Tạp chí Y học Việt Nam https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj <p><strong>1. T&ecirc;n cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o in (b&aacute;o in, tạp ch&iacute; in):</strong></p> <p><strong>Tổng hội Y học Việt Nam</strong></p> <p><strong>Địa chỉ:</strong> 68A B&agrave; Triệu, Phường Cửa Nam, Th&agrave;nh phố H&agrave; Nội</p> <p><strong>Điện thoại:</strong> 024 39431866&nbsp;</p> <p><strong>2. T&ocirc;n chỉ, mục đ&iacute;ch:</strong></p> <p>- Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng; ch&iacute;nh s&aacute;ch, ph&aacute;p luật của Nh&agrave; nước về y học;</p> <p>- Phổ biến những th&agrave;nh tựu khoa học, c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu, kiến thức khoa học trong nước v&agrave; quốc tế về nghiệp vụ y tế.</p> <p><strong>3. Đối tượng phục vụ: </strong>Hội vi&ecirc;n Tổng hội Y học Việt Nam, c&aacute;c c&aacute;n bộ y tế, sinh vi&ecirc;n y, dược v&agrave; bạn đọc quan t&acirc;m.</p> <p><strong>4. Thể thức xuất bản: </strong>Ấn phẩm in</p> <p><strong>5. Ấn phẩm ch&iacute;nh:</strong></p> <p>- T&ecirc;n gọi: Tạp ch&iacute; Y học Việt Nam.</p> <p>- Ng&ocirc;n ngữ thể hiện: Tiếng Việt, tiếng Anh.</p> <p>- Kỳ hạn xuất bản: 03 kỳ/th&aacute;ng tiếng Việt v&agrave; 02 kỳ/năm tiếng Anh.</p> <p>- Thời gian ph&aacute;t h&agrave;nh: Ng&agrave;y 15&amp;30 h&agrave;ng th&aacute;ng;</p> <p>- Khu&ocirc;n khổ: 19cmx27cm;</p> <p>- Số trang: 380 trang kỳ tiếng Việt v&agrave; 180 trang kỳ tiếng Anh.</p> <p>&nbsp;</p> vi-VN toasoan@tapchiyhocvietnam.vn (Tạp chí Y học Việt Nam) tiendungvma@gmail.com (Nguyễn Tiến Dũng) Thu, 13 Aug 2026 03:53:54 +0700 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ TROPONIN I ĐỘ NHẠY CAO VỚI CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CẤP https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18452 Mục tiêu: Xác định mối liên quan giữa nồng độ Troponin I độ nhạy cao (TnI-hs) với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở người bệnh nhồi máu não cấp. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 60 người bệnh nhồi máu não cấp điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai. Người bệnh được định lượng TnI-hs, đánh giá lâm sàng, Holter điện tâm đồ và chẩn đoán hình ảnh. Kết quả: Tỷ lệ người bệnh có tăng TnI-hs là 26,7%. Nồng độ TnI-hs có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tuổi < 75 (p=0,028) và vị trí tổn thương tại cuống não (100% người bệnh tổn thương cuống não có tăng TnI-hs, p=0,023). Đặc biệt, nghiên cứu ghi nhận mối liên hệ mật thiết giữa TnI-hs và các yếu tố tim mạch: nhóm có tiền sử suy tim có tỷ lệ tăng TnI-hs cao gấp 4,5 lần nhóm không suy tim (85,7% so với 18,9%; p=0,001); nhóm có rung nhĩ có tỷ lệ tăng TnI-hs là 42,9%, cao hơn rõ rệt so với nhóm nhịp xoang (12,5%; p=0,008). Trong dự báo rung nhĩ, TnI-hs có diện tích dưới đường cong (AUC) là 0,752; tại điểm cắt >38,05 ng/L, độ đặc hiệu đạt 91,2%. Kết luận: Ở người bệnh nhồi máu não cấp, sự gia tăng TnI-hs liên quan chặt chẽ đến các bệnh lý tim mạch nền (suy tim, rung nhĩ) và vị trí tổn thương não đặc thù (cuống não). TnI-hs là chỉ dấu cận lâm sàng có giá trị gợi ý rung nhĩ tiềm ẩn với độ đặc hiệu cao. Viên Hoàng Long, Ngô Thúy Ngọc, Đào Thị Thanh Mai, Nguyễn Duy Tuấn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18452 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT HAI THÌ SO VỚI PHẪU THUẬT MỘT THÌ SỬ DỤNG VẠT QUY ĐẦU CÓ CUỐNG MẠCH ĐIỀU TRỊ LỖ TIỂU THẤP THỂ SAU https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18458 Mục tiêu: So sánh kết quả phẫu thuật hai thì và phẫu thuật một thì sử dụng vạt da quy đầu có cuống mạch điều trị lỗ tiểu thấp thể sau. Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu hồ sơ bệnh nhân lỗ tiểu thấp thể sau được phẫu thuật hai thì (nhóm 2) và một thì (nhóm 1) bằng vạt da quy đầu có cuống mạch, giai đoạn từ 05.2020 – 12.2023. Kết quả: Có 76 bệnh nhân lỗ tiểu thấp thể sau, gồm 38 bệnh nhân ở mỗi nhóm phẫu thuật. Tuổi phẫu thuật trung bình, vị trí lỗ tiểu sau khi làm thẳng ở gốc dương vật và ở bìu không khác biệt giữa hai nhóm; tuy nhiên, chiều dài đoạn niệu đạo thiếu trung bình ở nhóm 2 là 4,7 ± 0,9 cm, lớn hơn nhóm 1 là 3,5 ± 0,5 cm, với p < 0,001. Thời gian trung bình giữa 2 lần phẫu thuật là 10,5 ± 3,2 tháng (6 – 20 tháng) ở nhóm 2. Tỉ lệ biến chứng ở nhóm 2 thấp hơn nhóm 1có ý nghĩa thống kê với tỉ lệ lần lượt là 21,1% và 42,1%, p = 0,04. Rò niệu đạo không khác biệt giữa hai nhóm với tỉ lệ lần lượt là 18,4% và 21,1%; có 15,8% bệnh nhân hẹp niệu đạo và 7,9% hẹp miệng sáo ở nhóm 1, trong khi hai loại biến chứng này không xuất hiện ở nhóm 2. Kết luận: Phẫu thuật hai thì có tỉ lệ biến chứng thấp hơn phẫu thuật một thì sử dụng vạt da quy đầu có cuống mạch điều trị lỗ tiểu thấp thể sau, với tỉ lệ biến chứng bằng khoảng một phần hai các trường hợp, có ý nghĩa thống kê. Không có biến chứng hẹp niệu đạo hay hẹp miệng sáo sau phẫu thuật hai thì. Nguyễn Duy Việt, Nguyễn Tiến Mạnh, Hạ Hồng Cường Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18458 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỔ TRỢ UNG THƯ BÀNG QUANG NÔNG BẰNG EPIRUBICIN NỘI BÀNG QUANG TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18465 Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ung thư bàng quang nông bằng Epirubicin nội bàng quang tại bệnh viện Ung Bướu Nghệ An. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 38 BN UTBQN đã phẫu thuật nội soi cắt u qua đường niệu đạo và điều trị bổ trợ bằng epirubicin bơm hóa chất nội bàng quang trong thời gian từ 01/2020 đến 06/2023. Kết quả: Tuổi trung bình 66,42 ± 8,48; Nam chiếm 84,2%. Giai đoạn Ta chiếm 68,4%, T1 chiếm 31,6%; 63,2% có độ mô học cao. Thời gian theo dõi trung bình 32,11 ± 16,48 tháng. Tỷ lệ tái phát là 21,1%. Tỷ lệ sống không bệnh tại 12, 24 và 36 tháng lần lượt là 86,3%; 83,2% và 79,5%. Tác dụng không mong muốn chủ yếu nhẹ, dung nạp tốt. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy kích thước u ≥ 3 cm, giai đoạn T1 và độ mô học cao là các yếu tố tiên lượng độc lập liên quan đến nguy cơ tái phát (p < 0,05). Kết luận: Epirubicin có hiệu quả làm giảm tỷ lệ tái phát, an toàn, tác dụng phụ ít. Các yếu tố: kích thước khối u, giai đoạn u, độ mô học là các yếu tố có tiên lượng độc lập có ảnh hưởng đến nguy cơ bệnh tái phát với p<0.05. Dương Thị Sen, Nguyễn Thị Cẩm Nhung, Nguyễn Thị Kim Oanh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18465 NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THUẬT TOÁN HÌNH CHIẾU CƯỜNG ĐỘ TỐI ĐA (MIP) TRÊN CẮT LỚP VI TÍNH NGỰC TRONG PHÁT HIỆN VÀ THEO DÕI NỐT ĐẶC NHỎ Ở PHỔI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18467 Đặt vấn đề: Phát hiện các nốt phổi đặc kích thước nhỏ (<5 mm) trên CLVT ngực còn nhiều khó khăn do dễ bị bỏ sót trên các lát cắt mỏng. Kỹ thuật tái tạo hình chiếu cường độ tối đa (MIP) giúp làm nổi bật các cấu trúc có tỷ trọng cao và có thể cải thiện khả năng phát hiện. Mục tiêu: Đánh giá vai trò của MIP ở các độ dày khác nhau trong phát hiện và theo dõi nốt phổi đặc <5 mm. