậu phẫu, bệnh nhân cai EMO, rút nội khí quản sau 4 ngày. Bệnh nhân nằm viện điều trị theo dõi 3 tuần, sau đó xuất viện. Theo dõi sau hai tháng, bệnh nhân ổn định có thể thực hiện các hoạt động hàng ngày tại nhà. <strong>Kết luận:</strong> Ghép phổi là phẫu thuật phức tạp, cần có sự phối hợp của các chuyên khoa khác nhau để thành công. Thành công bước đầu của ca ghép phổi tại BV Chợ Rẫy đã cho nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức thực hiện qui trình ghép phổi của bệnh viện đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện ghép phổi để phát triển ghép phổi thành một phẫu thuật thường qui trong tương lai.</p> Nguyễn Tri Thức, Nguyễn Hoàng Bình, Châu Phú Thi, Tôn Văn Tài, Nguyễn Quốc Bình, Lâm Quốc Dũng, Nguyễn Văn Nhiều, Lưu Ngân Tâm, Ngô Đức Hiệp, Trần Thanh Linh, Phạm Thị Ngọc Thảo, Thạch Ngọc Hoàng, Dư Thị Ngọc Thu, Phạm Thị Mỹ Lệ, Phạm Thanh Việt Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17924 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN CỦA THÔNG KHÍ NẰM SẤP Ở BỆNH NHÂN BỎNG NẶNG MẮC HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP TIẾN TRIỂN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17925 <p><strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> đánh giá tính an toàn của phương thức thông khí nằm sấp (TKNS) ở bệnh nhân bỏng nặng mắc hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS). <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, theo dõi dọc trên 48 bệnh nhân bỏng người lớn mắc ARDS, điều trị tại Khoa Hồi sức cấp cứu – Bệnh viện Bỏng Quốc gia từ 01/2023–12/2025. Các tai biến, biến chứng trên huyết động, tiêu hóa và liên quan đến thay đổi tư thế, tỳ dè được ghi theo dõi trước và trong TKNS. <strong>Kết quả:</strong> Các chỉ số huyết động (tần số tim, huyết áp trung bình, CVP, CO, CI) thay đổi không có ý nghĩa theo thời gian (p &gt; 0,05). Chỉ số thể tích nhát bóp (SVI) tăng có ý nghĩa tại T<sub>16 </sub>so với T<sub>0</sub> (p = 0,023). Tỷ lệ tai biến, biến chứng thấp: trào ngược dịch dạ dày 12,5%; tuột catheter 2,08%; xô dịch mảnh da ghép 11,11% (1/9 bệnh nhân có ghép da). Biến chứng phổ biến nhất là phù nề vùng mặt (58,33%), tuy nhiên không ghi nhận trường hợp nào bị loét tỳ đè. <strong>Kết luận: </strong>Thông khí nằm sấp là phương thức tương đối an toàn trên bệnh nhân bỏng nặng mắc ARDS, không gây ảnh hưởng bất lợi lên huyết động và tỷ lệ tai biến, biến chứng thấp.</p> Lê Quang Thảo, Nguyễn Như Lâm, Trần Đình Hùng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17925 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TẠO HÌNH KÉO GIÃN PHỨC HỢP TRÁN Ổ MẮT ĐIỀU TRỊ DÍNH KHỚP TRÁN ĐỈNH MỘT BÊN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17926 <p>Phẫu thuật kéo giãn phức hợp trán ổ mắt (FOD) là phương pháp điều chỉnh biến dạng trán ổ mắt từ từ, có kiểm soát, giúp cải thiện tình trạng bất đối xứng giữa khuôn mặt và hộp sọ. <strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Đánh giá kết quả phẫu thuật kéo giãn phức hợp xương trán ổ mắt (FOD) điều trị liền sớm khớp trán đỉnh một bên ở trẻ em. <strong><em>Phương pháp nghiên cứu: </em></strong>Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 11 bệnh nhân được chẩn đoán dính khớp trán đỉnh một bên đơn thuần, được phẫu thuật bằng phương pháp kéo giãn phức hợp xương trán ổ mắt, tại Khoa sọ mặt và tạo hình, Bệnh viện Nhi Trung ương từ 2022-2024. Tất cả bệnh nhân được chụp CT Scanner 3D tại 3 thời điểm: trước khi phẫu thuật, tháo dụng cụ kéo giãn và sau 1 năm. Một dụng cụ kéo giãn duy nhất đặt ngang qua đường khớp dính đã được cắt xương tại vị trí 10 giờ. Xoay kích hoạt kéo giãn từ ngày thứ 2 sau mổ, tần suất 2 lần/ ngày, tốc độ 1mm/ ngày, khi đạt 30mm dừng kích hoạt và lấy bỏ dụng sau 3 tháng. Đánh giá kết quả phẫu thuật, tính đối xứng của khuôn mặt, hình thái ổ mắt và nền sọ. <strong><em>Kết quả nghiên cứu: </em></strong>Phẫu thuật kéo giãn phức hợp xương trán ổ mắt với đường cắt xương cải tiến đã được thực hiện cho 11 bệnh nhân bị dính khớp trán đỉnh một bên. Tuổi mổ trung bình 6,2 ± 3,1tháng, 45,46% có dấu hiệu tăng áp lực nội sọ, thời gian mổ trung bình 119,8±25,5 phút. Theo dõi 1 năm cho thấy sự cải thiện vượt trội ở mọi góc độ trong việc điều chỉnh mất cân đối vùng trán, chênh lệch về thể tích, sự bất đối xứng ở các vùng hốc mắt, mũi và xương bướm sau FOD. Cải thiện mức chênh lệch góc mũi trán ổ mắt: trước mổ 8,7±2,1 độ, giảm xuống 1,5±1,2 độ, ổn định khi tháo dụng cụ 1,2±0,8 độ. Trong thời gian theo dõi tất cả bệnh nhân đều hài lòng với kết quả thẩm mỹ và chức năng. Không xảy ra biến chứng nghiêm trọng nào, một trường hợp rách màng cứng đã được xử lý khâu phục hồi ngay trong mổ. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Phẫu thuật kéo giãn phức hợp xương trán ổ mắt( FOD) có kết quả tốt, bền vững về thẩm mỹ, chức năng, cải thiện đáng kể mức độ đối xứng vùng trán, ổ mắt, sọ mặt. Đây là phương pháp can thiệp ít xâm lấn, khả thi, an toàn, hiệu quả, có thể là phương pháp phẫu thuật được ưu tiên lựa chọn điều trị hẹp sọ dính khớp trán đỉnh một bên. Chỉ áp dụng tại các trung tâm phẫu thuật sọ mặt lớn, có gây mê hồi sức ngoại khoa tốt, phẫu thuật viên được đào tạo bài bản…</p> Đặng Hoàng Thơm, Vũ Ngọc Lâm, Lê Thị Thiên Trang, Dương Huy Lương, Lương Anh Quân Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17926 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI TRONG TIÊU CHẢY Ở TRẺ TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI TẠI TRUNG TÂM NHI KHOA- BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17927 <p><strong><em>Đặt vấn đề: </em></strong>&nbsp;Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có gần 1,7 triệu ca mắc tiêu chảy ở trẻ em và 525.000 trẻ tử vong do tiêu chảy trên toàn cầu. Ở các nước đang phát triển, tiêu chảy vẫn đang là một gánh nặng bệnh tật lớn về mặt sức khỏe cho cộng đồng. Tiêu chảy gây ra những biểu hiện nghiêm trọng về sức khỏe cho trẻ em. Đặc biệt, mất nước và điện giải là những hậu quả thường gặp ở bệnh nhi bị tiêu chảy. Các rối loạn này không chỉ gây ra những biến chứng nguy hiểm như co giật, hôn mê, sốc, suy thận... mà còn là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong do tiêu chảy ở trẻ em. Do đó, theo dõi điện giải đồ ở các bệnh nhi bị tiêu chảy là vấn đề cần được chú trọng.<strong> <em>Mục tiêu nghiên cứu:</em> </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng và tình trạng rối loạn điện giải trong tiêu chảy ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến rối loạn điện giải trong tiêu chảy ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi. <strong><em>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</em></strong> trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi nhập viện vì tiêu chảy tại Trung tâm Nhi khoa- Bệnh viện TW Huế từ tháng 04/2025 đến tháng 12/2025. <strong><em>Kết quả: </em></strong>Qua nghiên cứu 121 bệnh nhi mắc tiêu chảy tại khoa Nhi Tiêu hóa – Tiết niệu – Bệnh nhiệt đới bệnh viện Trung ương Huế, chúng tôi có một số kết luận sau: bệnh thường gặp ở lứa tuổi ≤ 6 tháng (38,0%). Bệnh gặp ở trẻ nam (52,9%) cao hơn trẻ nữ (47,1%). Đa số trẻ mắc bệnh không SDD (83,5%). Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng<em>: </em>Thời gian tiêu chảy: &lt; 7 ngày chiếm 75,2%, 7 - &lt; 14 ngày chiếm 9,1%, ≥ 14 ngày chiếm 15,7%. Đa phần phân không máu chiếm 68,6%. Sốt và nôn là hai triệu chứng thường gặp nhất ở trẻ tiêu chảy, với tỉ lệ lần lượt là 49,6% và 42,1%. Phân loại tiêu chảy: tiêu chảy cấp chiếm 59,5%, tiêu chảy kéo dài chiếm 9,1% và lỵ chiếm 31,4%. Tình trạng mất nước: không mất nước chiếm 86%, có mất nước chiếm 13,2%, mất nước nặng 0,8%.&nbsp; Nồng độ Na<sup>+</sup>: tăng chiếm 0,8%, bình thường chiếm 92,6%, giảm chiếm 6,6%. Nồng độ K<sup>+</sup>: tăng chiếm 2,4%, bình thường chiếm 89,3%, giảm chiếm 8,3%. <strong><em>Kết luận:</em></strong> Có sự liên quan giữa nồng độ Na<sup>+</sup> với tình trạng dinh dưỡng, tình trạng mất nước và bổ sung ORS tại nhà. Có sự liên quan giữa nồng độ K<sup>+</sup> với tình trạng dinh dưỡng, thời gian tiêu chảy, tính chất phân và tình trạng nôn.</p> Phạm Võ Phương Thảo, Nguyễn Thị Cự, Nguyễn Thị Thanh Bình, Lê Thị Mai Anh, Trần Thị Hạnh Chân Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17927 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KHẢO SÁT MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC CHỈ SỐ CÔNG THỨC MÁU VÀ CÁC TỈ SỐ VIÊM DẪN XUẤT (NLR, PLR, SII) VỚI MỨC LỌC CẦU THẬN ƯỚC TÍNH VÀ NỒNG ĐỘ ACID URIC MÁU Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17928 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát mối liên quan giữa các chỉ số công thức máu và các tỉ số viêm dẫn xuất (NLR, PLR, SII) với mức lọc cầu thận ước tính (MLCT) và nồng độ acid uric máu ở bệnh nhân đái tháo đường có bệnh thận đái tháo đường (DKD). <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 201 DKD/236 không DKD được khám và điều trị ngoại trú từ tháng 04/10/2025 tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn. Bệnh nhân được phân thành nhóm có bệnh thận đái tháo đường (ACR ≥ 30mg/g và/hoặc MLCT &lt; 60 ml/phút/1,73 m²) nhóm không bệnh thận. Các chỉ số công thức máu, NLR, PLR, SII, MLCT và acid uric máu được phân tích mối liên quan bằng tương quan và hồi quy logistic đơn biến; giá trị phân biệt được đánh giá bằng đường cong ROC. <strong>Kết quả:</strong> Nhóm bệnh thận đái tháo đường có MLCT thấp hơn và nồng độ acid uric máu cao hơn so với nhóm không bệnh thận. Bạch cầu toàn phần và chỉ số SII tăng cao, trong khi tỷ lệ lymphocyte giảm. Bạch cầu toàn phần và SII tương quan nghịch có ý nghĩa với MLCT. Acid uric máu tương quan nghịch với MLCT và tương quan thuận với bạch cầu toàn phần. Phân tích ROC cho thấy bạch cầu toàn phần, NLR và SII có khả năng phân biệt suy giảm MLCT ở mức trung bình. <strong>Kết luận:</strong> Các chỉ số viêm dẫn xuất từ công thức máu, đặc biệt là bạch cầu toàn phần và SII, có liên quan với suy giảm chức năng thận và có thể hỗ trợ sàng lọc bệnh thận đái tháo đường trong thực hành lâm sàng.</p> Cao Lệ Diễm, Trần Thị Thu Hương, Đoàn Minh Thụy, Nguyễn Đức Long Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17928 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 MỐI LIÊN QUAN GIỮA TỶ LỆ CREATININE/CYSTATIN C VỚI TỔN THƯƠNG THẬN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17929 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Bệnh thận đái tháo đường là một trong những biến chứng vi mạch thường gặp nhất và là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh thận mạn giai đoạn cuối ở bệnh nhân đái tháo đường. Việc đánh giá sớm tổn thương thận có ý nghĩa quan trọng trong quản lý và tiên lượng bệnh. Tỷ lệ creatinine/cystatin C (Cre/CysC) được đề xuất như một chỉ dấu sinh học tích hợp, phản ánh đồng thời khối lượng cơ và chức năng thận. <strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát mối liên quan giữa tỷ lệ creatinine/cystatin C và tổn thương thận ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 124 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Quân y 175. Tỷ lệ Cre/CysC được tính từ nồng độ creatinine và cystatin C huyết thanh. Tổn thương thận được đánh giá thông qua chỉ số albumin/creatinine niệu (ACR, mg/mmol) và mức lọc cầu thận ước tính (eGFR). Mối liên quan giữa Cre/CysC và ACR được phân tích bằng tương quan Spearman và hồi quy tuyến tính đa biến. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ Cre/CysC có mối tương quan thuận mức độ mạnh với ACR (r = 0,80; p &lt; 0,05). Trong mô hình hồi quy đa biến, Cre/CysC vẫn là yếu tố liên quan độc lập với ACR (B = 0,20; β = 0,40; p &lt; 0,05), sau khi hiệu chỉnh các yếu tố liên quan. Huyết áp tâm trương cũng liên quan độc lập với ACR (p &lt; 0,05). <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ Cre/CysC có mối liên quan chặt chẽ với albumin niệu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 và có thể phản ánh tổn thương thận sớm. Chỉ số này có tiềm năng ứng dụng như một công cụ bổ trợ trong đánh giá nguy cơ bệnh thận đái tháo đường.</p> Lê Quốc Tuấn, Đoàn Trúc Quỳnh, Nguyễn Tấn Đức, Nguyễn Thanh Trang, Tăng Mỹ Ngân Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17929 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ỨNG DỤNG VẬT LIỆU HỖ TRỢ CẦM MÁU CHỨA YẾU TỐ THROMBIN TRONG PHẪU THUẬT XUẤT HUYẾT NÃO TỰ PHÁT https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17930 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tỷ lệ tái xuất huyết sau phẫu thuật xuất huyết não tự phát có sử dụng vật liệu hỗ trợ cầm máu chứa yếu tố thrombin và xây dựng quy trình sử dụng vật liệu hỗ trợ cầm máu chứa yếu tố thrombin trong phẫu thuật xuất huyết não tự phát tại Bệnh viện Chợ Rẫy. <strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu hồi cứu mô tả 27 trường hợp có ứng dụng vật liệu hỗ trợ cầm máu chứa yếu tố thrombin trong phẫu thuật xuất huyết não tự phát tại khoa Ngoại Thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 1/2024 đến 2/2025. <strong>Kết quả:</strong> Đặc điểm dịch tễ học: tuổi trung bình là 50,1 ± 13,8 với tỷ số nam : nữ xấp xỉ 3,5 : 1. Có 23 trường hợp có tăng huyết áp (chiếm 85,2 %) trước đó. Triệu&nbsp; chứng lâm sàng trước phẫu thuật, có 25 trường hợp đạt điểm tri giác 5 – 12 điểm (92,6 %), 2 trường hợp đạt điểm tri giác 13 (7,4 %) và không trường hợp nào dưới 5 điểm. Thời gian phẫu thuật sớm trước 48 giờ có 21 trường hợp (chiếm gần 80%). Đặc điểm hình ảnh trong 27 trường hợp xuất huyết vùng bao trong – hạch nền, có 4 trường hợp lan rộng vào vùng đồi thị (chiếm 14,8 %), 8 trường hợp lan ra vùng thùy não (chiếm 29,6 %) và 11 trường hợp lan vào não thất (chiếm 40,7 %). Trong lúc phẫu thuật, lượng máu mất trung bình 474,1 <u>+</u> 259,2 ml. Thời gian phẫu thuật trung bình là 233,1 <u>+</u> 62,9 phút. Điểm xuất huyết định tính, trước khi dùng vật liệu hỗ trợ cầm máu chứa yếu tố thrombin (M = 1,3 và SD = 0,5) cao hơn so với sau khi dùng vật liệu này (M = 0,1 và SD = 0,2). Sau phẫu thuật, có 1 trường hợp tái xuất huyết (chiếm 3,7 %) và chưa có bất thường nào khác được ghi nhận. <strong>Kết luận:</strong> Ứng dụng vật liệu hỗ trợ cầm máu tại chỗ chứa yếu tố thrombin trong phẫu thuật xuất huyết não tự phát thì an toàn, hiệu quả giúp làm giảm tỷ lệ tái xuất huyết và từ đó có thể rút ngắn thời gian nằm viện cũng như giảm gánh nặng kinh tế y tế.</p> Tô Mạnh Tùng, Đỗ Hồng Hải, Trần Thiện Khiêm Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17930 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 TỐI ƯU HÓA QUY TRÌNH HÓA MÔ MIỄN DỊCH VỚI DẤU ẤN CHẤT NHẦY (MUC2, MUC5AC, MUC6) VÀ CD10 TRONG CARCINÔM TUYẾN DẠ DÀY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17931 <p><strong>Mở đầu: </strong>Trong carcinôm tuyến dạ dày, phân loại kiểu hình chất nhầy là một trong những tiêu chuẩn quan trọng cần được đánh giá trong chẩn đoán, tiên lượng và điều trị. Biểu hiện các dấu ấn chất nhầy (gồm MUC2, MUC5AC, MUC6) và CD10 bằng kỹ thuật hóa mô miễn dịch đã được xác định và ứng dụng trong chẩn đoán ở các phòng xét nghiệm giải phẫu bệnh hiện đại và đã được đồng thuận ứng dụng lâm sàng trên thế giới. Tuy nhiên, tại Việt Nam ứng dụng phân loại kiểu hình chất nhầy vẫn chưa được hiểu rõ và quan tâm. Vì vậy, cùng với các nghiên cứu đang thực hiện, việc xây dựng và tối ưu hóa quy trình hóa mô miễn dịch cho các dấu ấn này rất quan trọng trong thiết lập mô hình chẩn đoán và xây dựng cơ sở dữ liệu trên nghiên cứu ung thư dạ dày tại Việt Nam. <strong>Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu thực nghiệm tại Bộ môn Mô Phôi – Giải Phẫu Bệnh, Trường Y, Đại học Y Dược TP.HCM và Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ tháng 11/2025 – 12/2025. <strong>Kết quả: </strong>Trong nghiên cứu của chúng tôi, tối ưu hóa quy trình hóa mô miễn dịch với MUC2 (MUC2 monoclonal antibody, 1:200) cho thấy thời gian bộc lộ kháng nguyên là 40 phút, trong khi đó MUC5AC (Gastric Mucin, monoclonal antibody CLH2, 1:200) và MUC6 (Gastric Mucin 6 monoclonal antibody CLH5, 1:200) có thời gian bộc lộ kháng nguyên là 45 phút. Việc tăng nồng độ kháng thể CD10 (anti-CD10 antibody 56C6) từ 1:80 đến 1:50 trong khi duy trì thời gian bộc lộ kháng nguyên 45 phút giúp hình ảnh mô học bắt màu bờ bàn chải tế bào hấp thu niêm mạc ruột non (chứng dương) tương phản, sắc nét với màu DAB. Các vị trí âm tính hoàn toàn với các dấu ấn miễn dịch (chứng âm) trên dạ dày và ruột non đều không có hiện tượng bắt màu không đặc hiệu. Nền không có hiện tượng bám màu DAB. <strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu đã tối ưu hóa thành công quy trình hóa mô miễn dịch các dấu ấn chất nhầy gồm MUC2, MUC5AC, MUC6, CD10 trên mẫu FFPE ở ruột non và dạ dày.</p> Lưu Thị Thu Thảo, Vương Huỳnh Linh Thy, Hoàng Hạnh Dung, Huỳnh Trung Hiếu, Nguyễn Ngọc Lâm, Võ Thị Ngọc Diễm Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17931 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 TÌNH TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN VIÊM MŨI XOANG MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TP. HỒ CHÍ MINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17932 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Viêm mũi xoang mạn tính (VMXMT) là bệnh tai mũi họng phổ biến, làm giảm chất lượng sống và gây gánh nặng kinh tế – xã hội. Tuân thủ điều trị đóng vai trò then chốt trong kiểm soát triệu chứng, nhưng có xu hướng giảm theo thời gian và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố xã hội – kinh tế. <strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị ở bệnh nhân VMXMT sau 3 tháng và 6 tháng điều trị, và phân tích các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả dọc trên 72 bệnh nhân VMXMT điều trị tại khoa Mũi Xoang từ 10/2024 đến 05/2025, theo dõi tại các mốc 3 và 6 tháng; 68 bệnh nhân hoàn tất theo dõi được đưa vào phân tích cuối cùng. Tuân thủ điều trị được đánh giá bằng thang điểm Morisky 8 mục (MMAS-8), chia thành tuân thủ cao (8 điểm), trung bình (6–7 điểm) và thấp (&lt;6 điểm); nghiên cứu sử dụng ngưỡng cắt 6 điểm để phân loại tuân thủ và không tuân thủ. Các biến độc lập gồm: tuổi, giới, trình độ học vấn, khoảng cách đến cơ sở y tế, tình trạng kinh tế, hỗ trợ gia đình, đặc điểm thuốc điều trị. <strong>Kết quả: </strong>Kết quả: Sau 3 tháng điều trị, 92,6% (63/68) bệnh nhân tuân thủ, tỷ lệ này giảm còn 63,2% (43/68) sau 6 tháng (p &lt; 0,05). Ở thời điểm 3 tháng, không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ tuân thủ và các đặc điểm nhân khẩu học hay kinh tế – xã hội. Đến thời điểm 6 tháng, trình độ học vấn cao hơn, khoảng cách đến bệnh viện ngắn hơn và tình trạng kinh tế khá hơn có liên quan có ý nghĩa với tuân thủ điều trị tốt, trong khi tuổi, giới và sự hỗ trợ từ gia đình không cho thấy mối liên quan đáng kể. <strong>Kết luận:</strong> Tuân thủ điều trị ở bệnh nhân VMXMT rất cao trong 3 tháng đầu nhưng suy giảm đáng kể sau 6 tháng. Các yếu tố xã hội – kinh tế (trình độ học vấn, khoảng cách địa lý, tình trạng kinh tế) có ảnh hưởng rõ rệt đến tuân thủ dài hạn. Các can thiệp củng cố giáo dục sức khỏe, hỗ trợ chi phí và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cần được ưu tiên để duy trì tuân thủ điều trị.</p> Nguyễn Thành Tuấn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17932 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 THAY ĐỔI LỰC CẮN VÀ THỜI GIAN CẮN CỦA PHỤC HÌNH CỐ ĐỊNH TRÊN IMPLANT VÙNG RĂNG SAU ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ BẰNG HỆ THỐNG PHÂN TÍCH KHỚP CẮN SỐ HÓA T-SCAN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17935 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả sự thay đổi lực cắn và thời gian cắn của phục hình cố định trên Implant vùng răng sau tại các thời điểm trước và sau lắp phục hình bằng hệ thống T-Scan.