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu trên 55 bệnh nhân có nốt phổi đặc <5 mm tại Bệnh viện Phổi Trung ương (6/2023–10/2025). Dữ liệu CLVT được tái tạo thành 4 bộ ảnh: MIP0 (axial), MIP5, MIP10 và MIP15. Hai bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đọc độc lập. So sánh số lượng, kích thước, vị trí và đặc điểm nốt bằng các kiểm định thống kê. Kết quả: Tổng cộng 129 nốt được phân tích. MIP làm tăng đáng kể số lượng nốt phát hiện so với MIP0, với MIP5 và MIP10 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Không có sự khác biệt giữa MIP5 và MIP10 (p>0,05), tuy nhiên MIP10 có xu hướng phát hiện nhiều nốt hơn. MIP15 làm giảm khả năng phát hiện. Độ đồng thuận giữa hai bác sĩ cao (p>0,05). Đa số nốt nằm ở vùng thùy dưới và có bờ đều. Trong quá trình theo dõi, 16 nốt (12,4%) tăng kích thước, một số được xác định là tổn thương ác tính hoặc tiền ác tính. Kết luận: MIP cải thiện rõ rệt khả năng phát hiện nốt phổi nhỏ, tối ưu ở độ dày 5–10 mm, đặc biệt MIP10. Việc theo dõi cho thấy một tỷ lệ nốt nhỏ có thể tiến triển, nhấn mạnh ý nghĩa của phát hiện sớm và theo dõi định kỳ Hoàng Văn Lương, Nguyễn Thị Thương Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18467 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HAI PHÒNG KHÁM TIM MẠCH BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18469 Đặt vấn đề: Rối loạn giấc ngủ và bệnh lý tim mạch ở người cao tuổi (NCT) ngày càng gia tăng. Chất lượng giấc ngủ (CLGN) kém có liên quan với nhiều hậu quả bất lợi như tăng huyết áp, suy tim, đột quỵ và trầm cảm. Thang Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI) hiện là công cụ được sử dụng rộng rãi để đánh giá CLGN. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu về CLGN ở NCT có bệnh lý tim mạch ngoại trú, vẫn còn hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ CLGN kém bằng thang PSQI và khảo sát một số yếu tố liên quan đến CLGN ở NCT ngoại trú có bệnh lý tim mạch. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên bệnh nhân ≥ 60 tuổi có bệnh lý tim mạch điều trị ngoại trú tại phòng khám A Nội Tim mạch và phòng khám A Tim mạch can thiệp, Bệnh viện Thống Nhất, TP.HCM. Chất lượng giấc ngủ được đánh giá bằng thang PSQI, CLGN kém khi PSQI > 5. Dùng hồi quy logistic đơn biến, đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến CLGN. Kết quả: Nghiên cứu trên 412 NCT ngoại trú có bệnh lý tim mạch ghi nhận tỷ lệ CLGN kém theo PSQI là 46,6%. Nghiên cứu đưa ra các yếu tố liên quan CLGN kém: nữ giới (OR = 4,46, khoảng tin cậy (KTC) 95% 2,25 – 8,82, p < 0,001), không tập thể dục (OR = 4,77, KTC 95% 2,57 – 8,85, p < 0,001), suy tim mạn (OR = 3,32, KTC 95% 1,07 – 10,26, p = 0,037), tiền sử đột quỵ não (OR = 3,10, KTC 95% 1,06 – 9,10, p = 0,039), thoái hóa khớp (OR = 1,89, KTC 95% 1,01 – 3,54, p = 0,045), đau mạn tính (OR = 7,60, KTC 95% 1,81 – 31,98, p = 0,006), trầm cảm (OR = 14,58, KTC 95% 3,72 – 57,10, p < 0,001). Kết luận: Tỷ lệ CLGN kém ở NCT ngoại trú có bệnh lý tim mạch khá cao. Các yếu tố liên quan đến CLGN kém gồm nữ giới, không tập thể dục, suy tim mạn, tiền sử đột quỵ não, thoái hóa khớp, đau mạn tính và trầm cảm. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần tăng cường đánh giá chất lượng giấc ngủ ở nhóm bệnh nhân này trong thực hành lâm sàng. Nguyễn Ngọc Hoành Mỹ Tiên, Hồ Thị Thủy Tùng, Nguyễn Thị Hoàng Quỳnh, Thân Hà Ngọc Thể Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18469 PHÂN TÍCH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHỨC NĂNG THẬN Ở BỆNH NHÂN THẬN Ứ NƯỚC DO HẸP PHẦN NỐI BỂ THẬN - NIỆU QUẢN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18474 Mục tiêu: Phân tích yếu tố ảnh hưởng tới chức năng thận ở bệnh nhân thận ứ nước do hẹp phần nối bể thận – niệu quản. Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu hồ sơ bệnh nhân thận ứ nước do hẹp phần nối bể thận – niệu quản tại khoa Ngoại Tiết niệu, Bệnh viện Nhi Trung ương, giai đoạn từ 01.2016 – 12.2023. Biến số kết cục là chức năng thận; biến số tiên lượng là tuổi, giới, đường kính trước sau bể thận. Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính để tìm hiểu yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới chức năng thận với p < 0,05 có ý nghĩa thống kê. Kết quả: Gồm 120 bệnh nhân thận ứ nước một bên, đa số trường hợp là thận ứ nước bên trái với 79 (65,8%) bệnh nhân; giới tính nam chiếm phần lớn với 93 (77,5%) bệnh nhân. Tuổi, giới không liên quan đến giảm chức năng thận, với p > 0,05. Chức năng thận ở nhóm có đường kính trước sau bể thận > 40 mm, thấp hơn nhóm có đường kính từ 20 – 30 mm, p < 0,001; chức năng thận lần lượt là 38,9 ± 9,9% và 45,8 ± 7,9%. Đồng thời, nhóm này có nguy cơ chức năng thận dưới 40% cao hơn 4,1 lần so với chức năng thận của nhóm có đường kính trước sau bể thận từ 20 – 30mm, 95% [1,58 – 10,88], p = 0,004. Kết luận: Chức năng thận giảm khi đường kính trước sau bể thận tăng lên, ở nhóm có đường kính trước sau bể thận > 40 mmcó chức năng thận giảm hơn so với nhóm có đường kính trước sau bể thận từ 20 – 30 mm và nguy cơ có chức năng thận giảm dưới 40% cao gấp 4,1 lần. Nguyễn Duy Việt, Nguyễn Tiến Mạnh, Hạ Hồng Cường Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18474 NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI CÁC CHỈ SỐ CÔNG THỨC MÁU Ở BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18476 Mục tiêu: Đánh giá sự biến đổi các chỉ số công thức máu ở bệnh nhân tâm thần phân liệt và so sánh với nhóm chứng khỏe mạnh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có đối chứng trên 66 bệnh nhân được chẩn đoán tâm thần phân liệt và 45 người khỏe mạnh làm nhóm chứng. Các đối tượng được làm xét nghiệm công thức máu ngoại vi. Các chỉ số hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu được thu thập và phân tích. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 31. Biến định lượng được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn. So sánh trung bình giữa hai nhóm sử dụng kiểm định t-test. Mức ý nghĩa được xác định khi p<0,05. Kết quả: Nhóm bệnh nhân tâm thần phân liệt so với nhóm chứng cho thấy có tăng số lượng bạch cầu (8,26±1,76và 7,12±1,44, p<0,01), số lượng bạch cầu trung tính (5,06±1,53 và 4,33±1,12, p<0,01), số lượng bạch cầu đơn nhân (0,66±0,21 và 0,5±0,15, p<0,01), giảm số lượng hồng cầu (4,56±0,67 và 4,93±0,57, p<0,01), nồng độ huyết sắc tố (133,67±16,69 và 143,22±15,79, p<0,01) và hematocrit (0,40±0,05 và 0,43±0,04, p<0,01). Kết luận: Bệnh nhân tâm thần phân liệt có sự thay đổi ở một số chỉ số công thức máu so với người khỏe mạnh, bao gồm tăng số lượng bạch cầu, số lượng bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân, giảm số lượng hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố và hematocrit. Những thay đổi này gợi ý sự liên quan đến tình trạng viêm mạn tính mức độ thấp ở bệnh nhân Đỗ Xuân Tĩnh, Phạm Thị Thu Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18476 MÔ MỀM VÀ TRỤC RĂNG CỬA Ở TRẺ 8-10 TUỔI HẠNG III DO THIỂU SẢN XƯƠNG HÀM TRÊN: NGHIÊN CỨU CẮT NGANG TRÊN PHIM SỌ MẶT NGHIÊNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18478 Mục tiêu: Xác định đặc điểm trục răng cửa và mô mềm quanh miệng ở trẻ 8-10 tuổi hạng III do thiểu sản xương hàm trên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên phim sọ mặt nghiêng của 87 trẻ (39 nam, 48 nữ) tại Hà Nội. Các chỉ số được đo trên phần mềm chuyên dụng bao gồm trục răng cửa hai hàm, góc liên răng cửa, các chỉ số mô mềm (góc mũi-môi, độ nhô môi theo E-line và S-line). Kết quả: Các chỉ số trục răng cửa hai hàm và mô mềm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới (p>0,05). So với giá trị bình thường, răng cửa hàm trên và hàm dưới có xu hướng bù trừ với độ nhô tăng, độ nghiêng thay đổi và góc liên răng cửa tăng. Mô mềm quanh miệng, đặc biệt môi dưới, nhô rõ so với chuẩn bình thường. Phân tích tương quan cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa giữa trục răng cửa và mô mềm (p<0,05) trong đó răng cửa hàm trên ảnh hưởng chủ yếu đến môi trên và răng cửa hàm dưới ảnh hưởng rõ đến môi dưới. Kết luận: Ở trẻ hạng III do thiểu sản xương hàm trên tồn tại sự thích nghi phối hợp giữa răng và mô mềm, phản ánh mất cân đối cấu trúc xương sọ hàm mặt. Các đặc điểm này không khác biệt theo giới ở lứa tuổi 8-10, việc đánh giá sớm trục răng cửa và mô mềm có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán và định hướng điều trị chỉnh nha. Chu Thị Quỳnh Hương, Nguyễn Thế Nghĩa, Phạm Minh Trí, Trương Đình Khởi Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18478 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT NỘI SOI Ở BỆNH NHÂN VIÊM TÚI MẬT CẤP DO SỎI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18486 Mục tiêu: (1) Khảo sát đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm túi mật cấp do sỏi điều trị bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang năm 2023. (2) Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt túi mật điều trị viêm túi mật do sỏi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang năm 2023. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu hồi cứu mô tả, trên 51 bệnh nhân chẩn đoán viêm túi mật cấp do sỏi và điều trị bằng phương pháp phẫu thuật nội soi cắt túi mật tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang từ 2023- 2024. Kết quả: Trên 51 bệnh nhân, đau hạ sườn phải là triệu chứng chủ yếu (86,3%), kèm tăng amylase (56,9%), bạch cầu (54,9%) và hình ảnh túi mật căng to (68,6%), thành dày (64,7%) trên siêu âm. Phẫu thuật nội soi có thời gian mổ trung bình 106,7 ± 44,7 phút, tai biến trong mổ thấp (3,9%), không ghi nhận tổn thương ống mật chủ. Sau mổ, 76,5% không biến chứng; thời gian nằm viện trung bình 5,86 ± 2,04 ngày, 82,4% xuất viện trước 7 ngày. Kết quả điều trị tốt đạt 82,35%, cho thấy phẫu thuật nội soi là phương pháp an toàn và hiệu quả trong viêm túi mật cấp do sỏi. Kết luận: Viêm túi mật cấp do sỏi có biểu hiện lâm sàng điển hình và cận lâm sàng hỗ trợ chẩn đoán rõ ràng. Phẫu thuật nội soi cắt túi mật là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả, với tỷ lệ biến chứng thấp, thời gian hồi phục nhanh và kết quả điều trị tốt. Nguyễn Tuấn Cảnh, Thái Ngọc Dũng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18486 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA ĐIỆN CHÂM KẾT HỢP SIÊU ÂM ĐIỀU TRỊ VÀ BÀI TẬP VẬN ĐỘNG TRONG ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP GỐI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18490 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của phương pháp điện châm kết hợp siêu âm điều trị và bài tập vận động trong điều trị thoái hóa khớp gối. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu theo dõi dọc trên các bệnh nhân thoái hóa khớp gối từ tháng 06/2025 đến tháng 03/2026 tại Bệnh viện Y học cổ truyền Nam Định. Bệnh nhân được điều trị trong 14 ngày, đánh giá kết quả tại các thời điểm: trước điều trị (T0), sau 7 ngày (T7) và sau 14 ngày (T14) dựa trên thang điểm VAS, chỉ số Lequesne, tầm vận động khớp (ROM) và chỉ số WOMAC. Kết quả: Có 68 bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn. Trong đó, tỷ lệ bệnh nhân đạt kết quả tốt và khá chiếm đa số với 70,6% và 20,6%. Điểm VAS trung bình giảm từ 6,85±1,02 xuống 1,85±0,64. Chỉ số Lequesne cải thiện từ mức rất nặng (11,45±2,34) xuống mức trung bình (5,12±1,45). Góc gấp, góc duỗi khớp gối đều tăng (từ 92,4±7,8 độ lên 118,5±5,2 độ; từ 172,5±3,1 độ lên 178,2±1,5 độ). Tổng điểm WOMAC giảm đáng kể từ 61,19±9,56 xuống 21,61±4,18. Các cải thiện đều có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết luận: Phương pháp điện châm kết hợp siêu âm điều trị và bài tập vận động cho thấy hiệu quả cao trong việc giảm đau, cải thiện tầm vận động và phục hồi chức năng sinh hoạt cho bệnh nhân thoái hóa khớp gối. Ngô Văn Thư, Nguyễn Tùng Sơn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18490 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG BÁN PHẦN CHUÔI DÀI KHÔNG XI MĂNG ĐIỀU TRỊ GÃY LIÊN MẤU CHUYỂN XƯƠNG ĐÙI Ở BỆNH NHÂN TRÊN 80 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18492 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu 33 bệnh nhân thay khớp háng bán phần chuôi dài không xi măng ở bệnh nhân trên 80 tuổi tại bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 1/2024 đến tháng 1/2026. Kết quả: Tuổi trung bình là 85,36±3,26 tuổi, nhóm 80-85 chiếm 54,5%. Chấn thương do tai nạn sinh hoạt chiếm 84,85%. Thang điểm Harris cho kết quả tốt và rất tốt là 78,15%. Kết luận : Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp thay khớp háng bán phần không xi măng mang lại tỷ lệ phục hồi cao, ít di chứng, đồng thời cải thiện rõ rệt chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau điều trị. Lương Cầm Phong, Dương Đình Toàn, Nguyễn Trung Tuyến, Phạm Duy Huỳnh, Hà Văn Tuấn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18492 GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG CỦA KÍCH THƯỚC TỔN THƯƠNG DI CĂN PHỔI TRÊN CẮT LỚP VI TÍNH VÀ NỒNG ĐỘ THYROGLOBULIN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ TUYẾN GIÁP BIỆT HÓA DI CĂN PHỔI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18497 Đặt vấn đề: Nồng độ Thyroglobulin (Tg) và kích thước tổn thương di căn phổi trên cắt lớp vi tính (CT) là hai chỉ số thường quy trong quản lý ung thư tuyến giáp thể biệt hóa (UTTGBH) di căn phổi. Tuy nhiên, giá trị và ngưỡng cắt (cut-off) tối ưu của các chỉ số này trong tiên lượng tử vong tại Việt Nam chưa được xác định rõ. Mục tiêu: Xác định giá trị tiên lượng của kích thước tổn thương di căn phổi trên CT và nồng độ Tg kích thích trước điều trị I-131 ở bệnh nhân UTTGBH di căn phổi. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 165 bệnh nhân UTTGBH di căn phổi, đã phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp và điều trị I-131 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 8/2004 đến tháng 3/2026. Phân tích đường cong ROC (Receiver Operating Characteristic), tính diện tích dưới đường cong (AUC) và chỉ số Youden được sử dụng để xác định điểm cắt tối ưu dự báo tử vong. Kết quả: Đường cong ROC của nồng độ Tg kích thích trước điều trị (n=159) cho thấy AUC đạt 0,686; ngưỡng cắt tối ưu là 207 ng/mL với độ nhạy 88,46% và độ đặc hiệu 54,89%. Đối với kích thước tổn thương di căn phổi trên CT (n=160), giá trị tiên lượng tốt hơn với AUC đạt 0,799; ngưỡng cắt tối ưu được xác định là 5 mm, tương ứng với độ nhạy 80,77% và độ đặc hiệu 74,63%. Kết luận: Kích thước tổn thương di căn phổi trên CT có giá trị dự báo tiên lượng ở mức tốt (ngưỡng > 5 mm), nồng độ Tg có giá trị dự báo tiên lượng ở mức trung bình (ngưỡng > 207 ng/mL). Kết hợp hai chỉ số này giúp phân tầng nguy cơ và tối ưu hóa phác đồ điều trị. Lê Quốc Khánh, Ngô Văn Đàn, Trần Bá Khoa, Mai Huy Thông, Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Thanh Hải, Lê Ngọc Hà Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18497 XÁC ĐỊNH NGƯỠNG CẮT CỦA TỈ LỆ MRNA e6/e7 BẰNG FLOW CYTOMETRY TRONG PHÁT HIỆN BẤT THƯỜNG TẾ BÀO CỔ TỬ CUNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18500 Đặt vấn đề: Nhiễm dai dẳng các típ Human Papillomavirus nguy cơ cao (HR-HPV) là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến ung thư cổ tử cung (CTC). Biểu hiện của các gen gây ung thư E6 và E7 phản ánh hoạt động sinh học của virus và có liên quan đến sự tiến triển của tổn thương CTC. Do đó, đánh giá tỉ lệ biểu hiện mRNA E6/E7 có thể là một chỉ dấu sinh học tiềm năng trong phát hiện các bất thường tế bào CTC. Mục tiêu: Xác định ngưỡng cắt tối ưu của tỉ lệ biểu hiện mRNA E6/E7 trong phát hiện bất thường tế bào CTC. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 527 phụ nữ đến khám sàng lọc UTCTC tại Phòng khám Đa khoa Đại Phước từ tháng 01/2023 đến tháng 05/2025. Tất cả mẫu phết tế bào CTC thu được được thực hiện đồng thời xét nghiệm tế bào học, HR-HPV DNA bằng multiplex real-time PCR và định lượng biểu hiện mRNA E6/E7 bằng kỹ thuật flow cytometry. Ngưỡng cắt tối ưu được xác định bằng đường cong ROC với phương pháp tế bào học làm tiêu chuẩn tham chiếu. Mức độ đồng thuận giữa các phương pháp được đánh giá bằng hệ số Gwet’s AC. Kết quả: Ngưỡng cắt tối ưu của tỉ lệ mRNA E6/E7 là 0,15%, với độ nhạy 58,82%, độ đặc hiệu 85,29%, độ chính xác 84,44%; AUC = 0,69 (KTC 95%: 0,52–0,86; p = 0,026). Phương pháp phát hiện mRNA E6/E7 có mức độ đồng thuận tốt với tế bào học (Gwet’s AC = 0,80; KTC 95%: 0,75–0,84; p < 0,001). Kết luận: Tỉ lệ biểu hiện mRNA E6/E7 với ngưỡng cắt 0,15% có khả năng phát hiện bất thường tế bào CTC với độ đặc hiệu cao và mức độ đồng thuận tốt với tế bào học, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong sàng lọc và phân tầng nguy cơ ung thư CTC. Nguyễn Thị Mai Anh, Hà Kiều Trang, Trần Thị Ngọc Mi, Trịnh Nhật Trường, Lý Thanh Thiện, Nguyễn Ngọc Khánh Linh, Phan Đặng Anh Thư Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18500 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT PHACO ĐẶT KÍNH NỘI NHÃN ĐƠN TIÊU KÉO DÀI TIÊU CỰ NÂNG CAO: BÁO CÁO CHÙM CA BỆNH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18507 Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật phaco đặt kính nội nhãn đơn tiêu cự kéo dài nâng cao và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh trên 20 mắt đã phẫu thuật đặt kính nội nhãn đơn tiêu kéo dài tiêu cự RayOne EMV tại Bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng 8/2025 đến 4/2026. Bệnh nhân trưởng thành từ 50 tuổi trở lên, đủ điều kiện phẫu thuật đục thủy tinh thể và có độ loạn thị giác mạc <2,0 diop (D), được đặt thủy tinh thể nội nhãn RayOne EMV ở cả hai mắt và theo dõi trong 3 tháng. Các chỉ số đánh giá kết quả bao gồm khúc xạ, thị lực nhìn xa không chỉnh kính, thị lực nhìn xa có chỉnh kính (CDVA), thị lực nhìn trung gian, thị lực nhìn gần, và mức độ hài lòng. Các triệu chứng thị giác như chói lóa, quầng sáng được phỏng vấn sau 3 tháng. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng bảng câu hỏi VF14. Kết quả: Nghiên cứu được tiến hành trên 20 mắt của 10 bệnh nhân. Sau 3 tháng phẫu thuật, giá trị trung vị của khúc xạ cầu tương đương (SE) là -0,50 D (khoảng: -0,50 đến -0,25 D). Về kết quả thị lực (đánh giá theo thang đo logMAR), thị lực nhìn xa không kính (UDVA) trung bình đạt 0,155 ± 0,113, với 100% số mắt nằm trong phạm vi ≤ 0,4; thị lực hai mắt có kính tối ưu (CDVA) trung bình là 0,083 ± 0,064. Ở khoảng cách trung gian không kính (UIVA), 70% bệnh nhân đạt mức ≤ 0,3 và 100% đạt mức ≤ 0,5. Thị lực nhìn gần không kính (UNVA) trung bình là 0,328 ± 0,128. Đáng chú ý, trong phân nhóm 5 bệnh nhân được áp dụng chiến lược đặt kính nội nhãn theo phương pháp mini-monovision, kết quả thị lực trung bình ở các khoảng cách lần lượt là: nhìn xa đạt 0,095 ± 0,082 (khoảng: 0,0 – 0,3); trung gian đạt 0,115 ± 0,110 (khoảng: 0,0 – 0,4); và nhìn gần đạt 0,240 ± 0,099. Khảo sát mức độ hài lòng cho thấy 90% bệnh nhân đánh giá tốt đối với thị lực trung gian, và 80% hài lòng đối với cả thị lực nhìn xa và nhìn gần. Lê Ngọc Huyền, Nguyễn Kiếm Hiệp, Lê Thị Hồng Nhung Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18507 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÁN SỎI NỘI SOI NGƯỢC DÒNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG LASER HOLMIUM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18510 Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản theo phương pháp tán sỏi bằng laser Holmium qua nội soi niệu quản tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ. Phương pháp: Hồi cứu mô tả cắt ngang trên các bệnh nhân sỏi niệu quản được điều trị theo phương pháp tán sỏi bằng laser Holmium qua nội soi niệu quản từ tháng 01/2023 đến tháng 01/2024. Kết quả: Nam giới chiếm 53,9%. Tuổi trung bình là 47,68±12,77 tuổi (21-77 tuổi). Vị trí sỏi: 1/3 dưới 28,9%, 1/3 giữa 40,8% và 1/3 trên là 30,3%. Kích thước sỏi trung bình là 8,86±2,95 mm (4,2-17 mm). Thời gian tán sỏi trung bình là 25,2±11,6 phút (15-80 phút). Thời gian hậu phẫu trung bình là 2,6±1,2 ngày. Thành công 98,7%. Kết luận: Phương pháp tán sỏi niệu quản bằng laser Holmium qua nội soi niệu quản là phương pháp có hiệu quả và an toàn. Nguyễn Tuấn Cảnh, Nguyễn Khánh Duy Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18510 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GIÃN TĨNH MẠCH NIỆU ĐẠO BẰNG LASER HOLMIUM https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18513 Mục tiêu: Tiểu máu khi cương tái diễn là triệu chứng lâm sàng hiếm gặp, thường liên quan đến bệnh cảnh xuất tinh máu, gây khó khăn trong chẩn đoán và điều trị. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định nguyên nhân và đánh giá kết quả điều trị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt 20 ca bệnh có triệu chứng tiểu máu khi cương tái diễn trong giai đoạn từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 05 năm 2023. Quá trình chẩn đoán nguyên nhân và kết quả phẫu thuật được thực hiện thông qua hỏi bệnh, đánh giá hiệu quả điều trị và các biến chứng trong thời gian điều trị cũng như theo dõi. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 50 tuổi, thời gian mắc bệnh trung bình là 64 tháng. Trong 20 đối tượng nghiên cứu, có 10 trường hợp nhập viện vì tiểu lần đầu sau xuất tinh có máu đỏ hoặc máu cục, 2 trường hợp chảy máu dương vật khi đang quan hệ tình dục và 8 trường hợp chảy máu từ niệu đạo khi dương vật mới cương nhưng chưa quan hệ tình dục. Tất cả bệnh nhân được nội soi bàng quang chẩn đoán và 100% trường hợp phát hiện mạch máu giãn bất thường ở niệu đạo sau. Các bệnh nhân đều được điều trị bằng nội soi ngược dòng đốt tĩnh mạch giãn bằng laser holmium. Thời gian theo dõi sau mổ trung bình là 9,5 tháng; tất cả bệnh nhân quan hệ tình dục sau phẫu thuật không còn tình trạng xuất tinh máu. Có 5/20 bệnh nhân tái khám sau mổ 3 tháng được nội soi niệu đạo kiểm tra và ghi nhận không còn giãn tĩnh mạch niệu đạo. Kết luận: Tiểu máu khi cương tái diễn có thể liên quan đến giãn tĩnh mạch bất thường ở niệu đạo sau. Nội soi ngược dòng đốt tĩnh mạch niệu đạo giãn bằng laser holmium là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả và có giá trị trong kiểm soát triệu chứng ở nhóm bệnh nhân này. Hạ Hồng Cường, Lê Ngọc Hà, Nguyễn Gia Hào, Cao Mạnh Long Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18513 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ LOẠN SẢN PHẾ QUẢN PHỔI TẠI TRUNG TÂM HÔ HẤP BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18515 Mục tiêu: Loạn sản phế quản phổi (LSPQP) là bệnh phổi mạn tính thường gặp ở trẻ sinh non, hậu quả của sự kết hợp giữa tình trạng phổi chưa trưởng thành và các yếu tố tổn thương sau sinh như thở máy, thở oxy kéo dài và viêm. Tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung Ương, nơi tuyến cuối để điều trị các bệnh lý hô hấp phức tạp ở trẻ em, bệnh lý LSPQP vẫn là 1 gánh nặng không hề nhỏ. Tỷ lệ nhập viện, tái nhập viện cao với các tình trạng nặng cần can thiệp và hỗ trợ về hô hấp cũng như đòi hỏi các chăm sóc toàn diện đối với trẻ đẻ non là những thách thức lớn với các bác sĩ hô hấp. Mục đích của nghiên cứu này là “Mô tả một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và kết quả điều trị bệnh loạn sản phế quản phổi tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương trong năm 2025”. Phương pháp:Chúng tôi nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 117 bệnh nhân được chẩn đoán LSPQP điều trị tại Trung tâm Hô hấp năm 2025. Kết quả: Trong 117 trẻ, tỷ lệ nam chiếm 61,54%. Một số đặc điểm về tiền sử sơ sinh: tuổi thai trung bình 28,56 ± 2,5 tuần, cân nặng khi sinh trung bình 1068,59 ± 358,11 gam. Thời gian thở máy sau sinh trung bình 27,62 ngày và thở oxy 39,69 ngày. LSPQP mức độ nhẹ chiếm 37,61%, trung bình 52,14% và nặng 10,26%. Thời gian nằm viện có trung vị là 32 ngày (IQR: 18–56), dao động từ 7–120 ngày. Thời gian thở oxy có trung vị là 25 ngày (khoảng tứ phân vị: 15–42 ngày), dao động từ 5–90 ngày, tỷ lệ phải thở máy không xâm nhập là 32,5% với số ngày dùng máy thở có trung vị là 10 ngày (IQR: 5–18), dao động từ 1–45 ngày, tỷ lệ bệnh nhân phải chuyển hồi sức cần đến can thiệp thở máy xâm nhập là 23,1%. Tăng áp động mạch phổi gặp ở 67,52% trường hợp. Kết quả điều trị ổn định bệnh đỡ giảm là tử vong 0,87%. Hoàng Thị Thu Hằng, Lê Thị Hồng Hanh, Nguyễn Đăng Quyệt, Hoàng Phương Thanh, Bùi Thị Thúy Nhung, Nguyễn Phi Hùng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18515 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NÂNG MŨI THẨM MỸ CÓ SỬ DỤNG SỤN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18518 Mục tiêu: Đánh giá kết quả thẩm mỹ, mức độ hài lòng và biến chứng sau phẫu thuật nâng mũi có sử dụng sụn. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca, kết hợp hồi cứu và tiến cứu, theo dõi 52 người bệnh được phẫu thuật tại Khoa Quốc tế, Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 01/2024 đến tháng 10/2025. Kết quả được đánh giá bằng thang điểm Rhinoplasty Outcome Evaluation (ROE), mức độ hài lòng, phân loại thẩm mỹ và biến chứng đến 6 tháng. Kết quả: Tuổi trung bình là 28,3 ± 6,5; nữ chiếm 90,4%. Mổ mở được thực hiện ở 84,6%; vật liệu nhân tạo kết hợp sụn tự thân chiếm 67,3%. Điểm ROE tăng từ 33,8 ± 10,7 trước mổ lên 78,4 ± 11,6 sau 6 tháng (p < 0,001). Tại 6 tháng, 86,5% đạt kết quả tốt, 96,2% đạt kết quả tốt hoặc khá; 5,8% còn biến chứng hoặc di chứng và 3,8% cần can thiệp chỉnh sửa. Kết luận: Phẫu thuật nâng mũi có sử dụng sụn cải thiện rõ kết quả tự đánh giá và đạt tỷ lệ hài lòng cao. Phần lớn biến chứng sớm giảm theo thời gian; cần tiếp tục theo dõi các bất thường hình thể và biến chứng liên quan vật liệu. Lê Tấn Hùng, Lê Minh Phong Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18518 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CO GIẬT Ở TRẻ TỪ 2 ĐẾN 60 THÁNG TUỔI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TIỀN GIANG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18521 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân và điều trị co giật ở trẻ từ 2 đến 60 tháng tuổi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 180 trẻ từ 2–60 tháng tuổi được chẩn đoán co giật và điều trị tại Khoa Nhi và Hồi sức Nhi từ tháng 01/2024-12/2024. Số liệu được thu thập hồi cứu từ hồ sơ bệnh án và phân tích bằng các phương pháp thống kê mô tả. Kết quả: Nhóm tuổi trên 6–36 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (76,7%), tuổi trung vị 21 tháng; trẻ nam chiếm 60,0%. Co giật có sốt chiếm 93,3%, đa số xảy ra tại nhà và chỉ có một cơn trong mỗi đợt. Hạ Natri máu là bất thường cận lâm sàng thường gặp nhất (45,6%). Nguyên nhân chủ yếu là sốt co giật (86,1%), tiếp theo là động kinh (11,7%). Phần lớn bệnh nhi đáp ứng tốt với điều trị, với 99,4% trường hợp được xuất viện. Kết luận: Co giật ở trẻ từ 2 đến 60 tháng tuổi tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang chủ yếu liên quan đến sốt, có tiên lượng thuận lợi và tỷ lệ nguyên nhân nặng thấp. Nguyễn Thành Nam, Nguyễn Hoàng Nam Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18521 CẢI THIỆN THỜI GIAN TRẢ KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM GỬI TRUNG TÂM Y KHOA MEDIC CHO NGƯỜI BỆNH ĐẾN KHÁM CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18523 Đặt vấn đề: Rút ngắn thời gian trả kết quả xét nghiệm (TAT) là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả chẩn đoán, điều trị và sự hài lòng của người bệnh. Tại khu vực Xét nghiệm Ngoại chẩn, kết quả các xét nghiệm gửi ngoài - khoảng 80% được thực hiện tại Medic - thường được trả sau 3–5 ngày, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và