<strong> Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh được thực hiện trên các người bệnh mất răng vùng răng sau, được phục hình cố định trên Implant tại Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt trong giai đoạn 2024–2025. Lực cắn (occlusal force – OF) và thời gian cắn (occlusal time – OT) được ghi nhận bằng hệ thống T-Scan tại các thời điểm: trước khi lắp phục hình (T0), ngay sau lắp (T1), sau 3 tháng (T2) và sau 6 tháng (T3). Các chỉ số được phân tích mô tả và so sánh sự thay đổi theo thời gian.<strong> Kết quả: </strong>Có 38 người bệnh với 41 đơn vị phục hình Implant đủ tiêu chuẩn được đưa vào nghiên cứu. Lực cắn tại vị trí phục hình trên Implant có xu hướng tăng dần theo thời gian theo dõi, trong khi thời gian cắn khớp giảm dần sau khi lắp phục hình. Sự phân bố lực cắn giữa hai bên cung hàm có xu hướng cân bằng hơn ở các thời điểm sau lắp phục hình. Hệ thống T-Scan cho phép phát hiện và theo dõi sự thay đổi lực cắn mà các phương pháp đánh giá khớp cắn truyền thống khó ghi nhận.<strong> Kết luận: </strong>Lực cắn và thời gian cắn của phục hình cố định trên Implant vùng răng sau có sự thay đổi theo thời gian sau lắp phục hình. Hệ thống phân tích khớp cắn số hóa T-Scan là công cụ hữu ích trong việc đánh giá và theo dõi sự thích nghi khớp cắn của phục hình Implant trong thực hành lâm sàng.</p> Hoàng Kim Loan, Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Việt Hải, Hoàng Đình Âu, Hà Thùy Dung Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17935 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU KIỂU HÌNH MIỄN DỊCH VÀ CHỨC NĂNG CỦA TẾ BÀO NK MÁU NGOẠI VI Ở BỆNH NHÂN XƠ GAN RƯỢU https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17936 <p><strong><em>Giới thiệu chung và mục tiêu: </em></strong>Xơ gan rượu là giai đoạn tiến triển cuối cùng của bệnh gan do rượu. Tế bào giết tự nhiên (NK) có chức năng chống xơ gan thông qua hoạt tính gây độc và chế tiết interferon-gamma (IFN-γ). Nghiên cứu này đánh giá đặc điểm kiểu hình và chức tế bào NK máu ngoại vi ở bệnh nhân xơ gan rượu.<strong><em> Phương pháp: </em></strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang 15 bệnh nhân xơ gan rượu và 15 người khỏe mạnh. Tỷ lệ, số lượng, hoạt tính gây độc của tế bào NK, biểu lộ thụ thể NKG2A và NKG2D được thu thập, sử dụng công cụ phân tích tế bào dòng chảy. Hoạt tính chế tiết được thu thập thông qua định lượng nồng độ IFN-γ bằng bộ kít NK-VUE. <strong><em>Kết quả</em></strong>: Số lượng và tỷ lệ tế bào NK không khác biệt giữa hai nhóm. Hoạt tính gây độc và hoạt tính chế tiết của tế bào NK ở bệnh nhân xơ gan rượu giảm so với nhóm chứng. Tế bào NK nhóm xơ gan rượu cho thấy tăng biểu lộ thụ thể ức chế NKG2A và giảm biểu lộ thụ thể hoạt hóa NKG2D.<strong><em> Kết luận</em></strong>: Tế bào NK máu ngoại vi ở bệnh nhân xơ gan rượu suy giảm chức năng gây độc và chế tiết IFN-γ, có thay đổi mức độ biểu lộ thụ thể hoạt hoá và ức chế.</p> Phùng Thế Hải, Doãn Hà Trang, Nguyễn Hoàng Phương, Trịnh Ngọc Linh, Hoàng Trung Kiên, Nguyễn Ngọc Tuấn, Nguyễn Đặng Dũng, Vũ Giang, Dương Quang Huy, Đỗ Khắc Đại Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17936 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 XÁC ĐỊNH TẦN SUẤT PHÂN LẬP VÀ MỨC ĐỘ NHẠY CẢM VỚI KHÁNG SINH CỦA ESCHERICHIA COLI PHÂN LẬP TỪ CÁC BỆNH PHẨM KHÁC NHAU TẠI MEDLATEC (2022 - 2024) https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17937 <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Xác định tần suất phân lập và đặc điểm nhạy cảm với kháng sinh của các chủng <em>E. coli </em>phân lập từ các bệnh phẩm khác nhau tại Medlatec (2022-2024). <strong><em>Đối tượng và phương pháp</em></strong><em>: </em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 34.983 mẫu bệnh phẩm khác nhau trong thời gian từ 01/2022 đến12/2024 tại Trung tâm xét nghiệm, Hệ thống Y tế Medlatec (Việt Nam). Vi khuẩn <em>E. coli </em>được phân lập từ các bệnh phẩm bằng cách nuôi cấy trên môi trường thạch máu. Xác định loài và mức độ nhạy cảm với kháng sinh được thực hiện trên máy Vitek 2 Compact. Kết quả kháng sinh đồ được phiên giải dựa theo tài liệu M100 của Viện kiểm chuẩn lâm sàng và xét nghiệm (Mỹ). Chủng chuẩn <em>E. coli</em> ATCC 25922 được sử dụng làm chủng tham chiếu. <strong><em>Kết quả</em></strong><em>: </em>Trong số 34.983 mẫu bệnh phẩm, có 2.329 mẫu dương tính với <em>E. coli </em>(6,7%)<em>. </em>Vi khuẩn <em>E. coli </em>đề kháng cao với các kháng sinh ampicillin (86,6%), trimethoprim/ sulfamethoxazole (69,8%) và ciprofloxacin (&gt;65%). <em>E. coli </em>còn nhạy cảm với carbapenem, amikacin và fosfomycin (&gt;96% nhạy cảm). Tỷ lệ đa kháng và kháng mở rộng dao động từ 51,5% đến 57,4% và từ 8,3% đến 17,6%. <strong><em>Kết luận: </em></strong><em>E. coli </em>kháng cao với nhiều kháng sinh phổ biến. Tình trạng đa kháng và kháng mở rộng ở <em>E. coli </em>gặp khá phổ biến đặt ra vấn đề cần tăng cường hoạt động giám sát và quản lý kháng sinh của vi khuẩn này.</p> Trần Thị Khánh Linh, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Huy Vinh, Vũ Lan Anh, Trịnh Thị Quế, Phạm Văn Ngãi, Nguyễn Thái Sơn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17937 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG Ở TRẺ SỐC SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI THỜI ĐIỂM VÀO SỐC: MỘT NGHIÊN CỨU MÔ TẢ CẮT NGANG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17938 <p><strong><em>Đặt vấn đề: </em></strong>Sốc sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là biểu hiện nặng nhất của bệnh, đặc trưng bởi thoát huyết tương cấp và rối loạn huyết động, đòi hỏi nhận diện và theo dõi sát ngay từ thời điểm vào sốc. Việc mô tả các đặc điểm dịch tễ, nhân trắc và cận lâm sàng tại thời điểm này có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá mức độ nặng và định hướng xử trí. <strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng ở trẻ sốc SXHD tại thời điểm vào sốc. <strong><em>Đối tượng và phương pháp: </em></strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu, thực hiện trên 96 trẻ &lt;16 tuổi được chẩn đoán sốc SXHD tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang từ 07/2023–07/2025. Các biến số được thu thập tại thời điểm vào sốc bao gồm đặc điểm dịch tễ–nhân trắc, lâm sàng và cận lâm sàng (huyết học, lactate máu, khí máu động mạch, men gan và siêu âm tràn dịch). <strong><em>Kết quả: </em></strong>Tuổi trung bình là 11,2±2,7, nhóm 6–12 tuổi chiếm 59,4%, nam 57,3%, và thừa cân–béo phì 49,0%. Sốc xảy ra chủ yếu vào ngày bệnh 4–5 (84,4%); 76,0% là sốc SXHD và 24,0% sốc SXHD nặng. Tại thời điểm vào sốc, bệnh nhi có Hct 49,1±4,0%, bạch cầu 4.270±2.063/mm³, tiểu cầu 35.960±17.451/mm³, lactate 2,7±1,4 mmol/L. Khí máu động mạch cho thấy rối loạn kiềm–toan hỗn hợp mức độ nhẹ (PaCO₂ 29,9±5,2 mmHg; HCO₃⁻ 19,3±3,1 mmol/L; BE −5,2±3,4 mmol/L). Men gan tăng với AST trội hơn ALT (192,5±281,8 U/L so với 90,9±135,4 U/L). Siêu âm ghi nhận tràn dịch màng bụng chủ yếu mức độ nhẹ và trung bình (92,7%). <strong><em>Kết luận: </em></strong>Trẻ sốc SXHD tại thời điểm vào sốc chủ yếu thuộc nhóm tuổi học đường, có tỷ lệ thừa cân–béo phì cao và biểu hiện cận lâm sàng đặc trưng gồm cô đặc máu, giảm tiểu cầu, tăng lactate, rối loạn kiềm–toan nhẹ và thoát huyết tương. Các kết quả này phản ánh rõ sinh lý bệnh của sốc SXHD và nhấn mạnh vai trò của đánh giá toàn diện ngay khi vào sốc để tối ưu hóa theo dõi và điều trị.</p> Ngô Trọng Khánh, Nguyễn Thành Nam, Tạ Văn Trầm Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17938 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỦA TỔN THƯƠNG KHÔNG TẠO KHỐI TRÊN X-QUANG SỐ HÓA CẮT LỚP TUYẾN VÚ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17940 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>X quang số hóa cắt lớp tuyến vú (DBT) ra đời có thể được khắc phục được những hạn chế của X quang số hóa tuyến vú, có thể phân biệt rõ các cấu trúc giải phẫu của tuyến vú và giảm chồng hình nhu mô tuyến, làm tăng cả độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán ung thư vú. <strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm hình ảnh của tổn thương không tạo khối trên X- Quang số hóa cắt lớp tuyến vú. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu hồi cứu cắt ngang mô tả trên 70 bệnh nhân (BN) có tổn thương vú dạng vi vôi hóa nghi ngờ, xáo trộn cấu trúc, bất đối xứng khu trú trên DBT, có hoặc không có kết quả giải phẫu bệnh. Mô tả đặc điểm hình ảnh sang thương và phân loại sang thương vú trên DBT. <strong>Kết quả: </strong>Mẫu nghiên cứu có tuổi trẻ nhất là 28 tuổi, lớn nhất là 72 tuổi<strong>, </strong>mật độ mô vú đặc (loại C, D) chiếm tỉ lệ cao với mật độ mô vú loại C chiếm tỉ lệ cao nhất 97,1% và tỉ lệ loại D là 2,9%, dấu hiệu thường gặp nhất là tổn thương dạng bất đối xứng 45,7%, sau đó đến xáo trộn cấu trúc với 40%, vôi hóa nghi ngờ ác tính 14,3% với tổn thương vi vôi dạng đa dạng, mảnh chiếm tỉ lệ cao nhất 70%, tổn thương vi vôi phân bố dạng cụm chiếm tỉ lệ cao nhất với 60 % trường hợp.<strong> Kết luận:</strong> Tổn thương không tạo khối trên DBT gồm các dạng vi vôi hóa nghi ngờ, xáo trộn cấu trúc, bất đối xứng khu trú.</p> Lê Văn Phước, Võ Thị Thúy Hằng, Phạm Ngọc Hoa, Trần Anh Thư Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17940 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG NỘI SOI TĂNG CƯỜNG HÌNH ẢNH IMAGE1 S TRONG CHẨN ĐOÁN SANG THƯƠNG HẠ HỌNG, THANH QUẢN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17941 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát các hình thái bề mặt và thay đổi mạch máu của sang thương niêm mạc hạ họng, thanh quản. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu cắt ngang mô tả loạt ca, thu thập số liệu bằng nội soi họng 46 BN có sang thương họng, thanh quản với máy nội soi Storz (SPIES) Image1 S tại PKĐK Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 12 năm 2022. <strong>Kết quả: </strong>Hình thái bề mặt sang thương thường găp nhất là u hạt với 19 trường hợp (41,3%), tiếp đó là phù nề (17,3%) và dày niêm (15,2%), và một số hình thái khác. Hình thái mạch máu loại I (theo L. Staníková) chiếm 87%, loại II (10,9%), loại IV (2,1%). <strong>Kết luận: </strong>Chế độ spectra A và B giúp phát hiện các hình thái mạch máu bất thường tại sang thương, kết hợp với sự thay đổi hình thái bề mặt nhằm phân biệt các sang thường lành tính hay nghi ngờ ác tính.</p> Nguyễn Duy Quốc Khánh, Nguyễn Đức Bảo, Nguyễn Quang Vinh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17941 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHÊNH LỆCH eGFR DỰA TRÊN CREATININE VÀ CYSTATIN C VỚI TÌNH TRẠNG THIỂU CƠ Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17942 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Thiểu cơ (sarcopenia) thường gặp và gây kết cục xấu ở bệnh nhân CKD. Chênh lệch eGFRdiff = eGFRcys − eGFRcr có thể phản ánh gián tiếp tình trạng cơ xương. Nghiên cứu nhằm khảo sát mối liên quan giữa eGFRdiff và các chỉ số đánh thiểu cơ ở bệnh nhân CKD. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang trên 101 bệnh nhân CKD giai đoạn 1–5. Khối lượng cơ (SMI, ASM) được đo bằng BIA; sức mạnh cơ bằng lực bóp tay và hiệu năng vận động bằng tốc độ đi bộ. Thiểu cơ xác định theo tiêu chuẩn AWGS 2019[1]. <strong>Kết quả:</strong> Trung vị eGFRdiff là −5,0 mL/phút/1,73 m². Nhóm bệnh nhân có eGFRdiff ≥ −5 có ASM và lực bóp tay cao hơn có ý nghĩa (p &lt; 0,05). Ở nhóm bệnh nhân có BMI ≥ 23 kg/m², eGFRdiff tương quan thuận với SMI (r = 0,262; p = 0,043) và lực bóp tay (r = 0,273; p = 0,035). Lực bóp tay là yếu tố liên quan độc lập với eGFRdiff &lt; −5 (OR = 0,911; p = 0,044, AUC = 0,7028). <strong>Kết luận:</strong> eGFRdiff liên quan với khối lượng và sức mạnh cơ là chỉ số gián tiếp, đơn giản, hỗ trợ sàng lọc sớm nguy cơ giảm khối cơ ở bệnh nhân CKD.</p> Đoàn Trúc Quỳnh, Trần Công Hậu, Tăng Mỹ Ngân, Trần Trương Trung Tính, Hồ Thị Ngọc Bích, Lê Quốc Tuấn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17942 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CAO TUỔI SAU ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO: NGHIÊN CỨU MÔ TẢ CẮT NGANG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17943 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Đột quỵ nhồi máu não có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (CLCS) ở người cao tuổi. Việc xác định các yếu tố liên quan đến CLCS có ý nghĩa quan trọng trong định hướng chăm sóc và phục hồi chức năng sau đột quỵ. <strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá CLCS và xác định các yếu tố liên quan đến CLCS ở người cao tuổi sau đột quỵ nhồi máu não. <strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 146 người cao tuổi sau một tháng mắc đột quỵ nhồi máu não. CLCS được đánh giá bằng thang đo EQ-5D-5L. Các yếu tố chức năng (ADL, IADL), trầm cảm, mức độ nặng đột quỵ (NIHSS), số bệnh đi kèm, chất lượng giấc ngủ và hỗ trợ gia đình được thu thập. Phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến và đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan đến CLCS. <strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình của người tham gia là 79,13 ± 10,65 tuổi; 56,2% là nam. Người bệnh gặp khó khăn đáng kể ở tất cả các lĩnh vực của EQ-5D-5L, đặc biệt là khả năng đi lại, tự chăm sóc và các hoạt động sinh hoạt thông thường. Trong phân tích đơn biến, chất lượng giấc ngủ tốt liên quan đến CLCS cao hơn. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy mức độ độc lập trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày cơ bản và có tính công cụ liên quan độc lập với CLCS cao hơn, trong khi các triệu chứng trầm cảm liên quan độc lập với CLCS thấp hơn. Mức độ nặng đột quỵ và số bệnh đi kèm không cho thấy mối liên quan độc lập với CLCS. <strong>Kết luận: </strong>Ở người cao tuổi sau đột quỵ nhồi máu não, khả năng độc lập chức năng và trầm cảm là những yếu tố liên quan quan trọng nhất đến CLCS. Các can thiệp tập trung vào phục hồi chức năng và sàng lọc, can thiệp sớm trầm cảm có thể góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho nhóm người bệnh này.</p> Vũ Thu Hương, Nguyễn Thị Tú Hảo, Hồ Hoàng Dung, Nguyễn Danh Cường Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17943 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM NHIỄM KHUẨN ĐA KHÁNG KHÁNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN BỎNG NẶNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17944 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nhận xét đặc điểm nhiễm khuẩn đa kháng kháng sinh trên bệnh nhân bỏng nặng. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> 131 bệnh nhân bỏng nặng điều trị tại khoa Hồi sức Cấp cứu, Bệnh Viện Bỏng Quốc Gia Lê Hữu Trác từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2023, với 321 mẫu vết thương, 305 mẫu nước tiểu và 118 mẫu máu. <strong>Kết quả:</strong>&nbsp; Có 37,38% mẫu vết thương mọc vi khuẩn, chủ yếu là vi khuẩn gram âm (81,97%), nhiều nhất là<em> Pseudomonas aeruginosa </em>(41,80%), tiếp đến là <em>Acinetobacter baumannii </em>(27,05%). Các vi khuẩn phần lớn là vi khuẩn đa kháng kháng sinh, cao nhất là <em>Acinetobacter baumannii</em> và<em> Enterobacteriaceae (lần lượt là 93,94% và 91,67%). </em>Trong 118 mẫu máu, có 43 mẫu mọc vi khuẩn (chiếm 36,44%), phần lớn là vi khuẩn gram âm (72,34%), nhiều nhất là<em> Pseudomonas aeruginosa </em>(36,17%), tiếp đến là <em>Acinetobacter baumannii </em>(27,66%). 100% các vi khuẩn <em>Acinetobacter baumannii, Pseudomonas aeruginosa, Enterobacteriaceae </em>và <em>Staphylococcus spp.</em> là vi khuẩn đa kháng kháng sinh. Có 6,89% mẫu nước tiểu mọc vi khuẩn, vi khuẩn đa kháng chiếm phần lớn (80,95%). Tất cả các thời điểm cấy khuẩn sau bỏng đều mọc chủ yếu là vi khuẩn gram âm ở bệnh phẩm vết thương, máu và nước tiểu. <strong>Kết luận:</strong> Tất cả các thời điểm cấy khuẩn sau bỏng đều mọc chủ yếu là vi khuẩn gram âm ở bệnh phẩm vết thương, máu và nước tiểu; phần lớn là các vi khuẩn đa kháng kháng sinh.</p> Lê Quốc Vương, Nguyễn Như Lâm, Lê Đức Mẫn, Trần Đình Hùng, Ngô Tuấn Hưng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17944 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 HIỆU QUẢ CÔNG CỤ THEO DÕI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TỪ XA GIÚP CẢI THIỆN KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 NGOẠI TRÚ: BÁO CÁO LOẠT CA https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17945 <p>Kiểm soát đường huyết là yếu tố then chốt trong quản lý đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2 nhằm giảm nguy cơ biến chứng và cải thiện chất lượng sống. Tại các nước thu nhập trung bình, vẫn còn 43,2%–55,6% bệnh nhân chưa đạt được mục tiêu HbA1c dưới 7%, chủ yếu do hạn chế trong tiếp cận dịch vụ y tế và kém tuân thủ điều trị. Theo dõi và tư vấn từ xa đã nổi lên như những chiến lược tiềm năng hỗ trợ quản lý bệnh hiệu quả hơn. <strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả của một chương trình quản lý ĐTĐ từ xa thông qua nền tảng OneMedic ở nhóm bệnh nhân ngoại trú. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca được thực hiện trên 5 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM. Tất cả tham gia chương trình can thiệp kéo dài 12 tuần sử dụng nền tảng OneMedic, bao gồm theo dõi và tư vấn từ xa định kỳ hai tuần một lần với nhân viên y tế. Dữ liệu được thu thập trước và sau can thiệp để đánh giá hiệu quả chương trình. <strong>Kết quả:</strong> Năm bệnh nhâm nam (tuổi trung bình: 39, thời gian mắc ĐTĐ trung bình: 4,2 năm) đang điều trị phối hợp 2-4 nhóm thuốc viên hạ đường huyết, với mức HbA1c trung bình ban đầu là 9,1%. Sau 12 tuần, HbA1c trung bình giảm 1,17%. Ngoài ra, ghi nhận sự cải thiện ở các chỉ số như đường huyết đói, triglyceride, LDL-C, cân nặng và một số khía cạnh trong chất lượng cuộc sống. Không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng hay trường hợp bỏ cuộc nào. <strong>Kết luận:</strong> Theo dõi và tư vấn đái tháo đường từ xa thông qua nền tảng OneMedic cho thấy tiềm năng trong việc cải thiện kiểm soát đường huyết, lipid máu cũng như chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 ngoại trú. Nghiên cứu sơ khởi này là cơ sở cho các nghiên cứu quy mô lớn hơn trong tương lai.</p> Lê Nhật Trường, Trần Viết Thắng, Trần Quang Nam Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17945 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ PHỔI TRƯỚC PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN PHẠM NGỌC THẠCH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17946 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở người bệnh ung thư phổi trước phẫu thuật tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang trên 110 người bệnh ung thư phổi (UTP) chuẩn bị phẫu thuật. Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp và hồ sơ bệnh án. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng BMI, albumin huyết thanh, và PG-SGA. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở người bệnh ung thư phổi trước phẫu thuật rất cao, trong đó đánh giá theo PG-SGA cho thấy 78,2% người bệnh bị SDD, gồm 67,3% mức độ vừa và 10,9% mức độ nặng. Tỷ lệ này thấp hơn khi đánh giá bằng BMI với 45,5% bệnh nhân có BMI &lt; 18,5 kg/m², và 25,5% có albumin huyết thanh &lt; 35 g/L. Các yếu tố liên quan đến SDD theo PG-SGA bao gồm tuổi ≥ 60 (nguy cơ cao hơn 1,32 lần; p = 0,01) và giai đoạn bệnh III trở lên (cao hơn 1,75 lần; p = 0,02). SDD ảnh hưởng đáng kể đến kết quả phẫu thuật: người bệnh suy dinh dưỡng có thời gian nằm viện trung vị 17 ngày, dài hơn so với 12,5 ngày ở nhóm không SDD (p = 0,002), và tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ cao gấp 3,07 lần (p &lt; 0,001). <strong>Kết luận:</strong> Suy dinh dưỡng ở bệnh nhân UTP trước phẫu thuật rất phổ biến, đặc biệt khi đánh giá bằng PG-SGA. Cần triển khai sàng lọc và can thiệp dinh dưỡng chuẩn hóa trước mổ nhằm giảm biến chứng và cải thiện kết quả điều trị.</p> Võ Trường Nhân, Nguyễn Minh Khoa, Lý Lâm Thục Nguyên, Trương Thanh Thiết, Trương Sơn, Đỗ Khắc Đại Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17946 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 PHẪU THUẬT TỐI THIỂU TRONG UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN SỚM Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT CÂN BẰNG GIỮA KIỂM SOÁT BỆNH VÀ CHẤT LƯỢNG SỐNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17947 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Ung thư vú nổi lên thành gánh nặng bệnh tật và xã hội trong xu hướng già hóa. Người cao tuổi thường nhiều bệnh kèm, điều trị phức tạp và biến chứng cao hơn. Dữ liệu trong nước về phẫu thuật ung thư vú ở người cao tuổi còn hạn chế. <strong><em>Đối tượng, phương pháp: </em></strong>cắt ngang mô tả, 57 bệnh nhân nữ ≥60 tuổi, ung thư vú giai đoạn I–II (cT1–2, cN0–1, cM0) được phẫu thuật tại Bệnh viện Thống Nhất (08/2021–08/2025). <strong><em>Kết quả:</em></strong> Tuổi trung bình 69,8 ± 7,4, BMI 23,3. Triệu chứng chủ yếu là sờ thấy u (91,2%). Mô học: UTBM ống NST 73,7%, tiểu thùy 15,8%. ER/PR dương tính &gt;65%. Tỉ lệ đoạn nhũ 94,7%, SLNB 59,6%, ALND 40,4%. Biến chứng sớm 12,3% (nhiễm trùng, chậm liền), biến chứng muộn gồm phù bạch mạch 14,0%, đau mạn 7,0%. Biến chứng nặng 7,0% nhưng không có tử vong 30 ngày. Kết quả phù hợp các nghiên cứu quốc tế, cho thấy phẫu thuật an toàn, kiểm soát bệnh tốt ở người cao tuổi. <strong><em>Kết luận: </em></strong>Phẫu thuật ung thư vú giai đoạn sớm ở người ≥60 tuổi an toàn, biến chứng thấp, OS và DFS khả quan. Cần cá thể hóa chỉ định (đặc biệt can thiệp nách) và tích hợp đánh giá lão khoa để tối ưu hóa điều trị và chất lượng sống.</p> Nguyễn Đỗ Nhân, Nguyễn Duy Tân Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17947 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 QUAN ĐIỂM VỀ THẨM MỸ NỤ CƯỜI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TỪ 18-30 TUỔI TẠI TP HÀ NỘI NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17948 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định quan điểm về thẩm mỹ nụ cười và một số yếu tố liên quan ở người trưởng thành từ 18-30 tuổi tại Hà Nội năm 2025. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu khảo sát bằng thang điểm VAS0-10 có hình ảnh có chọn lọc, mô tả cắt ngang trên 535 sinh viên bao gồm 259 sinh viên năm nhất và năm hai; 276 sinh viên năm 5 và năm 6 đã được giảng dạy về kiến thức thẩm mỹ nụ cười thẩm mỹ khuôn mặt tại Trường ĐH Y Dược, ĐHQGHN năm 2025. <strong>Kết quả:</strong> Trong nhóm 1 khác biệt theo giới chủ yếu xuất hiện ở G3-G4, H2-H3 và D3 trong khi nhóm 2 cho thấy khác biệt theo giới lớn hơn và rõ rệt hơn, đặc biệt ở G1, G3-G4, M2-M3 và D1-D3. Điểm nhóm 1 lớn hơn nhóm 2 các hình G1, G2, G3, G4 có nghĩa thống kê p&lt;0,0001. Khi so sánh từng nhóm: Nhóm 1: G5=G1&gt;G2&gt;G3&gt;G4; nhóm 2 và chung cho 2 nhóm: G5&gt;G1=G2&gt;G3&gt;G4. Ở cả ba mức M1-M3, nhóm 1 luôn có điểm cao hơn nhóm 2, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p&lt;0,001 đồng thời trong mỗi nhóm điểm giảm dần rõ rệt từ M1&gt;M2&gt;M3. <strong>Kết luận:</strong> Quan điểm thẩm mỹ nụ cười của người trưởng thành 18-30 tuổi bị ảnh hưởng bởi giới, tuổi và kiến thức, trải nghiệm về thẩm mỹ, nữ giới có quan điểm khắt khe hơn nam giới. Mức độ hở lợi, sự đối xứng viền lợi và chiều cao thân răng cửa giữa hàm trên, mức độ lệch đường giữa và khe thưa răng cửa giữa hàm trên liên quan trực tiếp và ảnh hưởng lớn đến quan điểm về thẩm mỹ nụ cười ở người trưởng thành trẻ tuổi.</p> Chu Thị Quỳnh Hương, Phan Thị Bích Hạnh, Trương Đình Khởi Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17948 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHIỄM VI KHUẨN ĐA KHÁNG TRÊN BỆNH NHÂN BỎNG NẶNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17949 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nhiễm vi khuẩn đa kháng (multidrug-resistant bacteria - MDRb) trên bệnh nhân bỏng. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> 131 bệnh nhân bỏng nặng với 422 thời điểm cấy khuẩn điều trị tại khoa Hồi sức Cấp cứu, Bệnh Viện Bỏng Quốc Gia Lê Hữu Trác từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2023. <strong>Kết quả: </strong>Bệnh nhân nhiễm MDRb có diện tích bỏng, diện tích bỏng sâu, nồng độ lactat máu, số lượng bạch cầu lúc vào viện, có bỏng sâu ở vị trí lưng, ngực, bụng và chi dưới cao hơn đáng kể so với bệnh nhân không nhiễm MDRb (p &lt; 0,01). Tại thời điểm cấy khuẩn: thời điểm cấy khuẩn sau bỏng, điểm SOFA, tỷ số Neutrophyl/Lymphocyt, số lượng huyết tương truyền, khối hồng cầu truyền, số bệnh nhân có điểm SOFA phổi ≥ 2, sử dụng vận mạch cao hơn đáng kể ở nhóm nhiễm MDRb so với bệnh nhân không nhiễm MDRb (p &lt; 0,01). Phân tích đa biến cho thấy diện tích bỏng và số lượng huyết tương truyền là yếu tố tương quan độc lập với nhiễm vi khuẩn đa kháng (p &lt; 0,05). Tăng mỗi 1% diện tích bỏng làm tăng thêm 3% nguy cơ nhiễm vi khuẩn đa kháng, tăng mỗi 1ml huyết tương truyền làm tăng thêm 0,04% nguy cơ nhiễm vi khuẩn đa kháng sau khi đã hiệu chỉnh các thông số khác (p &lt; 0,05). <strong>Kết luận:</strong> Diện tích bỏng và số lượng huyết tương truyền là yếu tố tương quan độc lập với nhiễm vi khuẩn đa kháng (p &lt; 0,05).</p> Lê Quốc Vương, Nguyễn Như Lâm, Lê Đức Mẫn, Trần Đình Hùng, Ngô Tuấn Hưng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17949 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ HỘI CHỨNG CHÈN ÉP DÂY THẦN KINH NGOẠI BIÊN: BÁO CÁO LOẠT CA HỒI CỨU https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17950 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Bệnh lý thần kinh do chèn ép được chẩn đoán bằng kết hợp lâm sàng, thăm dò điện sinh lý và cộng hưởng từ (CHT) dây thần kinh. Bác sĩ chẩn đoán hình ảnh cần hiểu rõ về giải phẫu dây thần kinh ngoại biên, hình ảnh CHT dây thần kinh ở trạng thái bình thường và bệnh lý để chẩn đoán đúng giúp điều trị hiệu quả. <strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá và mô tả các đặc điểm hình ảnh CHT của hội chứng chèn ép dây thần kinh (TK) ngoại biên bằng phân tích hồi cứu nhằm nâng cao độ chính xác chẩn đoán và hỗ trợ lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu gồm 18 bệnh nhân (8 nam, 10 nữ; độ tuổi 10-54) được chẩn đoán hội chứng chèn ép dây TK ngoại biên, chụp CHT 3 Tesla, đối chiếu với lâm sàng và kết quả phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City và Vinmec Smart City trong thời gian từ tháng 8/2018 đến tháng 7/2025. <strong>Kết quả</strong>: CHT phát hiện bất thường ở 18/18 trường hợp (100%) gồm tăng tín hiệu T2W dây TK bị ảnh hưởng 72,2% (13/18), tổn thương cơ do mất chi phối TK 72,2% (13/18), phù cơ chiếm 92% (12/13), teo cơ 25% (3/13), thâm nhiễm mỡ 7,7% (1/13), tăng kích thước dây TK khu trú hoặc lan tỏa 55% (10/18). Nguyên nhân chèn ép là dải xơ, nang, cơ phì đại, khối choán chỗ, gai xương, bất thường giải phẫu, viêm-xơ hóa sau chấn thương gặp 14 trường hợp (77,8%). Vị trí chèn ép là ống cổ tay (dây TK giữa), rãnh khuỷu (dây TK trụ), khuyết gai vai-ổ chảo (dây TK trên gai), khoang ngồi–đùi (dây TK tọa). Phát hiện trên CHT phù hợp với kết quả phẫu thuật hoặc theo dõi lâm sàng ở 15 trường hợp (83,3%). <strong>Kết luận</strong>: CHT là công cụ có giá trị trong chẩn đoán hội chứng chèn ép dây TK ngoại biên, cho thấy chi tiết tổn thương dây TK và các cấu trúc xung quanh. Nhận biết các đặc điểm hình ảnh đặc trưng giúp chẩn đoán sớm, định hướng điều trị giúp cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân</p> Nguyễn Quỳnh Giang, Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Thùy Linh, Ngô Quang Duy, Lê Xuân Thiệp, Trịnh Văn Mạnh, Phan Đình Huy, Bùi Văn Giang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17950 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 TỐI ƯU HÓA QUY TRÌNH GIẢI TRÌNH TỰ VÙNG PROMOTOR GEN MMP-9 (rs3918242) TRÊN MẪU MÔ VÙI NẾN CỦA BỆNH NHÂN CARCINÔM DẠ DÀY LOẠI TẾ BÀO KÉM KẾT DÍNH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17951 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Carcinôm dạ dày loại tế bào kém kết dính có tiên lượng xấu và liên quan đến biểu hiện của matrix metalloproteinase 9 (MMP-9), trong đó đa hình đơn nucleotide (single nucleotide polymorphism, SNP) rs3918242 trên vùng promoter của gen <em>MMP-9</em> đã được ghi nhận liên quan đến nguy cơ tiến triên bệnh. Tuy nhiên, việc phân tích SNP này trên mẫu mô vùi nến (formalin-fixed paraffin-embedded block, FFPE) còn gặp nhiều khó khăn do chất lượng DNA bị ảnh hưởng bởi quá trình cố định và lưu trữ. Nghiên cứu này nhằm tối ưu hóa quy trình giải trình tự Sanger vùng promoter của gen MMP-9 trên mẫu FFPE của bệnh nhân carcinôm dạ dày loại tế bào kém kết dính bằng kỹ thuật touchdown PCR (TD-PCR). <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu thực nghiệm mô tả so sánh hiệu quả giữa kỹ thuật PCR và TD-PCR trên 21 mẫu FFPE được chẩn đoán carcinôm dạ dày loại tế bào kém kết dính tại Khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ 01/2022 đến 06/2023. Vùng promoter của gen <em>MMP-9 </em>rs3918242 của tất cả các mẫu được khuếch đại bằng 2 phương pháp: PCR và TD-PCR; các mẫu khuếch đại thành công được giải trình tự bằng phương pháp Sanger. <strong>Kết quả</strong>: Nghiên cứu gồm 21 mẫu mô FFPE của bệnh nhân được chẩn đoán carcinôm dạ dày loại tế bào kém kết dính, với đa số bệnh nhân ≥50 tuổi (76%), tỷ lệ nam và nữ tương đương (52% và 48%), khối u thường khu trú ở hang vị (38%), bờ cong nhỏ và thân vị (33% và 24%). Các mẫu FFPE được thu nhận chủ yếu từ các tổn thương có đại thể dạng loét (67%) và u ở giai đoạn xâm nhập sâu (pT4 chiếm 52%). Kỹ thuật TD-PCR có hiệu quả khuếch đại tốt hơn so với PCR thông thường. Ở tất cả các mức nhiệt độ bắt cặp khảo sát (56°C, 58°C, 60°C và 62°C), TD-PCR khuếch đại thành công 100% số mẫu (21/21), trong khi PCR chỉ đạt từ 4/21 đến 12/21 mẫu (19,05-57,14%). Giải trình tự Sanger các sản phẩm từ TD-PCR cho tín hiệu sóng rõ, và kết quả kiểu gen tương đương khi thực hiện khuếch đại bằng PCR thông thường. <strong>Kết luận:</strong> TD-PCR là kỹ thuật hiệu quả để khuếch đại trình tự promoter trên vùng gen <em>MMP-9</em> rs3918242 từ mẫu mô FFPE ở bệnh nhân carcinôm dạ dày loại tế bào kém kết dính</p> Lưu Thị Thu Thảo, Võ Thị Ngọc Diễm, Hoàng Hạnh Dung, Trương Đinh Kiều Diễm, Nguyễn Huỳnh Minh Quân, Trịnh Hoàng Kim Tú Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17951 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐAU THẦN KINH SAU ZONA BẰNG LIỆU PHÁP PROLOTHERAPY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17952 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của liệu pháp Prolotherapy trong điều trị đau thần kinh sau Zona (Postherpetic Neuralgia – PHN). <strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện tại Đơn nguyên Điều trị Đau, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ 06/2024 đến 06/2025. Ba mươi bệnh nhân được chẩn đoán PHN ≥ 3 tháng được điều trị bằng tiêm dung dịch Dextrose 10% quanh vùng tổn thương thần kinh, các chỉ số đánh giá gồm: thang điểm đau Numeric Rating Scale (NRS), thang điểm đau thần kinh Douleur Neuropathique en 4 questions (DN4), chất lượng giấc ngủ (PSQI) và mức độ hài lòng (Likert scale) tại các thời điểm 0 – 4 – 8 – 12 tuần. <strong>Kết quả:</strong> Nhóm Prolotherapy cho thấy mức giảm NRS trung bình từ 7,2 ± 1,1 xuống 2,8 ± 1,3 sau 12 tuần (p &lt; 0,001), DN4 giảm trung bình 3,6 điểm (p &lt; 0,05). Tỷ lệ hài lòng cao (&gt;80%) và không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng. <strong>Kết luận:</strong> Liệu pháp Prolotherapy là phương pháp an toàn, hiệu quả và có thể xem là lựa chọn điều trị bổ trợ hoặc thay thế cho các trường hợp đau thần kinh sau Zona kháng thuốc</p> Lê Viết Thắng, Đỗ Trọng Phước Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17952 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU CỦA KỸ THUẬT DIỆT HẠCH GIAO CẢM DƯỚI CẮT LỚP VI TÍNH TRONG KIỂM SOÁT ĐAU https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17953 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau của kỹ thuật diệt hạch giao cảm dưới cắt lớp vi tính (CLVT) ở bệnh nhân ung thư vùng tầng trên mạc treo đại tràng ngang và tiểu khung. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả kết hợp tiến cứu và hồi cứu được thực hiện trên 47 bệnh nhân (45 trường hợp diệt hạch đám rối thân tạng và 2 trường hợp diệt hạch đám rối hạ vị) tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 6/2019 đến tháng 12/2024. Mức độ đau được đánh giá bằng thang điểm VAS và BPI trước và sau can thiệp, đồng thời ghi nhận các biến cố bất lợi liên quan đến thủ thuật. <strong>Kết quả:</strong> Ở nhóm diệt hạch đám rối thân tạng, điểm đau trung bình theo thang VAS trước can thiệp là 7,0 ± 1,1. Sau 2 tuần, 37/45 bệnh nhân (82,2%) đạt mức giảm ≥ 50% điểm VAS. Đường tiếp cận trước được sử dụng chủ yếu. Biến chứng thường gặp nhất là tiêu chảy thoáng qua (37,8%); một trường hợp ghi nhận nhồi máu não. Ở nhóm diệt hạch đám rối hạ vị, điểm VAS trung bình trước can thiệp là 8,0 ± 0,8 và giảm khoảng 50% sau thủ thuật; cả hai bệnh nhân đều được thực hiện qua đường sau, một trường hợp có tổn thương thần kinh hông to thoáng qua, hồi phục hoàn toàn sau 2 tháng. <strong>Kết luận:</strong> Diệt hạch giao cảm dưới CLVT bằng cồn tuyệt đối là phương pháp an toàn và hiệu quả trong kiểm soát đau do ung thư giai đoạn tiến xa, giúp cải thiện đáng kể chất lượng sống với tỷ lệ biến chứng chấp nhận được.</p> Mai Thị Kim Khuyên, Đinh Gia Khánh, Phạm Minh Chi, Đinh Phú Quý, Trần Bá Tú, Trần Thị Thuỳ Linh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17953 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA UNG THƯ DẠ DÀY TIẾN TRIỂN XÂM LẤN ĐẦU TỤY, TÁ TRÀNG, CUỐNG GAN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17956 <p>Nghiên cứu hồi cứu mô tả với 2 mục tiêu: 1. Mô tả các đặc điểm chung của bệnh nhân mắc tiến triển xâm lấn&nbsp; đầu tụy, tá tràng, cuống gan.2. Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của UTDD&nbsp; tiến triển tại chỗ xâm lấn đầu tụy, tá tràng, cuống gan. Từ 2020-2025 có 40 BN: Nam 33 BN (82,5%); Nữ 7 BN (17,5%); Tỷ lệ Nam/Nữ 4,7. Tuổi TB 63,08±1,73 T. Tiền sử loét DD-TT 47,5%; TS mắc các bệnh phối hợp 72,5%. Các đặc điểm lâm sàng:&nbsp; Đau bụng 100%;&nbsp; Xuất huyết tiêu hóa (XHTH)&nbsp; 62,5%&nbsp; (ỉa phân đen); Hẹp môn vị (HMV)&nbsp; 85,0%; gầy sút 82,5%&nbsp; khám thấy khối U 27,5%.100%&nbsp; là UTDD 1/3 dưới dạ dày: UTDD môn vị 25,0%; UTDD hang môn vị 52,5%; UTDD hang vị 7,5%; UTDD hang vị -thân vị 15,0%.&nbsp; Kết quả nội soi dạ dày (NSDD): Kích thước&nbsp; khối UTDD ≤ 5 cm chiếm&nbsp; 60,0% (24/40 BN), Hẹp môn vị 42,5%. Chụp CLVT ổ bụng chẩn đoán&nbsp; UTDD xâm lấn đầu tụy- tá tràng, cuống gan trước mổ 6/40 BN (15,0%). Kết quả sinh thiết: Adenocarcinome (AC) kém biệt hóa (KBH) 19/40 BN (47,5%); AC biệt hóa vừa (BHV) 11/40 BN(27,5%);&nbsp; Tế bào (TB) nhẫn 8/40 BN (20,0%); TB nhầy 2/40 BN (5,0%). <strong>Kết luận: </strong><strong>1. </strong><strong>Đặc điểm chung: &nbsp;</strong>Tuổi TB 63,08±1,73;&nbsp; Nam 82,5%; Nữ 17,5%; Tỷ lệ Nam/Nữ 4,7. Tiền sử loét DD-TT 47,5%, TS mắc các bệnh phối hợp 72,5%. <strong>2.</strong> <strong>Các đặc điểm lâm sàng , cận lâm sàng và chẩn đoán</strong>: Đau bụng 100%; ỉa phân đen&nbsp; 62,5% ; Hẹp môn vị&nbsp; 85,0%; gầy sút 82,5%; khám thấy khối U 27,5%. UTDD 1/3 duới dạ dày chiếm 100%: UTDD môn vị 25,0%; UTDD hang môn vị 52,5%; UT hang vị 7,5%; UTDD hang vị -thân vị 15,0%. Kích thước&nbsp; khối UTDD ≤ 5 cm chiếm&nbsp; 60,0%; Hẹp môn vị&nbsp; 42,5%.&nbsp; CLVT ổ bụng chẩn đoán&nbsp; UTDD xâm lấn đầu tụy- tá tràng, cuống gan trước mổ 6/40 BN (15,0%). Adenocarcinome&nbsp; kém biệt hóa (KBH) 47,5%; AC BHV 27,5%; TB nhẫn 20,0%); TB nhầy 5,0%.</p> Thái Nguyên Hưng, Phan Văn Cương Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17956 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN Ở SẢN PHỤ UỐNG NẠP DUNG DỊCH CARBOHYDRATE TRƯỚC PHẪU THUẬT LẤY THAI CHƯƠNG TRÌNH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17957 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá nguy cơ trào ngược dạ dày thực quản ở sản phụ uống nạp dung dịch carbohydrate trước phẫu thuật lấy thai chương trình. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, ngẫu nhiên có đối chứng tiến hành từ tháng 12 năm 2024 đến tháng 5 năm 2025 trên 31 sản phụ mổ lấy thai chương trình, chia thành hai nhóm: nhóm chứng (FAST) gồm 16 sản phụ nhịn ăn uống từ nửa đêm hôm trước phẫu thuật, nhóm can thiệp (CHO) gồm 15 sản phụ uống 600ml dung dịch carbohydrate từ đêm hôm trước phẫu thuật và 300ml dung dịch carbohydrate sáng hôm phẫu thuật cho đến 2 giờ trước phẫu thuật. Đánh giá diện tích mặt cắt ngang hang vị, phân độ và thể tích dịch dạ dày tồn lưu, ghi nhận các trường hợp trào ngược dạ dày thực quản, hít sặc phổi. <strong>Kết quả: </strong>Thể tích dạ dày dưới siêu âm ở nhóm can thiệp CHO có 13,3% độ 0; 60% độ 1 và 26,7% độ 2 và ở nhóm chứng FAST có 18,8% độ 0; 56,2% độ 1 và 25% độ 2. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,919. Diện tích mặt phẳng cắt ngang qua hang vị của các sản phụ nhóm FAST là 4,09 ± 1,52 cm<sup>2</sup>, của các sản phụ nhóm CHO là 3,37 ± 1,16 cm<sup>2</sup>, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,29. Thể tích dạ dày tổn lưu theo cân nặng của các sản phụ tính theo công thức của tác giả Perlas và tác giả Roukhomovsky lần lượt là&nbsp; là 0,78 ± 0,41 ml/kg và 0,83 ± 0,43 ml/kg ở nhóm FAST; 0,6 ± 0,27 ml/kg và 0,51 ± 0,34 ml/kg ở nhóm CHO. Không ghi nhận trường hợp nào trào ngược, hít sặc vào phổi. <strong>Kết luận</strong>: Uống nạp dung dịch carbohydrate trước phẫu thuật lấy thai chương trình an toàn, không làm tăng nguy cơ trào ngược dạ dày thực quản trong quá trình gây mê phẫu thuật.</p> Đặng Xuân Huỳnh, Nguyễn Quốc Kính, Đỗ Tuấn Đạt Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17957 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ TỔN THƯƠNG THỊ TRƯỜNG 10 ĐỘ TRUNG TÂM TRÊN BỆNH NHÂN GLÔCÔM GÓC MỞ NGUYÊN PHÁT GIAI ĐOẠN SỚM https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17958 <p><strong><em>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</em></strong> nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 42 bệnh nhân (60 mắt) được chẩn đoán là glôcôm góc mở nguyên phát giai đoạn sớm. Đối tượng nghiên cứu được thử thị lực, nhãn áp, thăm khám lâm sàng, đo thị trường 10-2 và 24-2. Các chỉ số nghiên cứu: đặc điểm đối tượng nghiên cứu, đặc điểm ám điểm trên thị trường (số lượng, vị trí, hình dạng), so sánh 24-2 và 10-2 . <strong><em>Kết quả:</em></strong> tuổi trung bình 44,12 ± 17,48; thị lực trung bình logmar là 0,25 ± 0,24; C/D trung bình 0,61 ± 0,155; ám điểm dạng hình cung chiếm 34,2%; ám điểm tỏa lan 5%; 52,6% ám điểm nằm phía mũi; ám điểm hình cung có tương quan giữa độ sâu và độ rộng; 24-2 bỏ sót tổn thương 36 bán trường. <strong><em>Kết luận:</em></strong> Tổn thương thị trường 10-2 trong giai đoạn đầu chủ yếu là ám điểm dạng hình cung, có thể xuất hiện ám điểm khu trú sâu hoặc tỏa lan nông và 10-2 có thể phát hiện tổn thương 24-2 bỏ sót.</p> Nguyễn Phương Uyên, Đỗ Tấn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17958 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT ĐẠI TRÀNG KÈM TOÀN BỘ MẠC TREO TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG TRÁI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17959 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả sớm và đặc điểm mô bệnh học sau mổ ở các bệnh nhân ung thư đại tràng trái được điều trị bằng phẫu thuật nội soi cắt đại tràng kèm toàn bộ mạc treo. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu tiến cứu, báo cáo loạt ca, thực hiện trên tất cả các bệnh nhân ung thư đại tràng trái được điều trị bằng phẫu thuật nội soi cắt đại tràng kèm toàn bộ mạc treo tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 10 năm 2025. <strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu gồm 50 bệnh nhân, trong đó có 22 nam và 28 nữ; tuổi trung bình 60,08 ± 11,33. Vị trí khối u chủ yếu ở đại tràng chậu hông (74%), tiếp theo là đại tràng xuống (14%), đại tràng góc lách (8%) và đại tràng ngang đoạn 1/3 trái (4%). Giai đoạn bệnh chủ yếu là giai đoạn II (60%) và III (40%). Thời gian phẫu thuật trung bình là 186,37 ± 49,66 phút; không ghi nhận tai biến trong mổ. Biến chứng sau mổ gặp ở 8% trường hợp, chủ yếu là nhiễm trùng vết mổ. Thời gian nằm viện sau phẫu thuật trung bình là 7,16 ± 0,97 ngày. Số hạch nạo vét trung bình là 9,3 ± 4,94 hạch; chiều dài mẫu bệnh phẩm trung bình 15,7 ± 5,27 cm; kích thước khối u trung bình 3,61 ± 1,32 cm. Tất cả các trường hợp đều đạt diện cắt R0. <strong>Kết luận:</strong> Phẫu thuật nội soi cắt đại tràng kèm toàn bộ mạc treo trong điều trị ung thư đại tràng trái là phương pháp an toàn, hiệu quả, với tỷ lệ tai biến và biến chứng sớm thấp, đạt kết quả mô bệnh học tốt.