trải nghiệm người bệnh. Nguyên nhân chậm trễ chủ yếu liên quan đến quy trình giao nhận chưa tối ưu, thiếu số hóa và thủ tục hành chính còn thủ công. Vì vậy, đề án cải tiến quy trình trả kết quả xét nghiệm gửi ngoài được triển khai với mục tiêu rút ngắn ít nhất 30% thời gian chờ. Mục tiêu: Cải thiện thời gian trả kết quả xét nghiệm gửi Medic cho người bệnh được lấy mẫu tại bệnh viện Nhi Đồng 1;(1) đạt 100% tỷ lệ trả một số kết quả xét nghiệm gửi Medic trong một ngày với các khu vực gửi mẫu thông qua công cụ hỗ trợ; (2) đạt 90% tỷ lệ mẫu bệnh phẩm gửi Medic đúng hẹn Đối tượng và phương pháp: Bao gồm tất cả mẫu xét nghiệm gửi Medic từ khu vực ngoại trú và nội trú. Thiết kế chuỗi thời gian trước–sau; triển khai can thiệp theo chu trình PDCA. Dữ liệu được thu thập hằng tuần và phân tích bằng biểu đồ run chart. Kết quả: Tỷ lệ trả kết quả trong một ngày tăng từ 84,5% lên 99,7%; tỷ lệ gửi mẫu đúng hẹn tăng từ 83,9% lên 94,7%; tỷ lệ tuân thủ quy trình gửi mẫu tăng từ 96,7% lên 99,74%. Kết luận: Các giải pháp cải tiến khả thi và hiệu quả trong việc rút ngắn thời gian trả kết quả. Các chỉ số chất lượng cải thiện rõ rệt, tiệm cận mục tiêu và duy trì ổn định. Mô hình có thể nhân rộng và cần được giám sát thường xuyên để bảo đảm hiệu quả bền vững. Nguyễn Mạnh Cung Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18523 LOẠN SẢN PHẾ QUẢN PHỔI Ở TRẺ SƠ SINH RẤT NON TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN: MỘT NGHIÊN CỨU THEO DÕI DỌC https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18526 Đặt vấn đề: Loạn sản phế quản phổi (LSPQP) là bệnh phổi mạn tính thường gặp ở trẻ sinh non rất non, liên quan nằm viện kéo dài và gánh nặng bệnh hô hấp sau xuất viện. Do LSPQP gây ảnh hưởng đáng kể đến kết cục ngắn hạn và dài hạn, việc xác định các yếu tố liên quan có ý nghĩa thực tiễn để nhận diện nhóm nguy cơ cao và tối ưu chiến lược can thiệp. Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến loạn sản phế quản phổi (LSPQP) ở trẻ sinh non rất non (<32 tuần tuổi thai) được điều trị tại khoa Hồi sức Sơ sinh, Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp: Nghiên cứu theo dõi dọc (08/2024–10/2025). Quần thể phân tích LSPQP gồm 83 trẻ đủ dữ liệu đánh giá kết cục. LSPQP (mọi mức độ) được phân loại có/không. Các yếu tố liên quan được phân tích bằng hồi quy logistic đa biến, trình bày odds ratio (OR) và khoảng tin cậy 95%. Kết quả: Tỷ lệ LSPQP là 41,0% (34/83). Ba yếu tố liên quan độc lập với LSPQP gồm: nhỏ so với tuổi thai (SGA) (OR=6,63; KTC95% 1,13–38,78; p=0,036), thở máy xâm nhập (TMXN) ở ngày tuổi 14 với FiO2 ≥25% (OR=4,78; KTC95% 1,54–14,82; p=0,007) và thời gian dinh dưỡng tĩnh mạch (DDTM) cộng dồn ≥18 ngày (OR=3,06; KTC95% 1,08–8,65; p=0,035). Kết luận: Ở trẻ sinh non <32 tuần, SGA, còn cần TMXN ở ngày tuổi 14 với FiO2 ≥25% và DDTM kéo dài liên quan độc lập với LSPQP. Các đặc điểm này có thể hỗ trợ nhận diện sớm nhóm nguy cơ cao để ưu tiên theo dõi và tối ưu chiến lược can thiệp. Nguyễn Đức Toàn, Đặng Quốc Bửu, Phạm Thị Thanh Tâm Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18526 KẾT QUẢ TRUNG HẠN SAU PHẪU THUẬT SỬA CHỮA HOÀN TOÀN TẬT KHÔNG LỖ VAN ĐỘNG MẠCH PHỔI KÈM THÔNG LIÊN THẤT TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18529 Mở đầu: Không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất (KLVĐMPKTLT), cũng như các bất thường vùng thân nón, vấn đề sau phẫu thuật hoàn toàn là suy chức năng ống ghép thất phải – động mạch phổi và rối loạn chức năng thất phải. Kết quả trung hạn sau phẫu thuật có vai trò quan trọng trong theo dõi, tiên lượng và định hướng can thiệp kịp thời. Mục tiêu: Đánh giá kết quả trung hạn sau phẫu thuật hoàn toàn KLVĐMPKTLT tại Nhi Đồng 1 thông qua tỉ lệ hẹp giải phẫu hệ động mạch phổi, hẹp – hở van ống ghép, dãn phình đường thoát thất phải, suy chức năng thất phải và nhu cầu tái can thiệp giai đoạn 1 đến 5 năm sau mổ. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca tất cả bệnh nhi KLVĐMPKTLT được phẫu thuật hoàn toàn bằng tạo ống ghép thất phải – động mạch phổi và vá thông liên thất tại Nhi Đồng 1 từ 01/2019 đến 04/2024. Kết quả: Có 35 bệnh nhi, 97,1% thuộc thể giải phẫu Castaneda loại I và II. Phần lớn được phẫu thuật từ 6 tháng đến 2 tuổi, cân nặng trung vị 9 kg và độ bão hòa oxy trung bình trước mổ là 76%. 97,1% bệnh nhi đã can thiệp tạm thời trước phẫu thuật, chủ yếu là stent ống động mạch. Kích thước ống ghép được chọn với z-score trung bình +2; tỉ lệ áp lực thất phải/thất trái ngay sau mổ trung vị 0,27. Trong 1–5 năm sau phẫu thuật, 11,4% có suy tim nhẹ, 54,3% có blốc nhánh phải và không ghi nhận tử vong. Hẹp động mạch phổi trái gặp nhiều hơn phải (50% với 10,7%). Hẹp ống ghép chiếm 65,7%, mức trung bình nặng là 45,7%, chủ yếu đoạn xa ống ghép. Hẹp van ống ghép mức trung bình nặng chiếm 51,4%, trong khi hở van ống ghép đa số ở mức nhẹ. Dãn đường thoát thất phải 34,3%, phần lớn là dãn nhẹ. Lớn thất phải 71,4%. Rối loạn chức năng tâm thu thất phải ghi nhận 74,3% trên siêu âm tim và 85,7% trên cộng hưởng từ tim; rối loạn chức năng tâm trương thất phải 82,9% trên siêu âm tim. Các bất thường nặng ở ống ghép, nhánh động mạch phổi và chức năng thất phải có thể xuất hiện sớm từ năm đầu sau phẫu thuật. Tái can thiệp ở 60% bệnh nhi, khoảng 2,5 năm sau phẫu thuật, chủ yếu do hẹp ống ghép, kế đến là hẹp nhánh động mạch phổi. Kết luận: Tái can thiệp hẹp ống ghép thất phải – động mạch phổi chiếm tỉ lệ cao. Do vậy, tất cả bệnh nhi KLVĐMPKTLT sau phẫu thuật cần được theo dõi bằng siêu âm tim đa thông số và cộng hưởng từ tim nhằm phát hiện sớm các biến chứng và can thiệp kịp thời. Nguyễn Thị Phương Châu, Vũ Minh Phúc Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18529 NHIỄM CYTOMEGALOVIRUS Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1: KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18531 Đặt vấn đề: Cytomegalovirus (CMV) là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm trùng bẩm sinh, dẫn đến nguy cơ tử vong cao và di chứng nặng nề. Dù thuốc kháng virus có hiệu quả, nhưng độc tính giảm bạch cầu hạt và tổn thương gan vẫn là thách thức lớn. Do đó, việc xác định các yếu tố liên quan đến biến chứng và kết quả điều trị là thiết yếu để đảm bảo an toàn và tối ưu hóa hiệu quả chữa trị Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến biến chứng và kết quả điều trị nhiễm CMV ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp: Mô tả loạt ca tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ ngày 01/01/2022 đến 31/03/2025. Đối tượng nghiên cứu bao gồm các trẻ được chẩn đoán xác định nhiễm CMV bằng xét nghiệm CMV DNA trong nước tiểu và được điều trị bằng thuốc kháng virus. Kết quả: Trên 36 trẻ nhiễm CMV điều trị kháng virus cho thấy: Đơn trị liệu ganciclovir tĩnh mạch là yếu tố liên quan đến cả hai biến chứng giảm bạch cầu hạt (OR=17,1; P=0,022) và tăng men gan (OR=8,1; P=0,041). Bên cạnh đó, bạch cầu hạt thấp (< 1,5×109/L) trước