</p> Trần Thị Thu Ngân, Đặng Hồng Quân, Nguyễn Văn Bi, Cao Quốc Việt Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17959 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỬ DỤNG CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ NỀN TẢNG TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN SUY TIM PHÂN SUẤT TỐNG MÁU GIẢM ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THANH HOÁ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17960 <p><strong>Mục tiêu</strong>: (1) Mô tả thực trạng bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh Thanh Hóa. (2) Đánh giá kết quả sử dụng các thuốc nền tảng trong điều trị suy tim có phân suất tống máu giảm tại phòng khám ngoại trú của BVĐK tỉnh Thanh Hóa. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: nghiên cứu mô tả cắt ngang 1100 bệnh nhân suy tim trong đó có 50 bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm đang điều trị ngoại trú từ tháng 3/2025 đến 9/2025. <strong>Kết quả</strong>: Trong 1100 bệnh nhân suy tim điều trị ngoại trú: tỉ lệ NYHA II (46,1%), NYHA IV (6,6%), các bệnh lý đi kèm: bệnh động mạch vành (ĐMV) (54,6%), Tăng huyết áp (THA) (42,5%); trong 50 bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm được điều trị bằng 4 thuốc nền tảng: Có 43 bệnh nhân có NYHA III (86%), NYHA I (0%) và NYHA IV 90%), EF trung bình 30,8 &nbsp;6,4 (%), ProBNP trung bình 4364,1 &nbsp;548,1 (pg/ml). Sau 3 tháng &nbsp;không còn bệnh nhân NYHA III, sau 6 tháng có 90% bệnh nhân NYHA I, chỉ số ProBNP và EF cải thiện (p&lt; 0,05), không có ghi nhận tác dụng không mong muốn khi theo dõi trong 6 tháng. <strong>Kết luận</strong>: Sử dụng các thuốc nền tảng trong nhóm bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm trong nghiên cứu cho thấy cải thiện mức độ suy tim theo NYHA, chỉ số EF và nồng độ ProBNP huyết thanh, không ghi nhận các tác dụng phụ của thuốc trong quá trình nghiên cứu</p> Lê Thế Anh, Nguyễn Hồng Cường, Lê Thị Thắng, Hồ Thanh Thuỷ , Dương Quang Hiệp, Lê Văn Cường Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17960 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ỨNG DỤNG QUAN SÁT CHUYỂN ĐỘNG NHÃN CẦU (VNG) VÀ BÀI KIỂM TRA LẮC ĐẦU CÓ GHI HÌNH (vHIT) TRONG CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN CHÓNG MẶT TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17961 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm trên hệ thống quan sát chuyển động nhãn cầu (VNG) và bài kiểm tra lắc đầu có ghi hình (vHIT) ở các nguyên nhân chóng mặt khác nhau, từ đó làm rõ giá trị phân biệt của các khảo sát này. <strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 73 người bệnh chóng mặt tại Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 7/2024 đến tháng 10/2025. Người bệnh được thăm khám lâm sàng, đánh giá bằng hệ thống VNG (VisualEyes 525) và vHIT (Eyeseecam). <strong>Kết quả:</strong> Độ tuổi trung bình là 46.92 ± 12.25, tỷ lệ nam giới chiếm 50.7%. Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (BPPV) là nguyên nhân thường gặp nhất (45%), tiếp theo là bệnh thần kinh tiền đình một bên (31.51%) và các nguyên nhân khác (23.21%). Phân tích đặc điểm chức năng tiền đình cho thấy: Nhóm BPPV (n=33) đặc trưng bởi 100% dương tính với nghiệm pháp tư thế trên VNG. Trên vHIT, VOR gain trung bình được bảo tồn (1.10 ± 0.15) và không ghi nhận saccade. Nhóm bệnh thần kinh tiền đình một bên (n=23) thể hiện sự suy giảm chức năng nghiêm trọng trên cả hai hệ thống. Caloric test có tỷ lệ bất thường cao (91.3%). Trên vHIT, VOR gain giảm rõ rệt (0.62 ± 0.28) và tỷ lệ xuất hiện saccade rất cao (21/23 trường hợp, chiếm 91.3%). Nhóm Meniere (n=12) ghi nhận sự phân ly rõ rệt giữa hai phương pháp. Tỷ lệ bất thường trên caloric test rất cao (91.67%), trong khi tỷ lệ giảm VOR gain trên vHIT thấp (16.67%). <strong>Kết luận:</strong> Sự kết hợp giữa VNG và vHIT giúp nhận diện các kiểu hình tổn thương đặc trưng. Trong khi VNG ưu thế trong chẩn đoán BPPV và phát hiện tổn thương tần số thấp, vHIT có giá trị cao trong định lượng tổn thương tần số cao và phát hiện saccade bù trừ.</p> Đoàn Văn Anh Vũ, Huỳnh Đăng Lộc, Huỳnh Thị Như Ý, Phan Xuân Uy Hùng, Nguyễn Minh Đức, Hoàng Tiến Trọng Nghĩa Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17961 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 MỐI LIÊN QUAN GIỮA TYPE HPV VÀ MỨC ĐỘ NẶNG, DIỄN TIẾN SAU ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN U NHÚ THANH QUẢN TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TP. HỒ CHÍ MINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17962 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> U nhú thanh quản là tổn thương lành tính do sự quá sản các tế bào vảy hình thành các nhú nhô lên bề mặt biểu mô đường hô hấp, có đặc điểm tái phát nhiều lần, ảnh hưởng đáng kể đến đường thở, chất lượng giọng nói và chất lượng sống. <strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát mối liên quan giữa type HPV với mức độ nặng lâm sàng, thể bệnh và diễn tiến sau điều trị 12 tháng ở bệnh nhân u nhú thanh quản. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu được thiết kế dưới dạng tiến cứu, mô tả hàng loạt ca bệnh, thực hiện trên tổng cộng 40 bệnh nhân được chẩn đoán u nhú thanh quản và theo dõi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh. Các bệnh nhân được phân thành hai nhóm tuổi: trẻ em (&lt;16 tuổi) và người lớn (≥16 tuổi). Chẩn đoán được xác lập dựa trên mô bệnh học, đồng thời thực hiện xét nghiệm định type HPV. Các biến số chính được phân tích bao gồm: mức độ khó thở, thể lâm sàng (khu trú hoặc lan tỏa), diễn tiến sau điều trị trong 12 tháng (gồm thoái triển, tái phát hoặc ung thư hóa), và di chứng sau điều trị. <strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ phát hiện HPV là 77,5% (trẻ em 89,5%, người lớn 66,7%). HPV11 chiếm ưu thế ở cả hai nhóm tuổi, với nhiều trường hợp đồng nhiễm. Ở trẻ em, HPV11 liên quan đến khó thở độ 1–2 và thể lan tỏa. Ở người lớn, thể lan tỏa liên quan có ý nghĩa thống kê với HPV11 và HPV16/18 (p&lt;0,01; OR=9; KTC 95%: 1,1–217). Sau 12 tháng, tái phát cao nhất ở nhóm HPV11 (64,7% ở trẻ em, 24,4% ở người lớn); ung thư hóa gặp ở nhóm HPV âm tính (7,3%) và HPV11 (2,4%). Di chứng chủ yếu liên quan đến HPV11. <strong>Kết luận:</strong> HPV11 là type trội, liên quan đến bệnh cảnh nặng và nguy cơ tái phát cao, đặc biệt ở trẻ em. Ung thư hóa ghi nhận chủ yếu ở người lớn không phát hiện HPV. Việc định type HPV có giá trị trong phân tầng nguy cơ và theo dõi lâm sàng.</p> Nguyễn Thành Tuấn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17962 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ MIỆNG NIỆU ĐẠO ĐÓNG THẤP THỂ SAU BẰNG KỸ THUẬT KOYANAGI CẢI TIẾN CÓ KẾT HỢP VẬT LIỆU CHE PHỦ BẰNG MẢNH BAO TINH MẠC https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17963 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả phẫu thuật và các biến chứng của phẫu thuật một thì bằng kỹ thuật Koyanagi cải tiến theo Hayashi trong điều trị miệng niệu đạo đóng thấp (MNĐĐT) thể sau tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, với việc che phủ niệu đạo tân tạo bằng mảnh bao tinh mạc. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả loạt trường hợp được thực hiện trên các bệnh nhi MNĐĐT thể sau được phẫu thuật một thì bằng kỹ thuật Koyanagi cải tiến theo Hayashi, kết hợp che phủ niệu đạo bằng mảnh bao tinh mạc. Thời gian theo dõi sau mổ tối thiểu là 6 tháng. Các biến số chính bao gồm đặc điểm lâm sàng và phẫu thuật, biến chứng sớm và muộn, cũng như tỷ lệ thành công. <strong>Kết quả:</strong> Có 31 trường hợp được đưa vào nghiên cứu. Các biến chứng sớm ghi nhận gồm nhiễm trùng vết mổ và tụ máu bìu. Biến chứng muộn thường gặp nhất là tụt miệng niệu đạo, xảy ra ở 12 trường hợp (38,7%), trong đó 5 trường hợp phải phẫu thuật lại. Các biến chứng muộn khác bao gồm rò niệu đạo (2 trường hợp, 6,5%) và cong dương vật tái phát (4 trường hợp, 12,9%). Không ghi nhận các biến chứng nặng như hẹp niệu đạo hoặc cong dương vật tái phát nặng cần cắt hạ lại sàn niệu đạo. Tỷ lệ thành công chung đạt 77,5%. <strong>Kết luận:</strong> Phẫu thuật một thì bằng kỹ thuật Koyanagi–Hayashi là một lựa chọn khả thi và an toàn trong điều trị MNĐĐT thể sau. Việc sử dụng ống thông niệu đạo có bóng kết hợp che phủ niệu đạo tân tạo bằng mảnh bao tinh mạc cho thấy cải thiện đáng kể tỷ lệ thành công so với các nghiên cứu trước đây thực hiện trên cùng nhóm đối tượng tại Bệnh viện Nhi Đồng 2.</p> Lê Nguyễn Yên, Nguyễn Tài Ân Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17963 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM TRẺ SƠ SINH ĐƯỢC THỞ MÁY RUNG TẦN SỐ CAO TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG THÀNH PHỐ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17964 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Suy hô hấp sơ sinh là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ sơ sinh, đặc biệt ở nhóm trẻ sinh non. Thở máy rung tần số cao (HFOV) là một phương pháp hỗ trợ hô hấp xâm lấn được sử dụng như biện pháp cứu hộ hoặc thay thế sớm cho thở máy thông thường (CMV) trong các trường hợp suy hô hấp nặng.<strong> Mục tiêu: </strong>Đánh giá đặc điểm can thiệp HFOV, thay đổi về hô hấp và huyết động trước/sau HFOV và kết cục sống còn ở trẻ sơ sinh được thở HFOV tại Bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố.<strong> Phương pháp: </strong>Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu thực hiện từ 07/2024 đến 07/2025 tại khoa Hồi sức sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố. <strong>Kết quả:</strong> Có 73 trẻ sơ sinh suy hô hấp được thở HFOV. Tuổi thai trung bình 32,9 ± 0,6 tuần, cân nặng trung bình 2046,1 ± 120,8 gram. Các chẩn đoán chính gồm hội chứng nguy kịch hô hấp (35,6%), viêm phổi (20,5%) và thoát vị hoành bẩm sinh (20,5%). Sau thở HFOV, các chỉ số hô hấp cải thiện rõ rệt: PaCO<sub>2</sub> giảm từ 55,3 xuống 42,6 mmHg, pH tăng từ 7,21 lên 7,29, PaO<sub>2</sub>/FiO<sub>2</sub> tăng từ 85,7 lên 215,7, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p &lt; 0,001. Huyết động cũng cải thiện: huyết áp trung bình tăng từ 40,4 lên 45,5 mmHg, cung lượng tim tăng đáng kể (LVO +53,7 ml/kg/phút, RVO +97,7 ml/kg/phút), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p &lt; 0,001. Tỷ lệ sống trong vòng 30 ngày là 79,5%, tại thời điểm xuất viện là 56,2%.<strong> Kết luận:</strong> Thở máy rung tần số cao giúp cải thiện thông khí, oxy hóa máu, huyết động và góp phần nâng cao tỷ lệ sống còn ở trẻ sơ sinh thất bại thở máy thông thường hoặc cần thở máy thông thường thông số cao.</p> Nguyễn Thị Ngọc Lan, Hồ Tấn Thanh Bình, Nguyễn Hoàng Tâm Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17964 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG GIỮA BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP CÓ VÀ KHÔNG CÓ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17965 <p><strong>Mục tiêu:</strong> So sánh đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng giữa bệnh nhân nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp có và không có đái tháo đường (ĐTĐ). <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả, thực hiện trên các NMCT cấp lần đầu điều trị tại Khoa Nội Tim Mạch và Khoa Tim Mạch Can Thiệp, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 09/2020 đến 09/2021. Các thông tin lâm sàng và cận lâm sàng được thu thập và so sánh giữa hai nhóm có và không có ĐTĐ. <strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu 413 bệnh NMCT cấp với tỉ lệ ĐTĐ là 23,5%. Nhóm ĐTĐ có tỷ lệ nữ cao hơn (39,2% so với 22,8%; p = 0,001), tần số tim nhập viện cao hơn (83 so với 78 lần/phút; p = 0,003) và phân độ Killip nặng hơn (p = 0,033). Tỷ lệ hút thuốc lá ở nhóm này thấp hơn nhóm không ĐTĐ (34,0% so với 47,8%; p = 0,017). Về cận lâm sàng, nhóm ĐTĐ có nồng độ HDL-C máu thấp hơn (32,5 so với 35,0 mg/dL; p = 0,001), triglyceride máu cao hơn (167,5 so với 144,0 mg/dL; p = 0,010) và phân suất tống máu thất trái thấp hơn (45% so với 48%; p = 0,026). Hai nhóm không khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi, thể lâm sàng, chức năng thận, nồng độ troponin I đỉnh, vị trí và số nhánh động mạch vành tổn thương. <strong>Kết luận:</strong> Bệnh nhân NMCT cấp kèm ĐTĐ có đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bất lợi hơn so với nhóm không có ĐTĐ về tần số tim, phân độ Killip, nồng độ HDL-C, triglyceride máu và chức năng tâm thu thất trái.</p> Trần Công Duy, Trương Phi Hùng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17965 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ CĂN NGUYÊN VI SINH Ở TRẺ VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG CÓ SUY HÔ HẤP ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM HÔ HẤP BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17967 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Viêm phổi cộng đồng có suy hô hấp là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em. Nghiên cứu này mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên vi sinh của viêm phổi cộng đồng có suy hô hấp ở trẻ em điều trị tại Trung tâm Hô hấp – Bệnh viện Nhi Trung ương. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 165 trẻ từ 1 tháng đến 15 tuổi được chẩn đoán viêm phổi cộng đồng theo tiêu chuẩn WHO 2013 kèm suy hô hấp khi nhập viện, điều trị nội trú từ 6/2023 đến 6/2024. Thu thập các đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm cơ bản, căn nguyên vi sinh từ dịch tỵ hầu bằng nuôi cấy, test nhanh RSV, Realtime RT-PCR và xét nghiệm ELISA xác định IgM từ huyết thanh. <strong>Kết quả:</strong> Trẻ dưới 2 tuổi chiếm 61,2%; trẻ nam chiếm 55,8%. Ho và thở nhanh gặp ở 100% bệnh nhân; Suy hô hấp type I gặp ở 90,9%. Xác định được căn nguyên vi sinh ở 73,3% trường hợp; <em>Mycoplasma pneumoniae</em> và RSV là các tác nhân thường gặp nhất. Đồng nhiễm, chủ yếu virus – vi khuẩn, chiếm tỷ lệ 14,9%. <strong>Kết luận:</strong> Viêm phổi cộng đồng có suy hô hấp chủ yếu gặp ở trẻ nhỏ, với giảm oxy máu là biểu hiện nổi bật<em>.</em> Căn nguyên vi sinh đa dạng, phức tạp, cần lưu ý tình trạng đồng nhiễm trong chẩn đoán và điều trị.</p> Trần Thúy Nga, Vũ Thị Thanh Huyền, Lê Thị Hồng Hanh, Lê Thị Thùy Dung Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17967 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 GIÁ TRỊ THANG ĐO PITTSBURGH TRONG ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ Ở NGƯỜI BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17968 <p>Chất lượng giấc ngủ kém là một biểu hiện thường gặp trên lâm sàng và gây ảnh hưởng nhiều tới chất lượng cuộc sống ở người bệnh lupus ban đỏ hệ thống (BĐHT). <strong>Mục tiêu:</strong> 1. Phân tích tính giá trị của thang đo Pittsburgh (PSQI) trong đánh giá chất lượng giấc ngủ ở người bệnh lupus BĐHT. 2. Tìm hiểu thực trạng chất lượng giấc ngủ ở người bệnh lupus BĐHT sử dụng thang đo trên. <strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 465 người bệnh lupus BĐHT điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 5 năm 2024 đến tháng 5 năm 2025. Đối tượng nghiên cứu được đánh giá chất lượng giấc ngủ bằng thang đo PSQI và khám bác sỹ chuyên khoa tâm thần nhằm xác định tình trạng chất lượng giấc ngủ. <strong>Kết quả:</strong> Thang đo PSQI đánh giá chất lượng giấc ngủ ở người bệnh lupus BĐHT có hệ số Cronbach α là 0,798, độ nhạy: 85,85%, độ đặc hiệu 74,0%, diện tích dưới đường cong ROC 0,832. Tỷ lệ chất lượng giấc ngủ kém: 66,0%, đặc điểm chủ yếu gây chất lượng giấc ngủ kém là dậy quá sớm, dậy đi vệ sinh và sưng- đau khớp. <strong>Kết luận:</strong> Thang đo PSQI có độ nhạy cũng như độ đặc hiệu cao và đáng tin cậy trong đánh giá chất lượng giấc ngủ ở người bệnh lupus BĐHT. Trong nghiên cứu, gặp một tỷ lệ cao người bệnh lupus BĐHT có chất lượng giấc ngủ ở mức độ kém</p> Lại Thùy Dương, Nguyễn Thị Phương Thủy, Dương Minh Tâm, Trần Thị Thu Hà Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17968 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KHẢO SÁT THÔNG SỐ TỐI ƯU TRÊN MÁY CHỤP PHIM X-QUANG TRONG MIỆNG TRONG ĐÁNH GIÁ SỰ HIỆN DIỆN CỦA XOANG SÂU MÔ PHỎNG: NGHIÊN CỨU IN VITRO https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17969 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định chế độ chụp phim tối ưu của máy chụp phim X-quang trong miệng trong đánh giá sự hiện diện của xoang sâu mô phỏng với các kích thước khác nhau. <strong>Đối tượng và Phương pháp: </strong>Sáu răng cối nhỏ hàm trên được lựa chọn để thực hiện nghiên cứu. Mỗi răng sẽ được trải qua 2 đợt chụp phim với 3 chế độ chụp phim của máy X-quang trong miệng Myray RXDC là En60 (60kVp, 8mA), En63 (63kVp, 4mA) và En65 (65kVp, 4mA). Trong đợt chụp đầu tiên, các răng chưa được tạo xoang sâu mô phỏng. Trong đợt chụp thứ 2, mỗi răng được tạo 2 xoang sâu mô phỏng tại mặt gần và mặt xa với đường kính #0.5mm và #1.0mm bằng mũi khoan đánh dấu veneer. Tổng số phim X-quang quanh chóp thu được là 36 phim. Sau đó các phim này được 2 nhà lâm sàng có số năm kinh nghiệm ≥10 năm đánh giá 2 lần, mỗi lần cách nhau 2 tuần. Kết quả đánh giá của nhà lâm sàng được so sánh với sự hiện diện của xoang sâu mô phỏng trên thực tế để xác định mức độ đồng thuận thông qua thống kê Cohen’s kappa. <strong>Kết quả: </strong>Đối với xoang sâu mô phỏng có đường kính #1.0mm, giá trị kappa dao động từ 0.833 đến 1.000, cho thấy mức độ đồng thuận mạnh đến gần như hoàn hảo. Đối với xoang sâu mô phỏng có đường kính #0.5mm, giá trị kappa dao động từ 0.333 đến 1.000, có sự khác biệt lớn giữa các lần đánh giá của 2 nhà lâm sàng. <strong>Kết luận: </strong>Đối với những xoang sâu mô phỏng có kích thước lớn (từ #1.0mm đường kính), chế độ En60 (60kVp, 8mA) có thể cung cấp chẩn đoán chính xác và giảm thiểu lượng tia phơi nhiễm trong lúc chụp phim cho bệnh nhân. Đối với những xoang sâu mô phỏng có kích thước nhỏ (đường kính #0.5mm), chưa có thông số tối ưu có thể áp dụng trên máy chụp phim X-quang quanh chóp được thực hiện trong nghiên cứu này.</p> Lâm Đại Phong, Đoàn Phan Chí Nhân Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17969 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 HIỆU QUẢ BAN ĐẦU CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP DỰ PHÒNG VIÊM PHỔI HÍT TẠI BỆNH VIỆN VINMEC CENTRAL PARK https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17970 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Viêm phổi hít (AP) là tổn thương hoặc nhiễm trùng phổi do hít thức ăn, dịch vị hoặc dịch tiết hầu họng, thường gặp ở người bệnh suy giảm ý thức, rối loạn nuốt hoặc bệnh thần kinh. AP liên quan tăng tử vong, thời gian nằm viện và biến chứng. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên:</strong> cứu mô tả có so sánh tại Hồi sức, Nội, Ngoại và Trung tâm Tim mạch – BV Vinmec Central Park. Người bệnh được sàng lọc và áp dụng phòng ngừa hít sặc trong 24 giờ; can thiệp gồm đào tạo, giám sát. <strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu trên 207 người bệnh cho thấy 30,4% thuộc nhóm nguy cơ và được áp dụng APB; không ghi nhận ca viêm phổi hít nào sau triển khai (giảm từ 5 ca xuống 0). Trong 46 NVYT tham gia, BS tuân thủ 100%, ĐD 81%, với sai sót chủ yếu là sử dụng ống hút. Gói can thiệp APB chứng minh hiệu quả và xác định được các điểm cần cải thiện trong tuân thủ điều dưỡng. <strong>Kết luận:</strong> Không ghi nhận ca AP, chứng minh hiệu quả gói APB. BS tuân thủ 100%, ĐD 81%; cần tiếp tục duy trì giám sát.</p> Đoàn Minh Sang, Phạm Thúy Trinh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17970 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ MẤT VỮNG CỘT SỐNG THẮT LƯNG - CÙNG ĐA TẦNG DO THOÁI HÓA BẰNG PHẪU THUẬT GIẢI ÉP, BẮT VÍT QUA CUỐNG VÀ HÀN XƯƠNG LIÊN THÂN ĐỐT https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17971 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả điều trị mất vững cột sống thắt lưng – cùng đa tầng do thoái hóa bằng phẫu thuật giải ép, bắt vít qua cuống và hàn xương liên thân đốt. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu. Các bệnh nhân có chẩn đoán xác định mất vững cột sống thắt lưng – cùng từ hai tầng trở lên đã được phẫu thuật giải ép, bắt vít qua cuống và hàn xương liên thân đốt tại khoa Ngoại thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/01/2019 đến 01/12/2020. <strong>Kết quả:</strong> Mô tả 45 bệnh nhân được phẫu thuật giải ép, bắt vít qua cuống và hàn xương liên thân đốt. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là 57,7 ± 7,9 tuổi, tỉ lệ nam/ nữ là 1,17. Đau theo rễ thần kinh L5 chiếm 42,3%. Thời gian mổ trung bình với mất vững cột sống thắt lưng 2 tầng là 160 ± 3,24 phút,thời gian mổ trung bình với mất vững cột sống thắt lưng 3 tầng là 200 ± 3,81phút. Điểm đau trung bình (VAS) sau mổ khi xuất viện &nbsp;là 3 ± 0,15. Thời gian nằm viện trung bình là 3 ± 0,08 ngày. Tỉ lệ biến chứng chung là 6,6%, biến chứng rách màng cứng 2 trường hợp (4,4%), vỡ chân cung 1 trường hợp (2,2%). <strong>Kết luận: </strong>Phương pháp phẫu thuật giải ép, bắt vít qua cuống và hàn xương liên thân đốt đã chứng minh tính hiệu quả và an toàn trong điều trị</p> Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Ngọc Khang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17971 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 THỰC TRẠNG CĂNG THẲNG TÂM LÝ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHÂN VIÊN Y TẾ TRONG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG DỊCH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17972 <p>Mục tiêu: <strong><em>Xác định mức độ của căng thẳng tâm lý và một số yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng tâm lý của nhân viên y tế (NVYT) tham gia công tác phòng chống dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh. </em></strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:<strong><em> Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện vào tháng 03 năm 2021 trên 271 NVYT tại các Trung tâm Y tế Quận/Huyện, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố (HCDC)&nbsp; tham gia phòng chống dịch. Chúng tôi sử dụng thang đo DASS 21 (tiểu thang stress 7 câu) để đánh giá mức độ căng thẳng. Phân tích sâu được thực hiện trên 154 NVYT có mức độ căng thẳng từ “Vừa” đến “Rất nặng”. Số liệu được xử lý và phân tích trên phần mềm SPSS phiên bản 22.0. </em></strong>Kết quả:<strong> <em>56,8 % NVYT căng thẳng từ vừa đến rất nặng. Trong nhóm này, mức độ nặng chiếm tỷ lệ cao nhất (59,7%) và rất nặng chiếm 15,6%. Yếu tố ảnh hưởng cao nhất đến căng thẳng là đặc thù công việc (ĐTB = 2,94), với mối lo ngại lớn nhất là "lây nhiễm cho người xung quanh" (ĐTB = 3,51). Yếu tố gia đình xếp thứ hai (ĐTB = 2.7) tiếp theo là yếu tố cá nhân (ĐTB = 2.48) và thấp nhất là yếu tố xã hội (ĐTB = 2.42). Ba yếu tố cụ thể gây ảnh hưởng nhất đối với căng thẳng tâm lý NVYT được xác định là "vị trí việc làm" (ĐTB = 3,53) "lây nhiễm cho người xung quanh" (ĐTB = 3,51) và "thời gian chăm sóc con cái" (ĐTB = 3,42). </em></strong>Kết luận: <strong><em>Tỷ lệ NVYT tham gia công tác phòng chống dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh có căng thẳng tâm lý là rất đáng báo động (56,8%), với mức độ nặng chiếm đa số. Các yếu tố liên quan đến đặc thù công việc (nỗi lo lây nhiễm, thu nhập) và gia đình (thiếu thời gian cho con cái) là những nguồn gây căng thẳng chính</em></strong></p> Tiêu Thảo Ngân, Ngô Quốc Hưng, Nguyễn Thị Phụng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17972 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 XÂM LẤN TỐI THIỂU TRONG ĐIỀU TRỊ SUY CẦU NỐI CHẠY THẬN, HIỆU QUẢ CỦA TÁI THÔNG KHÔNG PHẪU THUẬT Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17973 <p><strong><em>Đặt vấn đề: </em></strong>suy cầu nối chạy thận (AVF) là biến chứng rất thường gặp; phẫu thuật điều trị, từ lâu, đã chứng minh hiệu quả và được ưa chuộng. Tuy nhiên, vấn đề gần như bế tắc ở người cao tuổi có suy thận giai đoạn cuối, suy mòn, đa bệnh đồng mắc. Xâm lấn tối thiểu là ưu tiên hàng đầu ở nhóm này. Vì vậy, tái thông suy cầu nối không phẫu thuật cần được đánh giá. <strong><em>Đối tượng và phương pháp:</em></strong> cắt ngang mô tả 49 trường hợp&nbsp; ≥60 tuổi suy cầu nối chạy thận được điều trị bằng can thiệp nội mạch tái thông tại Bệnh viện Thống Nhất từ 01/2023–06/2025 nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng, tổn thương cầu nối, kết quả kỹ thuật, cải thiện huyết động sớm (lưu lượng, âm thổi liên tục), và biến chứng nội viện. <strong><em>Kết quả, bàn luận:</em></strong> tỉ lệ bệnh đồng mắc cao (tăng huyết áp 83,7%, đái tháo đường 46,9%) và suy dinh dưỡng đáng kể (BMI &lt;18,5 kg/m²: 26,5%). Suy cầu nối chưa trưởng thành thường liên quan tổn thương miệng nối và phối hợp huyết khối, suy cầu nối đã trưởng thành liên quan hẹp tĩnh mạch đường về. kết quả can thiệp nội mạch tái thông khả quản và tương đương giữa hai nhóm (83,3% và 86,4%; p&gt;0,05), cải thiện rõ rệt lưu lượng và phục hồi âm thổi liên tục sau can thiệp (&gt;90%). Tỉ lệ biến chứng lớn thấp, không ghi nhận tử vong nội viện liên quan thủ thuật. <strong><em>Kết luận:</em></strong> Can thiệp nội mạch tái thông suy cầu nối AVF ở người cao tuổi là phương pháp an toàn, hiệu quả, cải thiện huyết động sớm tốt. Với ưu điểm xâm lấn tối thiểu và bảo tồn mạch máu, can thiệp nội mạch nên được xem là lựa chọn điều trị ưu tiên trong xử trí suy cầu nối chạy thận ở người cao tuổi.</p> Nguyễn Duy Tân, Nguyễn Đỗ Nhân, Huỳnh Ngọc Hạnh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17973 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐI CHO NGƯỜI BỆNH NHỒI MÁU NÃO PHỐI HỢP SỬ DỤNG ROBOT TẬP DÁNG ĐI TẠI BỆNH VIỆN C ĐÀ NẴNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17974 <p><strong>Mục tiêu nghiên cứu: </strong>Đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng đi của người bệnh nhồi máu não khi phối hợp sử dụng robot tập dáng đi MRG-P100. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng, thực hiện tại Bệnh viện C Đà Nẵng từ 01–06/2025. Gồm 32 bệnh nhân nhồi máu não chia thành 2 nhóm (can thiệp và chứng). Cả hai nhóm được tập phục hồi chức năng thông thường; nhóm can thiệp phối hợp Robot tập dáng đi thêm 30 phút/ngày, nhóm chứng tập luyện thêm 30 phút/ngày với các bài tập cùng kỹ thuật viên, trong 4 tuần (20 buổi). Đánh giá chức năng đi dựa trên các thang điểm: FAC, FMA-LE, BBS và MMT. <strong>Kết quả: </strong>Cả hai nhóm đều có cải thiện sau can thiệp, tuy nhiên nhóm can thiệp có sự cải thiện rõ rệt và có ý nghĩa thống kê (p &lt; 0,05): FAC: tăng trung bình 1,88 điểm (so với 0,53 điểm nhóm chứng). FMA-LE: tăng trung bình 11,35 điểm (so với 4,0 điểm). BBS: tăng trung bình 23,17 điểm (so với 12,26 điểm). MMT: tăng trung bình 1,76 điểm (so với 0,8 điểm). <strong>Kết luận: </strong>Phối hợp sử dụng robot tập dáng đi giúp cải thiện vượt trội khả năng đi lại, sức cơ, thăng bằng và chức năng chi dưới so với tập luyện thông thường ở bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn bán cấp.</p> Bùi Văn Hội, Nguyễn Tấn Dũng, Bùi Hợp Đức Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17974 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 HỖ TRỢ TUẦN HOÀN BẰNG ECMO TRONG GHÉP TIM: BÁO CÁO CA BỆNH VÀ TỔNG QUAN Y VĂN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17975 <p>Báo cáo ca lâm sàng mô tả sử dụng ECMO (Extracorporeal Membrane Oxygenation) trong xử trí suy tim giai đoạn cuối ghép tim, đặc biệt ở bệnh nhân nguy cơ cao suy ghép nguyên phát (Primary Graft Dysfunction – PGD), khi chỉ định và thời điểm tối ưu còn tranh luận. Bệnh nhân nam, 46 tuổi mắc bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ, suy tim với phân suất tống máu (EF) 21%, nhập viện do suy tim tiến triển và được chỉ định ghép tim. Sau tái tưới máu, tim ghép giảm co bóp và huyết động không ổn định dù đã tối ưu tiền tải và vận mạch. ECMO tĩnh mạch – động mạch (VA-ECMO) được thiết lập chủ động trong mổ nhằm duy trì tưới máu cơ quan và hạn chế tổn thương đa tạng liên quan PGD. Hậu phẫu, bệnh nhân được hồi sức tích cực, kiểm soát đông máu và siêu âm tim. Chức năng tim ghép cải thiện; VA-ECMO được cai vào ngày hậu phẫu thứ 5, bệnh nhân xuất viện ổn định sau 2 tuần. Trường hợp này cho thấy VA-ECMO triển khai sớm giúp kiểm soát PGD nặng và hỗ trợ phục hồi tim ghép ở bệnh nhân nguy cơ cao</p> Ngô Đình Trung, Hồ Nam Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17975 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA BỆNH LÝ TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY - THỰC QUẢN TẠI TRUNG TÂM Y TẾ KHU VỰC CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17976 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh lý trào ngược dạ dày-thực quản của người bệnh được điều trị tại Trung tâm Y tế khu vực Cẩm Khê năm 2025 và kết quả điều trị. <strong>Thiết kế nghiên cứu:</strong> Can thiệp lâm sàng không đối chứng trên 200 người bệnh điều trị trào ngược dạ dày – thực quản tại Trung tâm Y tế khu vực Cẩm Khê năm 2025. Phác đồ điều trị được tuân thủ theo qui định của Trung tâm và ngành y tế. <strong>Kết quả nghiên cứu:</strong> Các triệu chứng lâm sàng của người bệnh trào ngược dạ dày-thực quản khá phổ biến và điển hình. Kết quả điều trị người bệnh trào ngược dạ dày-thực quản rất khả quan, các triệu chứng lâm sàng giảm rõ rệt. Điểm GERD-Q của người bệnh giảm dần sau các lần đánh giá, từ 9,53 ± 1,51 điểm, giảm xuống sau 7 ngày và 14 ngày điều trị (6,76 ± 1,87 điểm và 4,58 ± 2,67 điểm). <strong>Kết luận:</strong> Các triệu chứng lâm sàng của người bệnh trào ngược dạ dày-thực quản khá phổ biến và điển hình. Kết quả điều trị người bệnh trào ngược dạ dày-thực quản rất khả quan, các triệu chứng lâm sàng giảm rõ rệt.</p> Nguyễn Đình Sơn, Nguyễn Văn Phong, Lê Thị Huyền Thanh, Nguyễn Thị Vân Anh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17976 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ KHU VỰC CẨM KHÊ NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17977 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiểm soát đường huyết ở người bệnh đái tháo đường typ 2 được điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Khu vực Cẩm Khê năm 2025. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 54 người bệnh đái tháo đường typ 2 từ tháng 04/2025 đến tháng 09/2025, bằng phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi và bảng kiểm. <strong>Kết quả</strong>: Lứa tuổi hay gặp 50 - 60 tuổi và 60 - 70 tuổi (70,4%); Tỷ lệ Nam: nữ ~ 1:1. Chủ yếu là người bệnh mới mắc ĐTĐ, có thời gian &lt; 05 năm chiếm tỉ lệ 35,2%. Tỷ lệ người bệnh thừa cân và béo phì chiếm đa số 53,1%. Đa số người bệnh dùng 2 thuốc viên chiếm đa số 51,8%. Kiểm soát đường máu: đạt mục tiêu là 64,8%. Nồng độ trung bình đường máu lúc đói sau 03 tháng điều trị là 7,22 mmol/L thấp hơn so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu là 9,66 mmol/L. Kiểm soát HbA1c đạt mục tiêu là 77,8 %. Tỉ lệ HbA1c trung bình sau 03 tháng là 6,47% thấp hơn so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu là 7,44 %. <strong>Kết luận:</strong> Người bệnh ĐTĐ typ 2 luôn tuân thủ 3 nguyên tắc kiểm soát đường máu là sử dụng thuốc, chế độ ăn uống hợp lý, chế độ tập luyện thường xuyên có kết quả kiểm soát đường huyết tốt.</p> Phùng Thị Thúy Hường, Vi Thị Phương Thanh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17977 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH XỬ TRÍ PHẢN VỆ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ KHU VỰC CẨM KHÊ NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17978 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả kiến thức và thực hành xử trí phản vệ của điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên tại Trung tâm Y tế khu vực Cẩm Khê năm 2025 và phân tích một số yếu tố liên quan. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 139 nhân viên y tế thuộc 11 khoa. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu trúc dựa trên Thông tư 51/2017/TT-BYT. Kiến thức đạt yêu cầu khi trả lời đúng ≥12/17 câu; thực hành đạt khi trả lời đúng cả 3 tình huống. Phân tích thống kê mô tả và hồi quy logistic được sử dụng. <strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ đạt kiến thức về phản vệ là 74,1%. Tỷ lệ đạt thực hành chỉ đạt 52,5%. Một số nội dung kiến thức quan trọng còn hạn chế, đặc biệt là nhận biết triệu chứng hô hấp và tiêu hóa của phản vệ. Nhóm nhân viên có kiến thức đạt có khả năng thực hành đúng cao gấp 5,86 lần nhóm không đạt (p &lt; 0,001); nhân viên được tập huấn ≤ 1 năm có khả năng thực hành tốt hơn nhóm &gt; 1 năm (p &lt; 0,05). <strong>Kết luận:</strong> Nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế khu vực Cẩm Khê có kiến thức xử trí phản vệ tương đối tốt; thực hành xử trí phản vệ còn hạn chế, đặc biệt trong nhận diện triệu chứng sớm và xử trí tình huống. Kiến thức và thời gian tập huấn có mối liên quan chặt chẽ với khả năng thực hành.</p> Phạm Hồng Diệu, Trần Thị Thu Hiền, Đỗ Ngọc Nam, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Hằng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17978 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 MÔ HÌNH BỆNH TẬT TẠI TRUNG TÂM Y TẾ KHU VỰC CẨM KHÊ GIAI ĐOẠN 2020 - 2024 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17979 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả mô hình bệnh tật tại Trung tâm y tế khu vực Cẩm Khê giai đoạn 2020-2024. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu. Số liệu được thu thập trên hệ thống HIS của Trung tâm Y tế khu vực Cẩm Khê từ năm 2020-2024. <strong>Kết quả</strong>: Ở người bệnh khám ngoại trú, chương IX (Bệnh tuần hoàn) có tỉ lệ cao nhất với 23,08%; Chương IV (Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hoá) đứng thứ 2 với 17,26%. Trong 10 mã bệnh ngoại trú thường gặp: cao nhất là I10 (Tăng huyết áp vô căn) với 40,67%, E11: Bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin đứng thứ 2 với 28,91%. Ở người bệnh điều trị nội trú, Chương X (Bệnh hệ hô hấp) chiếm tỉ lệ cao nhất với 19,95%; Chương XV (Mang thai, sinh đẻ và hậu sản) cao thứ 2 với 13,75%. Trong 10 mã bệnh điều trị nội trú, mã bệnh J15 (Viêm phổi do vi khuẩn chưa được phân loại nơi khác) có tỉ lệ cao nhất với 33,74%; O82 (Mổ lấy thai cho một thai) cao thứ 2 với 21,13%. O80 (Đẻ thường một thai) đứng thứ 3 với 9,29%. <strong>Kết luận</strong>: Các bệnh không lây nhiễm chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng tăng ở người bệnh ngoại trú. Nhóm bệnh hô hấp có xu hướng tăng và nhóm mang thai, sinh đẻ và hậu sản có xu hướng giảm ở người bệnh điều trị nội trú.</p> Nguyễn Thành Mạnh, Hoàng Thị Thùy Trang, Hoàng Văn Chiến, Nguyễn Thị Hải Yến, Nguyễn Văn Phong Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17979 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 MỐI LIÊN QUAN GIỮA MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ KHẢ NĂNG TÁI PHÁT VIÊM TAI GIỮA CẤP Ở TRẺ ≤ 3 TUỔI TẠI TRUNG TÂM Y TẾ KHU VỰC CẨM KHÊ NĂM 2024-2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17980 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Nghiên cứu nhằm xác định mối liên quan của một số yếu tố nguy cơ và khả năng tái phát viêm tai giữa cấp ở trẻ ≤ 3 tuổi tại Trung tâm Y tế khu vực Cẩm Khê năm 2024-2025. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên trẻ ≤ 3 tuổi được chẩn đoán xác định là viêm tai giữa cấp (VTG) trong giai đoạn từ tháng 10/2024 đến tháng 09/2025. <strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ nam (59,9%) cao hơn trẻ nữ (40,1%). Tỷ lệ khởi phát VTG cấp ở trẻ em ≤ 3 tuổi gặp nhiều nhất ở nhóm trẻ từ 6 tháng đến 12 tháng tuổi (40,8%). Thời gian mắc bệnh nhiều nhất vào mùa thu và đông. Triệu chứng cơ năng gặp nhiều nhất là chảy mũi, ngạt mũi, sốt và ngoáy tai. Tỷ lệ gặp viêm tai giữa ở 2 tai tương đương nhau. Màng nhĩ phồng hoặc có lỗ thủng và mủ ở ống tai. Thường có viêm mũi xoang kèm theo với VTG cấp. Trẻ em ≤ 3 tuổi mắc VTG cấp mắc bệnh lần đầu tuổi càng nhỏ thì nguy cơ tái phát càng cao. Trẻ được rửa mũi thì nguy cơ tái phát VTG cấp càng cao. Trẻ mắc trào ngược hầu họng-thanh quản có nguy cơ tái phát VTG cấp càng cao. <strong>Kết luận</strong>: Có sự liên quan chặt chẽ giữa rửa mũi,&nbsp; trào ngược họng hầu - thanh quản và tình trạng VTG cấp. Cần cho trẻ đi khám sớm để phát hiện sớm VTG cấp và điều trị kịp thời tránh biến chứng VTG cấp.</p> Phạm Vân Anh, Nguyễn Thị Hà, Lê Thị Kim Dung Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17980 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 THỰC TRẠNG BÍ TIỂU SAU PHẪU THUẬT NGOẠI KHOA TẠI TRUNG TÂM Y TẾ KHU VỰC CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ NĂM 2025 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17981 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả thực trạng bí tiểu sau phẫu thuật (POUR) ngoại khoa tại Trung tâm Y tế khu vực Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ năm 2025 và một số yếu tố liên quan. <strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc trên 384 người bệnh phẫu thuật ngoại khoa tại Trung tâm y tế khu vực Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ từ tháng 03/2025 đến tháng 10/2025. Thu thập số liệu qua hồ sơ bệnh án và phỏng vấn lâm sàng. <strong>Kết quả: </strong>Trong 384 người bệnh, 16,9% (65/384) có triệu chứng bí tiểu. Tỷ lệ bí tiểu cần can thiệp là 8,9%. Nam giới có nguy cơ bí tiểu cao hơn nữ giới (OR = 36,47; 95% CI: 11,38–116,96). Tiểu đường làm tăng đáng kể nguy cơ bí tiểu, với (OR = 12,6; 95% CI: 2,76–52,69). Bệnh lý tiết niệu làm tăng nguy cơ bí tiểu (OR = 4,25; 95% CI: 1,02–17,72). Phẫu thuật chấn thương làm tăng nguy cơ 5,02 lần (OR = 5,02; 95% CI: 1,65–15,24). Những người bệnh được gây tê tủy sống có nguy cơ bí tiểu cao hơn những người được gây mê (OR = 3,02; 95% CI: 1,01–8,08). <strong>Kết luận: </strong>Bí tiểu sau phẫu thuật ngoại khoa là một biến chứng phổ biến. Nam giới, bệnh lý nền, phẫu thuật chấn thương và phương pháp vô cảm gây tê tủy sống là các yếu tố nguy cơ chính. <strong>Kết luận</strong>: Cần có quy trình sàng lọc, theo dõi sớm và đầu tư máy siêu âm bàng quang để cải thiện chất lượng điều trị.</p> Nguyễn Quang Phú, Nguyễn Thị Thùy Dung, Vũ Thị Thu Giang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17981 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG TỬ VONG CỦA MÔ HÌNH MÁY HỌC RỪNG NGẪU NHIÊN Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17982 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá giá trị tiên lượng tử vong của mô hình máy học rừng ngẫu nhiên ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên 540 bệnh nhân NMCT cấp điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01/2020 đến 09/2021. Các dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng, tổn thương động mạch vành và điều trị được thu thập để huấn luyện và kiểm tra mô hình rừng ngẫu nhiên bằng Python 3.12. Dữ liệu được chuẩn hóa, cân bằng mẫu bằng phương pháp SMOTE và phân tích thành phần chính nhằm xác định các yếu tố quan trọng. Hiệu năng mô hình được đánh giá bằng diện tích dưới đường cong ROC (AUC) và độ chính xác. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu là 64,0 ± 11,6; nam giới chiếm 71,3%. Tỷ lệ tử vong trong vòng 12 tháng là 10,7%. Mười yếu tố quan trọng nhất trong mô hình tiên lượng tử vong gồm phân độ Killip, thể lâm sàng NMCT, tổn thương động mạch vành phải và động mạch xuống trước trái, hút thuốc lá, sử dụng thuốc ức chế men chuyển/chẹn thụ thể angiotensin II (ACEi/ARB), thiếu máu, nồng độ troponin I lúc nhập viện, tuổi và điểm Gensini. Trên bộ dữ liệu ban đầu, mô hình đạt AUC từ 0,653 đến 0,730 và độ chính xác từ 0,889 đến 0,907. Sau khi chuẩn hóa và cân bằng mẫu, AUC tăng lên 0,709–0,730. <strong>Kết luận:</strong> Mô hình máy học rừng ngẫu nhiên có khả năng tiên lượng tử vong ở bệnh nhân NMCT cấp với hiệu năng ở mức khá.