điều trị cũng liên quan đến nguy cơ giảm bạch cầu hạt gấp 12,6 lần (P=0,038). Đối với liên quan đến tử vong, phân tích đa biến ghi nhận vai trò của chấm xuất huyết (OR=7,4; P=0,032) và số lượng tiểu cầu. Cụ thể, số lượng tiểu cầu có giá trị tiên lượng cao (AUC=0,914), với ngưỡng < 21×109/L cho độ nhạy 90,6% và độ đặc hiệu 75,0% Kết luận: Nghiên cứu này nhấn mạnh trong quá trình điều trị CMV cần theo dõi sát công thức máu và men gan, đặc biệt khi dùng chỉ ganciclovir hoặc có bạch cầu hạt thấp để đảm bảo an toàn. Các chỉ dấu như chấm xuất huyết và số lượng tiểu cầu là các yếu tố định hướng hữu ích để xác định trẻ có nguy cơ tử vong cao do bệnh toàn thân nặng, qua đó nhấn mạnh sự cần thiết của các nghiên cứu cỡ mẫu lớn hơn để củng cố và mở rộng kết quả này. Nguyễn Đức Toàn, Trần Quang Khôi, Nguyễn Kiến Mậu, Võ Đức Trí Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18531 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HỞ THÀNH BỤNG Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18534 Đặt vấn đề: Hở thành bụng là một dị tật bẩm sinh của thành bụng, thường nằm bên phải đường giữa, do rối loạn phát triển bào thai làm các cơ quan trong ổ bụng không trở về khoang bụng bình thường. Trên siêu âm, bệnh được phát hiện qua hình ảnh các tạng và ruột thoát vị tự do trong khoang ối, không được bao phủ bởi màng; các cấu trúc thoát vị chủ yếu là ruột non, ngoài ra có thể gặp dạ dày, đại tràng và hiếm hơn là tuyến sinh dục [4,5]. Trên thế giới, một nghiên cứu năm 2023 báo cáo tỷ lệ mắc hở thành bụng là 3,3 trên 10.000 ca sinh sống [3]. Tại Việt Nam, dữ liệu còn hạn chế, nhưng nghiên cứu của Hoàng Trường và cộng sự ước tính tỷ lệ này là 1,43 trên 10.000 ca sinh sống giai đoạn 2007–2010 [6]. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị ở trẻ sơ sinh mắc hở thành bụng. Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị hở thành bụng ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp: Mô tả loạt ca từ 01/01/2020 đến 30/06/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả: Có 61 trường hợp hở thành bụng ở trẻ sơ sinh trong thời gian nghiên cứu. Tỷ lệ nam/nữ là 1,1/1, tuổi thai có trung vị 36,3 tuần (35,0 – 37,5 tuần), cân nặng lúc sinh có trung vị 2140 g (1900 – 2400 g), sinh mổ chiếm 50,8%, tỷ lệ chẩn đoán tiền sản là 85,2%, tuổi mẹ có trung vị 21,0 tuổi (19,0 – 24,0 tuổi). Phân độ tổn thương ruột trong hở thành bụng ở trẻ sơ sinh như sau: độ I (86,9%), độ II (9,8%), độ III (3,3%). Các dị tật bẩm sinh kèm theo gồm tim bẩm sinh (1,7%), teo ruột non (1,7%). Về đặc điểm lâm sàng lúc nhập viện và an toàn chuyển viện gồm suy hô hấp (77,0%), sốc (14,6%), hạ thân nhiệt (85,2%), thủng ruột (8,2%), bọc túi plastic vô khuẩn (50,8%), đắp gạc ẩm vô khuẩn (42,6%), không bù dịch (4,9%). Về phẫu thuật, thời gian đặt túi silo trung vị 5,0 ngày (4,0 – 5,0 ngày), đặt túi silo và không được mổ chiếm 3,3%. Về đặc điểm lâm sàng và biến chứng sau mổ: nhiễm trùng vết mổ (21,3%), viêm màng não (21,3%), viêm phổi (9,8%), tắc ruột (9,8%), viêm ruột hoại tử (9,8%), hội chứng ruột ngắn (3,3%), thời gian thở máy trung vị 5,0 ngày (4,0 – 8,0 ngày), thời gian bắt đầu dinh dưỡng tiêu hóa (từ ngày hậu phẫu) là 7,0 ngày (6,0 – 10,0 ngày), thời gian đạt dinh dưỡng tiêu hóa hoàn toàn là 15,0 ngày (10,0 – 18,5 ngày), thời gian nuôi ăn tĩnh mạch 18,5 ngày (15,0 – 25,0 ngày). Thời gian nằm viện trung vị 30,0 ngày (23,0 – 40,0 ngày). Tỷ lệ tử vong là 3,3%, nguyên nhân tử vong là bệnh màng trong (1,6%), sốc nhiễm trùng (1,6%). Như vậy, chúng tôi ghi nhận thời gian nằm viện kéo dài >30 ngày là kết cục nổi bật nhất trong nghiên cứu này. Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan tới thời gian nằm viện kéo dài > 30 ngày là non tháng, nhẹ cân so với tuổi thai, toan chuyển hóa nặng kéo dài, thời gian đặt túi silo, thời gian thở máy xâm lấn, thời gian bắt đầu dinh dưỡng tiêu hóa sau phẫu thuật và thời gian nuôi ăn tĩnh mạch. Kết luận: Thực hiện phân tích đa biến bằng mô hình logistic đa biến, các yếu tố thực sự liên quan tới thời gian nằm viện kéo dài > 30 ngày là non tháng, nhẹ cân so với tuổi thai và toan chuyển hóa nặng kéo dài. Việc nhận diện sớm các yếu tố nguy cơ này có ý nghĩa quan trọng trong phân tầng nguy cơ, tối ưu hóa chiến lược điều trị và góp phần rút ngắn thời gian nằm viện, cải thiện kết quả điều trị cho trẻ sơ sinh hở thành bụng. Nguyễn Đức Toàn, Châu Hồng Thương, Tăng Chí Thượng, Phạm Thị Thanh Tâm Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18534 ỨNG DỤNG SIÊU ÂM TRONG THIẾT LẬP CATHETER ĐỘNG MẠCH QUAY Ở TRẺ EM https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18538 Đặt vấn đề: Thiết lập catheter động mạch ở bệnh nhi tại các đơn vị chăm sóc đặc biệt là một kỹ thuật phức tạp, với tỷ lệ thành công ngay lần đặt đầu tiên còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu do đường kính động mạch ở trẻ nhỏ, trẻ chưa biết cách hợp tác trong quá trình thực hiện, và kỹ thuật thường được tiến hành dựa vào bắt mạch và xác định mốc giải phẫu. Vì thế, nghiên cứu này được thực hiện dựa trên việc ứng dụng siêu âm để đánh dấu vị trí động mạch quay, ước lượng độ sâu, đường kính và hướng đi của động mạch trước khi đặt. Phương pháp: Nghiên cứu thực nghiệm, thiết kế đo lường sau can thiệp, được tiến hành ở các bệnh nhi có chỉ định thiết lập catheter động mạch tại khoa Hồi sức tích cực - Chống độc và Cấp cứu đáp ứng đầy đủ tiêu chí lựa chọn. Thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2024-03/2025. Kết quả: Tỷ lệ thành công ngay lần đặt đầu tiên đạt 61,10%; tỷ lệ thành công cuối cùng đạt 90.60%; số lần đâm kim trung bình là 1,86 lần. Phân tích hồi quy cho thấy mức độ kích thích của trẻ có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng thành công ngay lần đầu thực hiện kỹ thuật (B = -3,189; OR = 0,41; p < 0,05). Kết luận: Áp dụng siêu âm đánh dấu vị trí động mạch ngay từ ban đầu khi thiết lập catheter động mạch quay đã cho thấy tỉ lệ thành công cao, giảm số lần đâm kim và tỉ lệ biến chứng thấp sau thủ thuật. Các đơn vị chăm sóc tích cực nhi khoa nên nhân rộng kỹ thuật này khi được trang bị đầy đủ máy siêu âm và nhân lực được đào tạo về siêu âm tiếp cận mạch máu ngoại biên. Đào Thị Ngân, Lê Thị Uyên Ly, Võ Thanh Vũ, Mã Tú Thanh, Trần Thị Ngọc Trâm Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18538 KHẢO SÁT BIẾN THỂ SỐ LƯỢNG BẢN SAO BẰNG GIẢI TRÌNH TỰ THẾ HỆ MỚI Ở BỆNH NHÂN TỨ CHỨNG FALLOT https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18542 Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát các biến thể số lượng bản sao (Copy Number Variation - CNV) bằng giải trình tự thế hệ mới ở bệnh nhân Tứ chứng Fallot có và không có mất đoạn 22q11.2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên 44 bệnh nhân Tứ chứng Fallot đến thăm khám tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ 01/2025 - 12/2025. Trong đó bao gồm 22 bệnh nhân Tứ chứng Fallot đã được xác