</p> Trần Công Duy, Lý Quang Sang, Mai Quốc Thành, Nguyễn Đinh Quốc Anh, Thái Thanh Trúc, Hoàng Văn Sỹ Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17982 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 NỒNG ĐỘ VITAMIN B12 SAU PHẪU THUẬT VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ DẠ DÀY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17983 <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Đánh giá tình trạng vitamin B12 sau phẫu thuật ở bệnh nhân ung thư dạ dày (UTDD) và mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng. <strong><em>Đối tượng và phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu trên 68 bệnh nhân UTDD điều trị tại Khoa Phẫu thuật Tiêu hóa, Bệnh viện TƯQĐ108 từ tháng 7/2025 đến tháng 10/2025. Định lượng vitamin B12 huyết tương bằng phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang. Dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng được thu thập và phân tích mối liên quan với vitamin B12 sau phẫu thuật cắt dạ dày 1 tháng. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Tỷ lệ giảm vitamin B12 sau phẫu thuật ở bệnh nhân UTDD là 19,1%. Giảm B12 có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với giai đoạn bệnh (p = 0,002), kích thước khối u (p = 0,055), mức độ xâm lấn u (p = 0,051) và tình trạng thiếu máu sau phẫu thuật (p &lt; 0,001). Một số yếu tố làm tăng nguy cơ giảm B12 gồm: giai đoạn III–IV (OR = 14,4), số lượng hồng cầu/hemoglobin giảm (OR = 22,77 và 22). <strong><em>Kết luận:</em></strong> Giảm vitamin B12 là tình trạng thường gặp ở bệnh nhân UTDD sau phẫu thuật, đặc biệt ở nhóm giai đoạn tiến triển và kèm theo tỷ lệ thiếu máu cao hơn.</p> Nguyễn Thị Quỳnh Châm, Đinh Thị Thảo, Đặng Thế Hưng, Nguyễn Cẩm Thạch Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17983 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CHỬA NGOÀI TỬ CUNG Ở VÒI TRỨNG TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17984 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả phẫu thuật của bệnh nhân chửa ngoài tử cung ở vòi trứng tại Bệnh viện Bạch Mai. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu thực hiện trên 60 hồ sơ bệnh án của những bệnh nhân được chẩn đoán chửa ngoài tử cung ở vòi trứng và can thiệp phẫu thuật tại khoa Phụ sản - Bệnh viện Bạch Mai từ 01/01/2024 đến hết ngày 31/12/2024. <strong>Kết quả: </strong>Phương pháp mổ nội soi chiếm 76,7% và mổ mở chiếm 23,3%. Nhóm bệnh nhân được phẫu thuật &lt; 24h kể từ khi vào viện chiếm tỷ lệ cao nhất với 51,7%. Khối chửa ở đoạn bóng vòi tử cung chiếm tỷ lệ cao nhất với 73,3%. Tỷ lệ mổ mở khi chửa tại đoạn kẽ là 75%. Khối chửa chưa vỡ rỉ máu trong ổ bụng là dạng phổ biến nhất với tỷ lệ 73,3%.&nbsp; Có 33,3% trường hợp khối chửa đã vỡ, và tỷ lệ mổ mở khi khối chửa đã vỡ là 60%. Lượng máu trong ổ bụng khi phẫu thuật thường gặp nhất là từ 100ml - &lt;500ml chiếm tỷ lệ 60%. Tỷ lệ mổ mở tăng cao khi lượng máu mất &gt; 500ml. <strong>Kết luận:</strong> Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị chủ yếu và hiệu quả trong xử trí chửa ngoài tử cung. Phẫu thuật nội soi chiếm ưu thế, tuy nhiên, mổ mở vẫn cần thiết trong các trường hợp khối chửa đã vỡ và tình trạng huyết động không ổn định</p> Phạm Tuấn Linh, Lê Sỹ Dũng, Kiều Thị Thanh, Vũ Thị Lệ Mỹ Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17984 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT U XƠ CƠ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17985 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nhận xét kết quả điều trị phẫu thuật u xơ cơ tử cung tại Bệnh viện Bạch Mai. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu thực hiện trên 118 hồ sơ bệnh án của những bệnh nhân được chẩn đoán là u xơ cơ tử cung đã được phẫu thuật ngoại khoa tại khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch Mai từ 01/01/2024 đến hết ngày 31/12/2024. <strong>Kết quả:</strong> Phẫu thuật mổ mở điều trị UXCTC chiếm đại đa số với 94,1%, trong đó mổ mở cắt tử cung hoàn toàn là chủ yếu với 99/111 trường hợp. Phẫu thuật mổ nội soi có 7 trường hợp, chiếm 5,9%, tất cả đều là phẫu thuật cắt tử cung hoàn toàn. Phần lớn các ca phẫu thuật kéo dài từ 60 - 120 phút với tỷ lệ 68,6%. Có 35/118 bệnh nhân phải truyền máu trước mổ, chiếm 29,7%. Trong nhóm bệnh nhân mổ nội soi, tỉ lệ có kích thước tử cung &lt; 8 tuần chiếm 57,1%. Tất cả bệnh nhân có kích thước tử cung &gt; 12 tuần đều được chỉ định mổ mở. 94,1% các ca phẫu thuật thành công, không có biến chứng. <strong>Kết luận:</strong> Điều trị phẫu thuật u xơ cơ tử cung tại Bệnh viện Bạch Mai chủ yếu là mổ mở với cắt tử cung hoàn toàn, đa số các trường hợp không ghi nhận tai biến. Việc đánh giá đầy đủ các yếu tố liên quan giúp phẫu thuật viên lựa chọn phương pháp phù hợp, bảo đảm an toàn cho người bệnh.</p> Phan Thị Thu Hằng, Lê Sỹ Dũng, Lê Thị Thùy Linh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17985 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ XỬ TRÍ SẢN KHOA CÁC THAI PHỤ MẮC BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG TRONG 3 THÁNG CUỐI THAI KỲ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17986 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nhận xét kết quả xử trí sản khoa các thai phụ mắc bệnh lupus ban đỏ hệ thống trong 3 tháng cuối thai kỳ tại Bệnh viện Bạch Mai. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu thực hiện trên 45 hồ sơ bệnh án của những thai phụ mắc bệnh lupus ban đỏ hệ thống kết thúc thai nghén trong 3 tháng cuối thai kỳ tại Bệnh viện Bạch Mai từ 01/01/2024 đến 31/12/2024. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 29,0 ± 4.8 tuổi. Thời gian mắc bệnh trung bình là 4,3 ± 2,5 năm. Tỷ lệ sản phụ phát hiện bệnh trong quá trình mang thai là 15,6%. Có 17,8% sản phụ được điều trị phối hợp methylprednisolon và HCQ. Tỷ lệ thai đủ tháng, thai non tháng, thai lưu, thai chậm phát triển trong tử cung lần lượt là 51,1%, 44,4%, 2,2%, 45,5%. Tỷ lệ mổ lấy thai là 95,5%, trong đó chủ yếu là mổ lấy thai chủ động. 15,4 % sản phụ có biến chứng trong quá trình mang thai và hậu sản, chủ yếu xảy ra ở tuổi thai &lt; 37 tuần. <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ các thai kỳ bất lợi như thai non tháng, thai chậm phát triển trong tử cung,... vẫn còn ở mức cao. Cần tăng cường tuyên truyền, theo dõi thai kỳ sát sao, đồng thời cần phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa trong quản lý thai nghén của những thai phụ mắc lupus ban đỏ hệ thống.</p> Lê Sỹ Dũng, Phan Thị Thu Hằng, Đoàn Mạnh Tín, Lê Thị Thùy Linh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17986 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT U BÌ KẾT GIÁC MẠC CÓ GHÉP KẾT MẠC RÌA TỰ THÂN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17987 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá kết quả giải phẫu, thẩm mỹ của phẫu thuật u bì kết giác mạc bằng phương pháp cắt u có ghép kết mạc rìa tự thân. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu hồi cứu hồ sơ của 45 mắt (45 bệnh nhân) u bì kết giác mạc điều trị bằng phương pháp cắt u có ghép kết mạc rìa tự thân tại bệnh viện Mắt Trung Ương từ 1/2018 - 4/2025. <strong>Kết quả</strong>: 45 mắt (45 bệnh nhân) được đưa vào nghiên cứu, tỉ lệ nam/nữ = 1/1. Tuổi trung bình 13,1 ± 6,6 (từ 5-30 tuổi). Sau phẫu thuật, 42/45 mắt đạt kết quả tốt về giải phẫu, chiếm 93,4%, 45/45 bệnh nhân hài lòng về kết quả thẩm mỹ, đạt 100%. <strong>Kết luận</strong>: U bì kết giác mạc ở trẻ em ảnh hưởng đến chức năng và thẩm mỹ, đặc biệt ở trẻ tuổi đến trường. Đa số u là đơn độc, một mắt, nằm ở vùng rìa dưới ngoài. Phẫu thuật cắt u có ghép kết mạc rìa tự thân là phương pháp đơn giản, dễ áp dụng, giá thành thấp. Việc theo dõi và chăm sóc sau phẫu thuật dễ dàng, phương pháp mang lại kết quả ổn định lâu dài</p> Trần Khánh Sâm, Trần Thị Hương Trà, Lê Thuỳ Dung Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17987 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, KỸ THUẬT VÀ CÁC BIẾN CỐ NGOẠI Ý KHI ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN TẠI KHOA CẤP CỨU BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17988 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Đặt nội khí quản (NKQ) là kỹ thuật quản lý đường thở được sử dụng nhiều nhất trong hồi sức cấp cứu, tuy nhiên có nguy cơ biến chứng cao. Xác định các đặc điểm lâm sàng, kỹ thuật và biến cố ngoại ý khi đặt NKQ cấp cứu sẽ giúp bác sĩ lâm sàng có thêm thông tin để đánh giá và chuẩn bị người bệnh, giảm thiểu biến cố ngoại ý. <strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, kỹ thuật và các biến cố ngoại ý khi đặt NKQ tại khoa Cấp cứu. <strong>Phương pháp và đối tượng nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu quan sát tiến cứu, đối tượng nghiên cứu là tất cả các người bệnh có chỉ định đặt NKQ tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Đại học Y dược TPHCM không do ngưng tim, từ 01/03/2024 đến 28/02/2025. <strong>Kết quả:</strong> Trong thời gian nghiên cứu, thu nhận 249 người bệnh. Trong đó, tỷ lệ nam: nữ ~ 1:1, tuổi trung bình 68,3 ± 17,21 tuổi, 87,6% có ít nhất 1 bệnh đồng mắc. Chỉ định đặt NKQ thường gặp nhất là suy hô hấp (41,8%). Về kỹ thuật: 100% trường hợp được preoxygenation, 86,7% có sử dụng an thần, 83,9% có sử dụng giãn cơ; 77,1% sử dụng kỹ thuật đặt NKQ chuỗi nhanh; 96,4% sử dụng đèn soi có video. Tất cả các trường hợp được đặt NKQ thành công, tỷ lệ đặt NKQ thành công từ lần đầu tiên là 92,8%. Tỷ lệ biến cố ngoại ý là 18,9%. Trong đó, tụt huyết áp thường gặp nhất với 9,6%, kế đến là ngưng tim (4%) và NKQ sâu (2%). <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ thành công từ lần đặt đầu tiên cao, tuy nhiên tỷ lệ biến cố ngoại ý còn cao. Tụt huyết áp và ngưng tim quanh đặt NKQ là 2 biến cố thường gặp nhất. Cần có chiến lược phòng ngừa và hồi sức thích hợp.</p> Nguyễn Hoàng Duy, Nguyễn Viết Hậu, Đặng Kim Ngân, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Xuân Vinh, Tăng Tuấn Phong Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17988 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH TRONG BỆNH LÝ KAWASAKI TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17989 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Động mạch (ĐM) vành gồm ĐMV trái và phải xuất phát từ gốc ĐM chủ, dẫn máu giàu oxy và dinh dưỡng đến nuôi toàn bộ tim. Bệnh lý ĐMV ở trẻ em rất hiếm (≠ 1% dân số) từ nguyên nhân: Bẩm sinh: Bệnh ĐMV đơn thuần (ĐMV xuất phát từ ĐM phổi: Alcapa; không có ĐMV (P) hoặc (T); ĐMV thông với các cấu trúc khác: buồng tim, ĐM lớn: dò ĐMV) và bệnh ĐMV kèm TBS khác (Fallot, chuyển vị đại động mạch, bất sản ĐMP). Mắc phải: Phình, giãn, huyết khối ĐMV trong Kawasaki; xơ vữa ĐM; bệnh ĐMV sau chấn thương, nhiễm trùng, bệnh mô liên kết. Co thắt, cầu cơ ĐMV. Kawasaki là bệnh lý viêm mạch máu hệ thống cấp tính, xảy ra ở nhũ nhi và trẻ nhỏ. Tổn thương chủ yếu trên các mạch máu có kích thước trung bình và nhỏ mà quan trọng nhất là hệ mạch vành. Phình mạch vành xảy ra trong 15 đến 25% trường hợp không được điều trị, có thể dẫn đến bệnh tim thiếu máu và đột tử. <strong>Mục tiêu<em>:</em> </strong>Đánh giá kết quả ngắn hạn về lâm sàng và điều trị bệnh ĐMV trong bệnh lý Kawasaki. <strong>Phương pháp</strong>: Quan sát, hồi cứu từ 06-2024 – 08-2025 có 4 BN bệnh ĐMV có can thiệp phẫu thuật tại Khoa Hồi sức phẫu thuật tim trẻ em - Bệnh viện Chợ Rẫy. <strong>Kết quả: </strong>Gồm 4 BN: 2 nam, 2 nữ. Tuổi trung bình: 9. Triệu chứng chủ yếu: Mệt, đau ngực khi gắng sức. Tổn thương: Phình, giãn và huyết khối ĐMV/ Kawasaki, tổn thương cả 3 nhánh ĐMV: xuống trước trái (LAD), ĐM mũ, ĐM vành (P). Phẫu thuật: Cầu nối ĐMC - ĐMV; tái tạo ĐMV (P). Vật liệu: ĐM ngực trong (T), tĩnh mạch hiển, màng tim sinh học. Không biến chứng tử vong sớm. <strong>Kết luận: </strong>Bệnh lý ĐMV trong bệnh Kawasaki trẻ em hiếm gặp, đa dạng, tổn thương rất phức tạp; phong phú về lâm sàng từ không có triệu chứng đến có triệu chứng trầm trọng, đe dọa tính mạng bệnh nhân. Chẩn đoán chắc chắn: Siêu âm tim, CTScan, thông tim chụp mạch vành. Kỹ thuật phẫu thuật đa dạng tùy tổn thương, có thách thức nhất định. Kết quả phẫu thuật tùy từng loại tổn thương, an toàn, tốt. Tuy nhiên cần theo dõi lâu dài và tổng kết số lượng Bệnh nhân nhiều hơn</p> Lê Thành Khánh Vân, Hoàng Ngọc Vi, Lê Thành Khánh Phong Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17989 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT THAY VAN ĐỘNG MẠCH PHỔI TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17990 <p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Phẫu thuật thay van động mạch phổi sinh học là một trong những phương pháp được lựa chọn cho những bệnh nhân có tình trạng hẹp hoặc hở van động mạch phổi nặng. Đây thường là hệ quả tất yếu hoặc biến chứng muộn sau các phẫu thuật sửa chữa tim bẩm sinh phức tạp, đặc biệt là tứ chứng Fallot, teo van động mạch phổi có thông liên thất hoặc các tổn thương đường ra thất phải. Tình trạng hở van phổi kéo dài sẽ gây quá tải thể tích thất phải, dẫn đến giãn buồng tim, suy chức năng thất phải và gia tăng các rối loạn nhịp nguy hiểm tính mạng Bệnh nhân. Việc thay van kịp thời không chỉ giúp hồi phục huyết động bình thường mà còn đóng vai trò quyết định trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống và ngăn ngừa các biến chứng tử vong dài hạn cho bệnh nhi. <strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật thay van động mạch phổi sinh học trẻ em tại bệnh viện Chợ Rẫy. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu mô tả, thực hiện trên 07 bệnh nhân có tổn thương van ĐM phổi, điều trị phẫu thuật thay van động mạch phổi sinh học trong khoảng thời gian từ tháng 12/2024 đến tháng 10/2025 tại khoa Hồi sức phẫu thuật tim trẻ em bệnh viện Chợ rẫy. Nghiên cứu sử dụng thông tin từ hồ sơ bệnh án. Số liệu được xử lý, làm sạch và phân tích bởi phần mềm SPSS 22.0. <strong>Kết quả: </strong>Nghiên cứu chúng tôi đạt được kết quả như sau: tuổi trung bình là 10,7. Triệu chứng thường gặp nhất là mệt: 71,4 %, khó thở: 28,6%. Siêu âm tim trước mổ đa số bị hở van động mạch phổi: 04 ca (57,1%) với kích thước thất phải trung bình 50,1mm; đường kính vòng van động mạch phổi trước mổ là 19. Trong phẫu thuật, 100% bệnh nhân được thay van sinh học. Thời gian phẫu thuật trung bình là 375,7 phút và thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể là 147,1 phút. Siêu âm tim sau mổ cho thấy hoạt động của van tốt, không có hẹp hoặc hở van đáng kể, chức năng thất phải được cải thiện. Biến chứng sau mổ ghi nhận được chủ yếu là rối loạn nhịp tim điều trị nội. Không ghi nhận trường hợp tử vong sớm. <strong>Kết luận: </strong>Phẫu thuật thay van động mạch phổi sinh học mang lại kết quả tốt.</p> Lê Thành Khánh Vân, Nguyễn Trần Khánh Linh, Lê Thành Khánh Phong Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17990 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM BÓC NHÂN PHÌ ĐẠI LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT NỘI SOI QUA NIỆU ĐẠO BẰNG LASER HOLMIUM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17991 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật bóc nhân phì đại lành tính tuyến tiền liệt (TTL) nội soi qua niệu đạo bằng Laser Holmium (HoLEP) trên các khối u kích thước lớn. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 48 bệnh nhân được chẩn đoán phì đại lành tính TTL với thể tích tuyến &gt;60 mL, được phẫu thuật HoLEP tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ tháng 5/2019 đến tháng 5/2025. Các chỉ số theo dõi bao gồm: IPSS, QoL, Qmax, thể tích TTL, thời gian phẫu thuật, và các biến chứng theo phân loại Clavien-Dindo. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của BN là 68,32 ± 9,4. Thể tích TTL trung bình là 80 ± 19 mL. Thời gian phẫu thuật trung bình là 98,7 ± 52,5 phút, trong đó thời gian xay mô là 40,56 ± 10,5 phút. Tại thời điểm theo dõi sau mổ, điểm IPSS giảm từ 26,08 ± 3,1 xuống 6,15 ± 1,6 (p&lt;0,001). Không ghi nhận hội chứng nội soi. Tỷ lệ tiểu không tự chủ tạm thời là 4,2%. <strong>Kết luận:</strong> HoLEP là phương pháp an toàn và hiệu quả cho phì đại lành tính TTL kích thước lớn, giúp cải thiện rõ rệt triệu chứng đường tiểu dưới, rút ngắn thời gian nằm viện và hạn chế tối đa biến chứng mất máu.</p> Hoàng Thọ, Nguyễn Thanh Hải, Ngô Duy Minh, Nguyễn Lê Duy, Lê Văn Hùng, Trần Thị Thu Hiền Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17991 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT CỦA THUỐC ỨC CHẾ SGLT-2 TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG NAI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17992 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát hiệu quả của nhóm thuốc ức chế SGLT-2 trên bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 (ĐTĐ2) điều trị ngoại trú. <strong>Đối tượng và phương&nbsp; pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu hồi cứu cắt ngang mô tả được thực hiện từ 1/2023 đến 6/2024 trên 204 BN ĐTĐ 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa Đồng Nai có sử dụng nhóm thuốc SGLT-2i. <strong>Kết quả:</strong> BN có tuổi trung vị 67 (61 – 71,75). Tỷ lệ nữ nhiều hơn nam. Số thuốc trung bình mỗi toa là 7 (5 - 8). Tăng huyết áp và rối loạn lipid máu là 2 bệnh lý mắc kèm thường gặp. Phần lớn BN được chỉ định phác đồ phối hợp thuốc. DPP4i và metformin là 2 nhóm thuốc được phối hợp với SGLT-2i nhiều nhất. Sau thời gian điều trị, đường huyết đói (ĐHĐ) và HbA1c của BN đều cải thiện. Tỷ lệ BN đạt mục tiêu ĐHĐ và HbA1c tăng có ý nghĩa (p &lt; 0,05). HbA1c ban đầu có liên quan đến khả năng đạt mục tiêu HbA1c (&lt; 7%) sau thời gian điều trị. <strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu ghi nhận được hiệu quả sử dụng các phác đồ điều trị có SGLT-2i thông qua cải thiện tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu HbA1c và đường huyết đói ở BN ĐTĐ2.</p> Nguyễn Dương Thiên Thanh, Phạm Văn Huy, Nguyễn Thị Minh Thuận Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17992 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN CỐ NGOẠI Ý KHI ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN TẠI KHOA CẤP CỨU BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17993 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Đặt nội khí quản (ĐNKQ) là thủ thuật trọng yếu trong kiểm soát đường thở tại khoa Cấp cứu. Tuy nhiên, thủ thuật này tiềm ẩn nguy cơ xảy ra các biến cố ngoại ý (BCNY), có thể ảnh hưởng đáng kể đến tiên lượng của người bệnh (NB). Do đó, việc nhận diện và phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan đến BCNY trong quá trình ĐNKQ đóng vai trò then chốt nhằm tối ưu hóa hiệu quả can thiệp và đảm bảo an toàn cho NB. <strong>Mục tiêu nghiên cứu</strong>: Khảo sát yếu tố đặc điểm nhân khẩu, lâm sàng, cận lâm sàng và bối cảnh quanh thủ thuật với BCNY. <strong>Thiết kế nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu quan sát tiến cứu thực hiện trên NB có chỉ định ĐNKQ tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh không do ngưng tim, trong giai đoạn từ 01/03/2024 đến 28/02/2025. <strong>Kết</strong><strong> quả</strong>: Chúng tôi ghi nhận 249 NB độ tuổi trung bình 68,3 ± 17,2.Trong đó 18,9% ghi nhận BCNY: chủ yếu là tụt huyết áp, ngưng tim quanh đặt NKQ và nhịp chậm với lần lượt 9,6%, 4% và 1,2%. Các biến cố khác như chấn thương môi răng, hầu họng chiếm 1,2%, đặt nhầm vào thực quản 0,8% và &nbsp;ĐNKQ sâu 2,8%. Phân tích đơn biến cho thấy các yếu tố liên quan đến BCNY bao gồm: tiền căn bệnh phổi mạn, huyết áp tâm thu (HATT) trước và sau ĐNKQ, huyết áp tâm trương (HATTr) trước và sau ĐNKQ, cùng với các thông số khí máu động mạch (pH, pCO₂). Phân tích hồi quy logistic đa biến xác định hai yếu tố có ý nghĩa thống kê: (1) HATTr sau ĐNKQ (OR = 0,91; KTC 95%: 0,88–0,94; p &lt; 0,001) và (2) sự kết hợp giữa kinh nghiệm của người thực hiện với thời gian tiến hành thủ thuật (OR = 1,002; KTC 95%: 1,002–1,004; p = 0,016). <strong>Kết luận</strong>: Nghiên cứu cho thấy huyết áp tâm trương sau ĐNKQ cùng với kinh nghiệm và thời gian thao tác của người thực hiện có liên quan chặt chẽ đến nguy cơ xuất hiện BCNY. Việc theo dõi sát các thông số huyết động và tối ưu hóa kỹ năng thực hành của bác sĩ lâm sàng là những yếu tố then chốt nhằm giảm thiểu biến cố và nâng cao tính an toàn trong thủ thuật ĐNKQ tại khoa Cấp cứu.</p> Đặng Kim Ngân, Nguyễn Viết Hậu, Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Hoàng Duy, Nguyễn Quốc Huy Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17993 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 VAI TRÒ CỦA THANG ĐIỂM ARISCAT TRONG ĐÁNH GIÁ BIẾN CHỨNG HÔ HẤP HẬU PHẪU https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17994 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Biến chứng hô hấp hậu phẫu là một trong những nguyên nhân hàng đầu làm tăng tử vong, thời gian nằm viện và chi phí điều trị. Cho đến nay, biến chứng hô hấp hậu phẫu còn được báo cáo với tỉ lệ khá cao, khoảng 14% (dao động từ 7%-35%)<sup>(4)</sup>. Việc đánh giá nguy cơ trước phẫu thuật cần dựa vào thăm khám lâm sàng một cách toàn diện. Thăm khám lâm sàng là công cụ quan trọng nhất để đánh giá nguy cơ hô hấp trước phẫu thuật. Có nhiều chỉ số ước lượng nguy cơ hô hấp trước phẫu thuật thường được áp dụng như ARISCAT, GUPTA, và AROZULLAH. Chỉ số ARISCAT có ưu điểm đơn giản, có thể được áp dụng như một công cụ hỗ trợ lâm sàng. <strong>Kết quả nghiên cứu: </strong>Có 200 người bệnh tham gia nghiên cứu, trong đó có 106 nam (53%) và 94 nữ (47%). Độ tuổi trung bình 53,69 ± 17,92, nhỏ nhất 17 tuổi, lớn nhất 88 tuổi. Có 35 người có bệnh kèm theo (chiếm 17,5%). Trong đó, Tăng huyết áp thường gặp nhất (7%). Đái tháo đường type 2 và bệnh tim thiếu máu cục bộ cũng thường gặp trong nghiên cứu của chúng tôi với tỉ lệ lần lượt là 4% và 3,5%. Phẫu thuật cắt ruột thừa nội soi chiếm tỉ lệ cao nhất (42,5%). Phẫu thuật cắt đoạn đại trực tràng cũng chiếm tỉ lệ khá cao (13,5%). Mở bụng thăm dò, dẫn lưu và ERCP cũng thường gặp trong nghiên cứu của chúng tôi với tỉ lệ lần lượt là 8,5% và 7,5%. Biến chứng hô hấp hậu phẫu xảy ra trên 26 người bệnh, chiếm 13%. Trong đó suy hô hấp là biến chứng thường gặp nhất (34,6%). Các biến chứng hô hấp hậu phẫu khác là: Viêm phổi hít (30,8%), Xẹp phổi (19,2%), co thắt phế quản (15,4%). Điểm ARISCAT trung vị là 11 điểm, dao động từ 0 đến 91 điểm. Trong đó, nhóm điểm ARISCAT thấp (&lt;26 điểm) có 142 bệnh nhân chiếm tỉ lệ cao nhất (71%). Nhóm điểm ARISCAT trung bình (26-44 điểm) có 38 bệnh nhân, chiếm 19%, nhóm điểm ARISCAT cao có 20 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ 10%. Thời gian thở máy sau phẫu thuật ở bệnh nhân có nhóm điểm ARISCAT thấp ngắn hơn thời gian thở máy ở bệnh nhân trong nhóm điểm ARISCAT trung bình và nhóm điểm ARISCAT cao, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p lần lượt là 0,0019 và &lt;0,0001. Không có sự khác biệt về thời gian thở máy sau phẫu thuật giữa bệnh nhân ở 2 nhóm điểm ARISCAT trung bình và cao (p= 0,0701). Thời gian nằm phòng HSHP ở bệnh nhân có nhóm điểm ARISCAT thấp ngắn hơn thời gian thở máy ở bệnh nhân trong nhóm điểm ARISCAT trung bình và nhóm điểm ARISCAT cao, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p là &lt;0,0001. Không có sự khác biệt về thời gian nằm phòng HSHP giữa bệnh nhân ở 2 nhóm điểm ARISCAT trung bình và cao (p= 0,2). Điểm ARISCAT càng cao thì thời gian nằm viện càng dài, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (giá trị p chung là 0,0001 và giá trị p giữa từng cặp nhóm lần lượt là &lt;0,0001; 0,002; &lt;0,0001. Bảng điểm ARISCAT có giá trị tiên lượng tốt biến chứng hô hấp hậu phẫu với giá trị diện tích dưới đường cong AUC: 84,56 % (95% CI: 76,034% - 93,086%). <strong>Kết luận: </strong>Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ biến chứng hô hấp hậu phẫu, thời gian thở máy, thời gian nằm phòng hồi sức hậu phẫu, thời gian nằm viện giữa nhóm bệnh nhân có điểm ARISCAT thấp và Trung bình – cao. Bảng điểm ARISCAT có giá trị tiên lượng tốt biến chứng hô hấp hậu phẫu với giá trị diện tích dưới đường cong AUC: 84,56 % (95% CI: 76,034% - 93,086%).</p> Ngô Nguyễn Thị Triều Dâng, Đinh Nhị Kiều Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17994 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN PHÂN LẬP TỪ THỰC PHẨM ĐƯỜNG PHỐ TẠI PHƯỜNG BÌNH LỢI TRUNG, TP.HCM https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17995 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Thức ăn đường phố ngày càng phổ biến nhờ tính tiện lợi và đa dạng. Tuy nhiên điều kiện chế biến và bảo quản tại nhiều cơ sở chưa đảm bảo vệ sinh, làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật và ngộ độc thực phẩm. Đặc biệt, sự xuất hiện của vi khuẩn gây bệnh có khả năng đề kháng kháng sinh trong thức ăn đường phố đang trở thành mối lo ngại đối với sức khỏe cộng đồng. <strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá mức độ nhiễm khuẩn (vi khuẩn hiếu khí, E. coli, Salmonella spp.) và xác định tính đề kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được từ thức ăn đường phố tại khu vực trường đại học và bệnh viện thuộc phường Bình Lợi Trung, TP.HCM. <strong>Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:</strong> 250 mẫu thức ăn đường phố (cơm hộp, bánh mì thịt, gỏi cuốn, bánh tráng trộn và bún riêu) tại phường Bình Lợi Trung, phương pháp mô tả thiết kế cắt ngang. Các chỉ tiêu vi sinh được xác định theo phương pháp tiêu chuẩn; tính đề kháng kháng sinh đánh giá bằng kháng sinh đồ. <strong>Kết quả: </strong>72% (180/250 mẫu) không đạt yêu cầu vi sinh. Gỏi cuốn có tỷ lệ nhiễm cao nhất (100%), tiếp theo là bánh mì thịt (86%), bánh tráng trộn (68%), bún riêu (54%) và cơm hộp (52%). Phân lập được 43 chủng E. coli (23,89%) và 9 chủng Salmonella spp. (5%). E. coli kháng Tetracycline (23,26%), Cefoxitin (16,28%), Ciprofloxacin (13,95%), Sulfamethoxazole/Trimethoprim và Nalidixic acid (11,63%), ghi nhận một chủng đa kháng đồng thời với 6/10 loại kháng sinh. Salmonella spp. kháng Tetracycline và Nalidixic acid (33%) và kháng cao với Cefoxitin (66,67%). <strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu cho thấy thức ăn đường phố tại phường Bình Lợi Trung, TP.HCM có ô nhiễm vi sinh vật cao, với sự hiện diện của E. coli và Salmonella spp. đề kháng, đa kháng kháng sinh, tiềm ẩn nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng.&nbsp;</p> Nguyễn Xuân Mai, Phạm Trường Thịnh, Nguyễn Nhật Duy, Trần Đại Dương, Lê Trịnh Bích Liên, Lưu Lệ Khanh, Phẩm Minh Thu Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17995 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 TỶ LỆ TÁI PHÁT VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN SAU ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA VIÊM RUỘT THỪA CẤP KHÔNG BIẾN CHỨNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17996 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Điều trị kháng sinh cho viêm ruột thừa cấp (VRTC) không biến chứng ngày càng được sử dụng như lựa chọn thay thế phẫu thuật ở nhóm người bệnh chọn lọc. Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ thành công ban đầu và nguy cơ tái phát dài hạn trong thực hành lâm sàng. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu đoàn hệ theo dõi dọc tại Bệnh viện Trưng Vương, tuyển các trường hợp VRTC không biến chứng được xác định bằng CT và điều trị kháng sinh ban đầu từ 06/2015–08/2020. Tiêu chuẩn CT không biến chứng: không thủng, không áp-xe, không đám quánh, không khí tự do và không dịch tự do nhiều; sỏi phân không loại trừ. Phác đồ: ceftriaxone + metronidazole; nếu dị ứng cephalosporin dùng ciprofloxacin + metronidazole. Người bệnh theo dõi nội trú tối thiểu 48 giờ; chuyển phẫu thuật khi đau tăng, sốt kéo dài, bạch cầu tăng, có dấu viêm phúc mạc hoặc diễn tiến xấu. Thành công ban đầu: xuất viện không phẫu thuật; thất bại: phải phẫu thuật trong đợt điều trị. Theo dõi sau xuất viện qua điện thoại; phân tích sống còn Kaplan–Meier và log-rank (p&lt;0,05). <strong>Kết quả:</strong> Trong 5.750 trường hợp, có 222 ca điều trị nội khoa; tuổi trung bình 39,2±14,1, nam 42,7%. Tỷ lệ thành công ban đầu 95,5% (212/222), thất bại 4,5% (10/222); không tử vong. Trong 212 ca thành công, theo dõi được 164 ca (mất liên lạc 48); thời gian theo dõi trung vị 19 tháng, tối đa 75 tháng. Có 33 ca tái phát; tỷ lệ tái phát tích lũy tại 12/24/36/48 tháng lần lượt 13,7%/17,4%/21,2%/28,6%. Giới nam liên quan có ý nghĩa với tái phát (p=0,013); các yếu tố khác không khác biệt. <strong>Kết luận:</strong> Điều trị kháng sinh VRTC không biến chứng có hiệu quả ban đầu cao và an toàn, nhưng nguy cơ tái phát tăng theo thời gian; cần chọn bệnh phù hợp, theo dõi nội trú ≥48 giờ và sẵn sàng chuyển phẫu thuật khi thất bại.</p> Lê Nguyên Khôi, Lê Kim Long, Võ Đại Dũng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17996 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA NHIỄM KHUẨN SƠ SINH SỚM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIME CITY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17997 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Nghiên cứu mục đích mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhiễm khuẩn sơ sinh sớm tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 124 trẻ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm tại khoa Sơ sinh Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ tháng 01 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023. <strong>Kết quả</strong>: Biểu hiện lâm sàng phổ biến của nhiễm khuẩn sơ sinh sớm là khó thở (phập phồng cánh mũi, thở rên, rút lõm lồng ngực) và thay đổi thân nhiệt. Chẩn đoán nhập viện hay gặp nhất là suy hô hấp (41,1%) và vàng da (10,5%). Bạch cầu máu tăng trên 20 G/l gặp trong 41,9% bệnh nhân; CRP ≥ 10 mg/dl và tăng Procalcitonin gặp trong 22,6% và 44,4% tương ứng.&nbsp; Tỷ lệ cấy máu dương tính thấp (1,6%). <strong>Kết luận</strong>: Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm biểu hiện lâm sàng chủ yếu là các triệu chứng của suy hô hấp và biến đổi về thân nhiệt, trong đó suy hô hấp là chẩn đoán nhập viện thường gặp nhất. Về cận lâm sàng, tỷ lệ tăng bạch cầu máu và tăng các dấu ấn viêm như CRP và Procalcitonin tương đối cao, tuy nhiên tỷ lệ cấy máu dương tính còn khá thấp</p> Mai Kiều Anh, Đào Thị Ngoan, Hoàng Quỳnh Lan, Đặng Thu Thủy, Ngô Văn Dần, Dương Thị Dung, Đàm Thị Quỳnh, Nguyễn Thúy Hà Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17997 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: THÀNH CÔNG CỦA PHÁC ĐỒ BPaL Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI TIỀN SIÊU KHÁNG (pre-XDR-TB) CÓ BMI THẤP https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17998 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Phác đồ BPaL (Bedaquiline, Pretomanid, Linezolid) đã được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo trong điều trị lao tiền siêu kháng (pre-XDR-TB). Tuy nhiên, tại Việt Nam, phác đồ chống chỉ định ở bệnh nhân có BMI &lt;17 kg/m2 do lo ngại về độc tính. Chúng tôi báo cáo một trường hợp lao phổi tiền siêu kháng được điều trị thành công bằng phác đồ BPaL dù có BMI rất thấp (cân nặng: 33kg, BMI= 13,67 kg/ m²). <strong>Phương pháp:</strong> Báo cáo ca lâm sàng và tham khảo y văn. <strong>Kết quả:</strong> Bệnh nhân nam 55 tuổi chẩn đoán lao tái phát với tiền siêu kháng. Bệnh nhân được chỉ định BPaL và theo dõi định kỳ chặt chẽ. Kết quả cho thấy dấu hiệu lâm sàng cải thiện tốt, vi khuẩn học âm tính từ tháng thứ 2. Tuy nhiên thiếu máu xuất hiện và tiến triển từ độ 1 lên độ 2 trong tháng thứ 6-7 mặc dù được hỗ trợ dinh dưỡng, bổ sung sắt. Người bệnh được ngừng Linezolid từ tháng thứ 8, các chỉ số cận lâm sàng dần ổn định và được đánh giá khỏi bệnh sau 9 tháng. <strong>Kết luận:</strong> Ca bệnh gợi ý phác đồ BPaL có thể hiệu quả ở bệnh nhân có BMI thấp khi được theo dõi và quản lý tốt biến cố bất lợi, cung cấp thêm bằng chứng để xem xét lại chống chỉ định BMI &lt;17 kg/m2 theo tài liệu hướng dẫn của Việt Nam.</p> Hoàng Thị Thanh Thuỷ, Nguyễn Thiên Hương Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17998 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 MẪU MÚI RĂNG CỐI SỮA THỨ HAI HÀM TRÊN NGƯỜI VIỆT https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17999 <p><strong>Mục tiêu: </strong>(1) xác định tỉ lệ các mức độ mẫu múi trên răng cối sữa thứ hai hàm trên, (2) so sánh mẫu múi của răng cối sữa thứ hai hàm trên người Việt với các nhóm khác. <strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả, mẫu nghiên cứu gồm 496 răng của trẻ từ 3 đến 5 tuổi (256 nam, 240 nữ). Đánh giá và phân loại mẫu múi răng cối sữa thứ hai theo Hanihara (1963). <strong>Kết quả</strong>: Tỉ lệ dạng 3+B và 4- cao nhất trên răng cối sữa 2 (88,11%). Có sự khác biệt về các mức độ thể hiện mẫu múi trên răng cối sữa 2 giữa bộ răng người Việt với các nhóm khác (p&lt;0,001). <strong>Kết luận</strong>: Ở bộ răng người Việt mức độ 3+B và 4- chiếm tỉ lệ cao nhất. Có sự khác biệt lớn nhất về các mức độ mẫu múi trên răng cối sữa 2 giữa nhóm Việt và nhóm Nhật (p&lt;0,001). <strong><em>Từ khóa</em></strong>: <em>mẫu múi răng cối sữa thứ hai</em></p> Huỳnh Kim Khang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/17999 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC CHỐNG ĐÔNG VÀ CORTICOID TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM COVID-19 MỨC ĐỘ TRUNG BÌNH ĐẾN NGUY KỊCH ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA MỸ PHƯỚC https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18000 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình hình sử dụng thuốc chống đông và corticoid trên bệnh nhân (BN) nhiễm COVID-19 mức độ trung bình đến nguy kịch. <strong>Đối tượng và phương&nbsp; pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu hồi cứu thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án của 189 BN COVID–19 từ 18 tuổi trở lên được điều trị tại bệnh viện đa khoa Mỹ Phước từ 10/2021 – 03/2022. Tình hình sử dụng thuốc chống đông và corticoid BN COVID-19 được đánh giá theo các hướng dẫn của Bộ Y tế. <strong>Kết quả:</strong> BN COVID-19 mức độ nặng chiếm tỉ lệ cao nhất (60%). Tuổi trung bình của BN là 54,96 ± 15,43. Tỉ lệ bệnh nhân nữ (65,6%) cao hơn BN nam. Tỉ lệ BN COVID-19 có bệnh mắc kèm và tổn thương phổi lần lượt là 68,8% và 89,4%. Chỉ số LYM và LYM% giảm so với ngưỡng tham chiếu, trong khi các chỉ số ALT, AST và CRP tăng chiếm tỷ lệ lần lượt là 45%, 57,1% và 80,4%. Tỉ lệ BN sử dụng thuốc corticoid và thuốc chống đông lần lượt là 83,4% và 95,77%. Methylprednisolon và enoxaparin lần lượt là các thuốc corticoid và chống đông được sử dụng nhiều nhất. <strong>Kết luận: </strong>Thời gian sử dụng corticoid và thuốc chống đông không ảnh hưởng kết quả điều trị của BN COVID-19.</p> Phan Thị Khánh Linh, Nguyễn Thị Minh Thuận Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18000 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC - LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG TRẺ VIÊM PHỔI DO ADENOVIRUS NẶNG VÀ NGUY KỊCH TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2022 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18001 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm dịch tễ học - lâm sàng, cận lâm sàng ở trẻ viêm phổi nặng và nguy kịch do Adenovirus. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu thuần tập hồi cứu trên 178 trẻ viêm phổi do Adenovirus (PCR dương tính), điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong năm 2022. Tiêu chuẩn phân loại nặng/nguy kịch áp dụng theo hướng dẫn Bộ Y tế.<sup>1 </sup><strong>Kết quả: </strong>Dịch tập trung các tháng cuối năm (T8–T12), đỉnh tháng 10 (43,8%). Nam chiếm 64,6%. Trẻ 12 tháng đến dưới 5 tuổi chiếm 60,7%. Triệu chứng thường gặp: sốt (98,9%), ho (98,9%), khó thở (90,4%). 69,1%, thở oxy và 26,4% thở máy xâm nhập. Tỷ lệ biến chứng 27,5%; thường gặp tổn thương gan (10,7%), sốc nhiễm trùng (9,0%), ARDS (7,3%), PIBO (9,0%). So với nhóm nặng, nhóm nguy kịch có bạch cầu, lympho, huyết sắc tố và tiểu cầu thấp hơn; CRP, LDH, AST cao hơn; protein/albumin thấp hơn, APTT kéo dài và fibrinogen thấp hơn (p&lt;0,05). <strong>Kết luận: </strong>Viêm phổi do Adenovirus ở trẻ có gánh nặng suy hô hấp cao và tính mùa rõ. Các chỉ dấu xét nghiệm gợi ý nguy kịch gồm giảm các dòng tế bào máu, tăng CRP/LDH/AST và rối loạn đông máu.</p> Nguyễn Văn Lâm , Nguyễn Thị Thùy, Trần Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Thu Nga Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18001 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN NÂNG SỐNG MŨI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18002 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm hình thái và các thông số nhân trắc mũi ở bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật nâng mũi tại bệnh viện Đức Giang. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên các bệnh nhân các có nhu cầu và được chỉ định phẫu thuật nâng mũi trong thời gian từ tháng 3/2025 đến tháng 9/2025 tại bệnh viện Đức Giang. Các đặc điểm hình thái mũi và các thông số nhân trắc được thu thập và phân tích, bao gồm các chỉ số về hình thái mũi trên các mặt phẳng giải phẫu và các góc, khoảng cách đặc trưng. <strong>Kết quả:</strong> Bệnh nhân có chỉ định nâng mũi có sự đa dạng về hình thái mũi và các thông số nhân trắc. Các chỉ số nhân trắc mũi trước phẫu thuật cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm hình thái, phản ánh đặc điểm giải phẫu mũi người Việt trưởng thành.<strong>Kết luận:</strong> Việc mô tả đặc điểm hình thái và các thông số nhân trắc mũi ở bệnh nhân có chỉ định nâng mũi cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho đánh giá trước phẫu thuật, góp phần định hướng kế hoạch điều trị và lựa chọn kỹ thuật tạo hình phù hợp.</p> Nguyễn Hồng Nhung, Cao Ngọc Duy, Chu Minh Quang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18002 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 CHẤT LƯỢNG PHỤC HỒI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT TẠO HÌNH THẨM MỸ TRONG NGÀY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18003 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá chất lượng phục hồi và các yếu tố liên quan ở người bệnh sau phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ trong ngày. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc được thực hiện trên 351 người bệnh được chỉ định phẫu thuật và xuất viện trong ngày tại Khoa Tạo Hình – Thẩm Mỹ, Bệnh viện Chợ Rẫy. Chất lượng phục hồi được đánh giá bằng thang đo Quality of Recovery-15 (QoR-15) tại hai thời điểm: trước phẫu thuật và 24 giờ sau phẫu thuật. Phân tích mối liên quan giữa điểm QoR-15 với các đặc điểm nhân khẩu học, lâm sàng và quá trình điều trị. <strong>Kết quả:</strong> Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 45,5 ±14,3, nữ chiếm 60,1%. Điểm QoR-15 trung vị trước phẫu thuật là 145 điểm (IQR: 143–147) và giảm còn 139 điểm (IQR: 136–142) tại thời điểm 24 giờ sau phẫu thuật; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p &lt; 0,001). Sau phẫu thuật 24 giờ, 98,0% người bệnh đạt mức phục hồi rất tốt và tốt, chỉ 2,0% đạt mức phục hồi trung bình. Các yếu tố có liên quan đến điểm QoR-15 24 giờ sau phẫu thuật bao gồm trình độ học vấn, tình trạng kinh tế, mức độ hiểu biết về bệnh và thông tin điều trị, chuyên khoa phẫu thuật, phương pháp vô cảm, loại vết mổ và mức độ đau sau phẫu thuật. <strong>Kết luận:</strong> Người bệnh phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ trong ngày nhìn chung đạt chất lượng phục hồi tốt. Tuy nhiên, một tỷ lệ nhỏ người bệnh có mức phục hồi trung bình cần được theo dõi và hỗ trợ hậu phẫu chặt chẽ. Đánh giá chất lượng phục hồi bằng thang đo QoR-15 là công cụ hữu ích giúp bác sĩ tối ưu hóa chăm sóc sau phẫu thuật.</p> Ngô Quốc Hưng, Nguyễn Thị Thiên Nga, Trần Văn Dương, Lâm Quang An Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18003 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ XƠ HÓA GAN BẰNG FIBROSCAN Ở BỆNH NHÂN MẮC BỆNH GAN NHIỄM MỠ KHÔNG DO RƯỢU TẠI KHOA NỘI TIÊU HÓA BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18004 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá mức độ xơ hóa gan bằng Fibroscan và một số chỉ số sinh hóa máu ở bệnh nhân bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu tại khoa Nội Tiêu Hóa – Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2025. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: gồm 26 bệnh nhân được chẩn đoán viêm gan nhiễm mỡ do rượu tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. &nbsp;Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1/2025 đến tháng 11/2025. <strong>Kết quả:</strong>&nbsp; Mẫu nghiên cứu chủ yếu gồm người trưởng thành trung niên, với nhóm 40–59 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (38,47%). Tỷ lệ nam:nữ là 1:1,36. Tỷ lệ bệnh nhân có BMI ≥25kg/m<sup>2</sup> là 65,38%. Về tiền sử, có 8 bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá chiếm 30,76%, rối loạn lipid máu (57,69%), tăng huyết áp (61,54%), và đái tháo đường (30,77%). Đo độ dàn hồi gan bằng Fibroscan cho kết quả đa số bệnh nhân ở mức độ xơ hóa gan chủ yếu ở giai đoạn nhẹ F0 – F1, chiếm tỷ lệ 84,62%; xơ hóa vừa F2 chiếm 11,53%; xơ hóa nặng chiếm 3,85% và không có bệnh nhân ở giai đoạn xơ gan. Phần lớn bệnh nhân có tình trạng tăng men gan với AST trung bình 40,3 U/L, ALT 63,3 U/L, GGT 58,6 U/L. Ngoài ra, tăng triglycerid máu chiếm 73,09%, tăng Cholesterol máu chiếm 46,15%, LDL – c&nbsp; tăng chiếm 46,15% và HDL – c&nbsp; giảm chiếm 15,38%. <strong>Kết luận</strong>: Nghiên cứu cho thấy, các yếu tố nguy cơ và mô hình bệnh lý của bệnh bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu. Có một tỷ lệ không nhỏ bệnh nhân có tình trạng gan xơ hóa tiến triển cần phải theo dõi chặt chẽ.</p> Lê Bá Lân, Lê Thị Thu Hiền Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18004 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ỨNG DỤNG TẤM MESH POLYPROPYLENE TRONG PHẪU THUẬT TÁI TẠO VÚ TỨC THÌ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ Ở BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18005 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tính khả thi, biến chứng và kết quả thẩm mỹ của tái tạo vú tức thì (IBR) có hỗ trợ lưới polypropylene. <strong>Phương pháp:</strong> Đoàn hệ hồi cứu–tiến cứu, đơn trung tâm tại BVTW Huế (12/2021–12/2024). 38 bệnh nhân ung thư vú trải qua cắt vú tiết kiệm da kèm IBR dùng lưới: TRAM+mesh (n=30) hoặc túi độn+mesh (n=8). Biến chứng ghi nhận ở 3/6/9/12 tháng; thẩm mỹ theo thang Lowery–Carlson. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình 42,3±9,1; giai đoạn lâm sàng sớm (cT1–T2) 78,9%. Tỷ lệ biến chứng bất kỳ trong 12 tháng 18,4% (TRAM 20,0% vs túi độn 12,5%; p=1,000); không mất vạt/lộ túi; không biến chứng mới ở mốc 12 tháng. Điểm hài lòng 4,11. Điểm Lowery–Carlson 31,68±3,97; 86,8% đạt “Tốt–Tuyệt vời”. Hai ca di căn xương (21 và 28 tháng); tất cả còn sống tại thời điểm chốt số liệu. <strong>Kết luận:</strong> IBR có hỗ trợ lưới polypropylene khả thi và an toàn, cho kết quả thẩm mỹ cao.</p> Hoàng Thanh Hà, Hồ Văn Linh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18005 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG DO TAI NẠN LAO ĐỘNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2023 - 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18006 <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị chấn thương cột sống do tai nạn lao động tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên trong 3 năm (2023-2025). <strong>Phương pháp:</strong>&nbsp;Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 567 bệnh nhân nhập viện vì tai nạn lao động có chấn thương cột sống. Dữ liệu về giới tính, nguyên nhân chấn thương, vị trí gãy, phương pháp điều trị (bảo tồn/phẫu thuật) và kết quả hồi phục được thu thập từ hồ sơ bệnh án. <strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Tổng số 567 trường hợp, nam giới chiếm 290 trường hợp, nữ 277 trường hợp. Nguyên nhân chủ yếu là té cao khi hái tiêu (525 ca), các nguyên nhân khác chiếm 42 ca. Vị trí gãy cột sống thường gặp nhất là L1 (60%), D12 (35%). Tỷ lệ phẫu thuật là 33,3% (189 trường hợp), còn lại 66,7% (378 trường hợp) được điều trị bảo tồn. Về kết quả, 515 ca hồi phục tốt (90,8%), 48 trường hợp có di chứng nhẹ sau tập vật lý trị liệu 4 tuần hồi phục tốt (8,5%), và 4 trường hợp liệt hoàn toàn (0,7%). <strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Điều trị chấn thương cột sống do tai nạn lao động tại bệnh viện Đa khoa Vùng tây Nguyên cho thấy tỷ lệ hồi phục cao. Cần tăng cường biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động và nâng cao năng lực sơ cứu ban đầu.</p> Huỳnh Như Đồng, Đàm Thành Lý, Lê Hữu Hoàng, Phạm Ngọc Trí Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18006 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM CỦA PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT ĐẠI TRÀNG TRÁI VỚI THỰC HIỆN MIỆNG NỐI TRONG Ổ BỤNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18007 <p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Phẫu thuật nội soi cắt đại tràng đã cho thấy những ưu điểm vượt trội trong điều trị các bệnh lý lành tính và ác tính của đại tràng. Tại bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, chúng tôi bắt đầu thực hiện kỹ thuật làm miệng nối trong ổ bụng với phẫu thuật nội soi cắt đại tràng trái từ 01/2025. Do vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả ban đầu của kỹ thuật. Nghiên cứu tiến cứu, được thực hiện thu thập dữ liệu từ 01/2025-12/2025 với 32 trường hợp được tiến hành phẫu thuật nội soi cắt đại tràng trái với thực hiện miệng nối trong ổ bụng. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình: 57,6±12,4; Giới:Nam/Nữ: 18/14; Tiền sử phẫu thuật ổ bụng: 5/32 ; nguyên nhân lành tính/ác tính: 12/20; Chuẩn bị đại tràng trước mổ: 26/32; thời gian phẫu thuật: 134,6 ± 26,4 phút; Lượng máu mất trong mổ: 82ml; Tai biến trong mổ: 0; Số stapler thẳng sử dụng trong mổ: 3,03 (có 1 trường hợp dùng 4 stapler); kích thước vết mổ: 4,5cm; thời gian dùng thuốc giảm đau sau mổ: 2,64 ngày; thời gian trung tiện sau mổ: 3,4 ngày; Biến chứng sớm sau mổ: 6,25%; Thời gian nằm viện sau phẫu thuật: 7,2 ± 4,2. <strong>Kết luận:</strong> Phẫu thuật nội soi cắt đại tràng trái thực hiện miệng nối trong ổ bụng là an toàn, có tỷ lệ biến chứng thấp. Vết mổ nhỏ, thẩm mỹ, lựa chọn vị trí lấy bệnh phẩm ra ngoài chủ động, giảm đau sau mổ, phục hồi nhu động ruột tốt hơn sau mổ và giảm thời gian nằm viện sau phẫu thuật.</p> Đặng Văn Huấn, Phạm Văn Duyệt, Lê Khả Bách, Cao Minh Tiệp Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18007 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 SO SÁNH NGUY CƠ ĐẨY CHẤT BƠM RỬA QUA LỖ CHÓP CỦA KIM BƠM RỬA IRRIFLEX VỚI KIM CANALPRO SIDE-PORT TIPS - NGHIÊN CỨU IN VITRO https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18008 <p><strong>Mở đầu:</strong> Sodium hypochlorite (NaOCl) là dung dịch bơm rửa ống tủy được sử dụng rộng rãi trong nội nha nhờ khả năng hòa tan mô hữu cơ và đặc tính kháng khuẩn mạnh. Tuy nhiên, hiện tượng tràn NaOCl qua lỗ chóp trong quá trình bơm rửa vẫn là một biến chứng đáng lo ngại, có thể gây tổn thương mô quanh chóp, bao gồm mạch máu và thần kinh, tăng phản ứng đau. IrriFlex (Produits Dentaires, Thụy Sĩ) là kim bơm rửa thế hệ mới bằng polypropylene mềm, được thiết kế với hai lỗ thoát ngược nhằm giảm nguy cơ tràn qua chóp so với kim thép không gỉ truyền thống. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của thiết kế này vẫn cần được đánh giá thêm, đặc biệt trong điều kiện ống tủy cong. <strong>Mục tiêu</strong>: So sánh nguy cơ đẩy chất bơm rửa qua lỗ chóp của kim bơm rửa IrriFlex với kim CanalPro Side-Port Tips trong điều kiện <em>in vitro</em>. <strong>Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu <em>in vitro</em> được tiến hành trên 36 răng cối người đã nhổ, có ống tủy cho phép trâm số &lt;20 đi hết chiều dài ống tủy và độ cong 15º–25º theo Schneider. Mẫu được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: nhóm IrriFlex (n = 18) và nhóm CanalPro Side-Port Tips (n = 18). Mỗi ống tủy được bơm rửa bằng 2,5 mL dung dịch NaOCl 3% trong 30 giây. Lượng dung dịch tràn qua lỗ chóp được định lượng gián tiếp thông qua diện tích gel agarose đổi màu bằng phần mềm ImageJ (NIH, USA). Dữ liệu được phân tích bằng kiểm định Shapiro–Wilk và T-test cho hai mẫu độc lập, với mức ý nghĩa <em>p </em>&lt;0,05. <strong>Kết quả:</strong> Nhóm kim bơm rửa IrriFlex cho giá trị trung bình tỉ lệ tràn chất bơm rửa qua qua lỗ chóp là 44,29 ± 4,66, cao hơn so với nhóm kim bơm rửa CanalPro Side-Port Tips (26,37 ± 6,78). Sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (<em>p</em> &lt;0,0001). <strong>Kết luận:</strong> Trong điều kiện nghiên cứu <em>in vitro</em>, kim bơm rửa IrriFlex cho thấy nguy cơ tràn dung dịch qua lỗ chóp cao hơn so với kim CanalPro Side-Port Tips trong các ống tủy cong 15°–25°. &nbsp;</p> Nguyễn Thị Nguyệt Ánh, Trương Hải Ninh, Nguyễn Thị Tuyết Trinh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18008 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 TÌNH TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN VIÊM MŨI XOANG MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TP. HỒ CHÍ MINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18009 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Viêm mũi xoang mạn tính (VMXMT) là bệnh tai mũi họng phổ biến, làm giảm chất lượng sống và gây gánh nặng kinh tế – xã hội. Tuân thủ điều trị đóng vai trò then chốt trong kiểm soát triệu chứng, nhưng có xu hướng giảm theo thời gian và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố xã hội – kinh tế. <strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị ở bệnh nhân VMXMT sau 3 tháng và 6 tháng điều trị, và phân tích các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả dọc trên 72 bệnh nhân VMXMT điều trị tại khoa Mũi Xoang từ 10/2024 đến 05/2025, theo dõi tại các mốc 3 và 6 tháng; 68 bệnh nhân hoàn tất theo dõi được đưa vào phân tích cuối cùng. Tuân thủ điều trị được đánh giá bằng thang điểm Morisky 8 mục (MMAS-8), chia thành tuân thủ cao (8 điểm), trung bình (6–7 điểm) và thấp (&lt;6 điểm); nghiên cứu sử dụng ngưỡng cắt 6 điểm để phân loại tuân thủ và không tuân thủ. Các biến độc lập gồm: tuổi, giới, trình độ học vấn, khoảng cách đến cơ sở y tế, tình trạng kinh tế, hỗ trợ gia đình, đặc điểm thuốc điều trị. <strong>Kết quả: </strong>Kết quả: Sau 3 tháng điều trị, 92,6% (63/68) bệnh nhân tuân thủ, tỷ lệ này giảm còn 63,2% (43/68) sau 6 tháng (p &lt; 0,05). Ở thời điểm 3 tháng, không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ tuân thủ và các đặc điểm nhân khẩu học hay kinh tế – xã hội. Đến thời điểm 6 tháng, trình độ học vấn cao hơn, khoảng cách đến bệnh viện ngắn hơn và tình trạng kinh tế khá hơn có liên quan có ý nghĩa với tuân thủ điều trị tốt, trong khi tuổi, giới và sự hỗ trợ từ gia đình không cho thấy mối liên quan đáng kể. <strong>Kết luận:</strong> Tuân thủ điều trị ở bệnh nhân VMXMT rất cao trong 3 tháng đầu nhưng suy giảm đáng kể sau 6 tháng. Các yếu tố xã hội – kinh tế (trình độ học vấn, khoảng cách địa lý, tình trạng kinh tế) có ảnh hưởng rõ rệt đến tuân thủ dài hạn. Các can thiệp củng cố giáo dục sức khỏe, hỗ trợ chi phí và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cần được ưu tiên để duy trì tuân thủ điều trị.</p> Nguyễn Thành Tuấn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18009 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH BỆNH TIM BẨM SINH TẠI KHOA PHẪU THUẬT TIM TRẺ EM, BỆNH VIỆN CHỢ RẪY https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18010 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Nghiên cứu nhằm tìm hiểu mô hình bệnh tim bẩm sinh tại khoa Hồi sức phẫu thuật tim trẻ em, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 03/2017 đến tháng 11/2025. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu mô tả trên tất cả trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh tại Khoa Hồi sức phẫu thuật tim trẻ em, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 03/2017 đến tháng 11/2025. Thông tin và kết quả điều trị của đối tượng nghiên cứu được thu thập và tiến hành phân tích thống kê.<strong> Kết quả: </strong>Nghiên cứu hồi cứu trên 2323 bệnh nhi mắc bệnh tim bẩm sinh điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy giai đoạn 03/2017–11/2025. Tim bẩm sinh đơn giản: thông liên thất (24,1%), thông liên nhĩ (15,5%) và còn ống động mạch (2,2%). Tim bẩm sinh phức tạp: tứ chứng Fallot (12,8%), bất sản động mạch phổi (7,5%), kênh nhĩ thất (6,8%), tim một thất (5,2%) và hẹp đường ra thất phải (5,1%). Phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ đạo chiếm 59%. Thời gian phẫu thuật trung bình: 261,8 phút, thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể: 132,1 phút; và thời gian ngưng tim: 80,7 phút. Kết quả điều trị tốt đạt 89%, tỷ lệ tử vong 2%. <strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu cho thấy tim bẩm sinh đơn giản: thông liên thất (24,1%) và thông liên nhĩ (15,5%). Tim bẩm sinh phức tạp: tứ chứng Fallot (12,8%), bất sản động mạch phổi (7,5%) và kênh nhĩ thất (6,8%). Phẫu thuật được thực hiện ở 59% bệnh nhi. Kết quả điều trị tốt đạt 89%, tỷ lệ tử vong 2%, cho thấy hiệu quả điều trị khả quan. Những kết quả này phản ánh hiệu quả của mô hình chăm sóc toàn diện, từ tiền phẫu, phẫu thuật đến hồi sức và theo dõi sau mổ tại Bệnh viện Chợ Rẫy, đồng thời nhấn mạnh vai trò của chẩn đoán sớm và chuyển tuyến kịp thời trong cải thiện tiên lượng cho bệnh nhi.</p> Lê Thành Khánh Vân, Nguyễn Trần Khánh Linh, Hồ Y Băng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18010 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ẢNH HƯỞNG CỦA THIẾT KẾ SỬA SOẠN LÊN SỰ KHÍT SÁT CỦA MẶT DÁN SỨ ZIRCONIA TRONG MỜ CHẾ TÁC THEO QUY TRÌNH KỸ THUẬT SỐ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18011 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá ảnh hưởng của dạng thiết kế sửa soạn lên độ khít sát bờ và lòng của mặt dán sứ (MDS) zirconia trong mờ chế tác theo quy trình kỹ thuật số<strong>. </strong><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Hai răng cửa giữa hàm trên của typodont được sửa soạn dạng cửa sổ (W) và dạng butt-joint (B). Thực hiện 20 MDS zirconia trong mờ (Z) CAD/CAM chia thành hai nhóm: 10 MDS zirconia dạng cửa sổ (ZW) và 10 MDS zirconia dạng butt-joint (ZB). Phương pháp bản sao silicone được áp dụng để mô phỏng khoảng xi măng và bản sao được soi dưới kính hiển vi soi nổi. Dữ liệu được phân tích bằng kiểm định t hai mẫu độc lập (dữ liệu có phân phối chuẩn) và kiểm định Mann-Whitney (dữ liệu có phân phối không chuẩn). <strong>Kết quả</strong><strong>: Đối với khoảng hở bờ, trung bình khoảng hở bờ tổng thể và phía xa của nhóm ZW (51,1 </strong>± 3,9<strong> µm và </strong>45,2 ± 5,0 <strong>µm) nhỏ hơn nhóm ZB (56,7 </strong>± 6,6<strong> µm và </strong>53,7 ± 7,5 <strong>µm) có ý nghĩa thống kê</strong>; không có sự khác biệt có ý nghĩa về khoảng hở bờ phía cổ răng, phía cạnh cắn, phía gần. Đối với khoảng hở lòng, trung bình khoảng hở lòng tổng thể và phần ba cắn nhóm ZW (108,5 ± 7,3 µm và 142,4 ± 18,4 µm) lớn hơn nhóm ZB (97,5 ± 11,6 µm và 100,8 ± 14,0 µm) có ý nghĩa thống kê, trung bình khoảng hở lòng phần ba cổ nhóm ZW (81,0 µm) nhỏ hơn nhóm ZB (96,2 µm) có ý nghĩa thống kê; không có sự khác biệt có ý nghĩa về khoảng hở lòng phần ba giữa. Có sự khác biệt có ý nghĩa về khoảng hở giữa các vùng trong cùng một nhóm. <strong>Kết luận</strong><strong>: </strong>Giá trị khoảng hở bờ và lòng đều nằm trong khoảng chấp nhận được trên lâm sàng (dưới 120 µm). Dạng thiết kế sửa soạn cạnh cắn có ảnh hưởng đến sự khít sát của MDS zirconia trong mờ. Nhóm MDS dạng cửa sổ cho độ khít sát bờ tốt hơn, trong khi nhóm MDS dạng cửa sổ cho độ khít sát trong lòng tốt hơn. Có sự khác biệt có ý nghĩa về khoảng hở giữa các vùng trong cùng một nhóm.</p> Mai Thanh Đạt, Trần Thiên Thủy Trúc, Đoàn Minh Trí Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18011 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA NGƯỜI BỆNH NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU TẠI KHOA PHỤC HỒI CHỨC NĂNG - TỔN THƯƠNG TUỶ SỐNG BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG - ĐIỀU TRỊ BỆNH NGHỀ NGHIỆP https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18012 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu đang điều trị tại khoa Phục hồi chức năng – Tổn thương tuỷ sống thuộc Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp năm 2024. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 97 người bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu tại khoa Phục hồi chức năng – Tổn thương tuỷ sống bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp trong khoảng thời gian từ tháng 5/2024 đến tháng 10/2024 bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Tần số, tỷ lệ và trung bình, độ lệch chuẩn được sử dụng cho các thống kê mô tả. <strong>Kết quả: </strong>Đa số người bệnh có triệu chứng sốt (95,9%) và nước tiểu đục (94,8%). Phân tích nước tiểu ghi nhận bạch cầu niệu dương tính ở 97,9% trường hợp. Kháng sinh được sử dụng nhiều nhất trước chẩn đoán là Levofloxacin (24,7%). Nhóm vi sinh vật gây bệnh phổ biến nhất là <em>vi khuẩn Gram âm</em>. <strong>Kết luận:</strong> Nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở người bệnh tổn thương tuỷ sống có biểu hiện lâm sàng đặc trưng và thường liên quan đến các tác nhân Gram âm. Cần chú trọng phát hiện sớm, sử dụng kháng sinh hợp lý và xây dựng các chiến lược kiểm soát nhiễm khuẩn phù hợp trong giai đoạn phục hồi chức năng</p> Phan Minh Toàn, Vũ Ngọc Thảo Vy, Phan Trí Cường, Mai Thị Thơ Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18012 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA HỆ THỐNG PHÂN LOẠI PI-RADSv2.1 VÀ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT CÓ Ý NGHĨA LÂM SÀNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18013 <p><strong>Mục đích: </strong>Nhằm đánh giá mối tương quan giữa phân loại PI-RADSv2.1 với ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City trong thời gian từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 8 năm 2025, với 69 bệnh nhân, 88 tổn thương tiền liệt tuyến được chụp cộng hưởng từ đa thông số, đánh giá nguy cơ dựa trên bảng điểm PI-RADSv2.1 và sinh thiết tổn thương dưới hướng dẫn siêu âm qua đường trực tràng, xếp loại mô bệnh học dựa trên phân loại ISUP của Hội bệnh lý tiết niệu quốc tế. <strong>Kết quả: </strong>Nhóm tổn thương xếp loại PI-RADS 1-2, không ghi nhận ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng. Nhóm PI-RADS 3 chủ yếu là ung thư độ mô học thấp, chỉ ghi nhận 1 trường hợp ISUP 3. Ở nhóm PI-RADS 4, tỷ lệ ung thư có ý nghĩa lâm sàng tăng rõ rệt là 18.9%. Đặc biệt ở nhóm PI-RADS 5 tập trung nhiều các trường hợp ISUP 3-5, chiếm 54.2%. Về giá trị của bảng điểm PI-RADS trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng, khi chọn ngưỡng PI-RADS ≥ 3, độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính - âm tính và độ chính xác lần lượt là 100%, 14.3%, 48.1%, 100% và 52.3%. Khi nâng ngưỡng lên PI-RADS 4, các giá trị trên lần lượt là 89.7%, 46.9%, 57.4%, 85.2% và 65.9%. Khi nâng ngưỡng lên PI-RADS 5, các giá trị lần lượt là 51.3%, 91.8%, 83.3%, 70.3%, 73.0%. <strong>Kết luận: </strong>Phân loại PI-RADSv2.1 có mối liên hệ chặt chẽ với ung thư tuyến tiền liệt có ý nghĩa lâm sàng, ngoài ra còn có giá trị cao trong chẩn đoán và sàng lọc bệnh lý này.</p> Lê Hồng Chiến, Đặng Quang Hưng, Nguyễn Thị Nhân, Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Bá Phong, Trần Văn Vi Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18013 Fri, 24 Apr 2026 00:00:00 +0000