định có mất đoạn 22q11.2, và 22 trường hợp không ghi nhận mất đoạn 22q11.2. Kết quả: Ở nhóm Tứ chứng Fallot có mất đoạn 22q11.2 ghi nhận thêm một số CNV chưa rõ chức năng ngoài vùng 22q11.2 bao gồm 1 CNV lặp đoạn 12q21.3 và 1 CNV lặp đoạn 2p25.3. Ở nhóm bệnh nhân Fallot không mất đoạn 22q11.2, ghi nhận lần lượt 1 CNV lặp đoạn tại 9q34.1, 1 CNV lặp đoạn tại 11p15.1, và 1 CNV lặp đoạn 15q13.3. Kết luận: Bệnh nhân Tứ chứng Fallot có thể mang một số các CNV khác nhau bên cạnh mất đoạn 22q11.2 là bất thường nhiễm sắc thể thường gặp. Lê Minh Khôi, Phan Ngân Tường Vy, Nguyễn Hoài Thanh, Vũ Diễm My Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18542 TUỔI THỌ CATHETER TĨNH MẠCH NGOẠI VI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIÊM TĨNH MẠCH NGOẠI VI TẠI KHOA NHI – SƠ SINH 02 BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC NHA TRANG VÀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC ĐÀ NẴNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18546 Đặt vấn đề: Đường truyền tĩnh mạch ngoại vi (Peripheral Intravenous Catheter – PIVC) là phương tiện thiết yếu trong điều trị Nhi – Sơ sinh để truyền dịch, thuốc và chế phẩm máu. Tuy nhiên, đặc điểm giải phẫu và sinh lý mạch máu của trẻ nhỏ khiến việc duy trì PIVC ổn định gặp nhiều khó khăn, dễ dẫn đến rút catheter sớm và các biến chứng như viêm tĩnh mạch. Nhiều nghiên cứu cho thấy tuổi thọ trung bình của PIVC ở trẻ em chỉ khoảng 29 – 48 giờ. Tại Việt Nam, dữ liệu về tuổi thọ PIVC và các yếu tố liên quan còn hạn chế, đặc biệt tại các bệnh viện đa khoa quốc tế. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tuổi thọ PIVC và các yếu tố liên quan tại khoa Nhi – Sơ sinh của hai bệnh viện thuộc hệ thống Vinmec. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đối tượng Trẻ sơ sinh và trẻ em có chỉ định nhập viện tại khoa Nhi – Sơ sinh có đặt ống thông tĩnh mạch từ tháng 08 đến tháng 12 năm 2025. Nghiên cứu thu thập được 844 mẫu, sử dụng phiếu thu thập dữ liệu có cấu trúc (structured data collection form/checklist) được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đây về tuổi thọ catheter tĩnh mạch ngoại vi ở trẻ em. Kết quả: Trong 844 trẻ, PIVC >72 giờ chiếm 78,1%; ≤30 giờ 19,2%; >30 – ≤72 giờ 2,7%. Hồi quy cho thấy bệnh viện liên quan độc lập (AOR=1,49; p=0,016). Biến chứng tại chỗ mạnh nhất (AOR≈28; p<0,001); vị trí không thuận lợi tăng nguy cơ (COR=1,42); tĩnh mạch khó bảo vệ (AOR=0,56). Kết luận: Tuổi thọ PIVC nhìn chung cao nhưng thất bại sớm vẫn đáng kể. Biến chứng tại chỗ là yếu tố quyết định, cùng ảnh hưởng của khác biệt bệnh viện và kinh nghiệm điều dưỡng. Cần chuẩn hóa quy trình, tăng đào tạo kỹ thuật, giảm thao tác/thuốc – dịch truyền không cần thiết và kiểm soát biến chứng để nâng an toàn. Lê Tấn Lực Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18546 PHÂN TẦNG HẸP SHUNT VÀ CHIẾN LƯỢC CAN THIỆP SAU PHẪU THUẬT MESO‑REX BYPASS https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18548 Đặt vấn đề: Phẫu thuật Meso‑Rex bypass (MRB) là phương pháp phục hồi sinh lý dòng máu cửa về gan ở bệnh nhi tăng áp lực tĩnh mạch cửa do tắc tĩnh mạch cửa ngoài gan. Hẹp shunt là biến chứng thường gặp, có thể dẫn đến thất bại huyết động và tắc shunt nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. Tuy nhiên, việc áp dụng các ngưỡng vận tốc Doppler cứng nhắc dễ dẫn đến can thiệp quá mức. Mục tiêu: Trình bày cách tiếp cận thực hành trong đánh giá hẹp shunt sau MRB dựa trên phân tầng vận tốc shunt kết hợp với biểu hiện lâm sàng, đồng thời phân tích chiến lược lựa chọn nong bóng hay đặt stent. Phương pháp: Tổng quan tường thuật kết hợp kinh nghiệm lâm sàng, tập trung vào phân tích huyết động shunt sau MRB, các mức vận tốc Doppler và mối liên quan với đáp ứng lâm sàng. Kết quả: Vận tốc shunt cao sớm sau mổ (100–120 cm/s) thường mang tính sinh lý và có xu hướng giảm dần theo thời gian. Hẹp shunt chỉ có ý nghĩa can thiệp khi vận tốc tăng cao kéo dài (≥150 cm/s) kèm theo thất bại hồi phục huyết động cửa trên lâm sàng. Nong bóng là lựa chọn ưu tiên, trong khi đặt stent chỉ nên dành cho các trường hợp thất bại sau nong hoặc nguy cơ tắc shunt. Kết luận: Theo dõi hẹp shunt sau MRB cần dựa trên xu hướng vận tốc Doppler kết hợp đánh giá lâm sàng. Chiến lược can thiệp phân tầng giúp tránh can thiệp quá mức và tối ưu hóa kết cục lâu dài cho bệnh nhi. Nguyễn Hữu Chí, Huỳnh Nhất Hạnh Nhân, Lê Cẩm Thạch Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18548 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ NGUYÊN NHÂN TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN MÁU Ở TRẺ EM TẠI KHOA SỐT XUẤT HUYẾT – HUYẾT HỌC BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18550 Đặt vấn đề: Tăng bạch cầu ái toan (BCAT) ở trẻ em là tình trạng có thể gặp trong nhiều bệnh lý khác nhau, từ nhiễm trùng, dị ứng đến các bệnh lý huyết học ác tính. Tuy nhiên, đặcđiểmlâmsàng,cận lâmsàng vànguyên nhâncủatăng BCATởtrẻemvẫn chưa được môtảđầyđủtrongthựchànhlâmsàng. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nguyên nhân của tăng bạch cầu ái toan máu ở trẻ em. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 34 bệnh nhi từ 1 tháng đến 18 tuổi được ghi nhận tăng bạch cầu ái toan máu. Các biến số được thu thập gồm tuổi, giới, triệu chứng lâm sàng, tiền căn gia đình, mức độ tăng bạch cầu ái toan, thiếu máu, giảm tiểu cầu, xét nghiệm ký sinh trùng và đột biến gen liên quan bệnh lý ác tính. Số liệu được trình bày dưới dạng tần số, tỷ lệ phần trăm; so sánh các biến phân loại bằng phép kiểm Chi-square hoặc Fisher exact test; p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê. Kết quả: Tuổi trung vị của nhóm nghiên cứu là 5,8 tuổi (khoảng tứ phân vị: 2,1-10,4), nam chiếm 58,8%. Sang thương da là biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất (47,1%), tiếp theo là triệu chứng tiêu hóa (35,3%), hô hấp (26,5%), dấu hiệu thiếu máu (20,6%); 17,6% trường hợp không có triệu chứng và được phát hiện tình cờ. Tiền căn gia đình dị ứng ghi nhận ở 38,2% trường hợp. Tăng bạch cầu ái toan mức độ nhẹ, trung bình và nặng lần lượt là 44,1%, 35,3% và 20,6%. Thiếu máu gặp ở 29,4%, giảm tiểu cầu 8,8%, xét nghiệm ký sinh trùng dương tính 29,4% và đột biến gen liên quan bệnh lý ác tính 5,9%. Nguyên nhân thường gặp nhất là dị ứng (58,8%), tiếp theo là ký sinh trùng (29,4%), ác tính (8,8%) và chưa rõ nguyên nhân (2,9%). Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ tăng bạch cầu ái toan và nhóm nguyên nhân chung (p = 0,032). Khi phân tích riêng từng nhóm nguyên nhân, tỷ lệ nguyên nhân dị ứng giảm dần theo mức độ tăng bạch cầu ái toan (p = 0,021), trong khi nhóm ác tính tập trung nhiều hơn ở mức độ tăng nặng (p = 0,047). Kết luận: Tăng bạch cầu ái toan ở trẻ em chủ yếu liên quan đến dị ứng và ký sinh trùng. Biểu hiện thường gặp là sang thương da và triệu chứng tiêu hóa. Trẻ có tăng bạch cầu ái toan mức độ nặng, kèm thiếu máu hoặc giảm tiểu cầu cần được đánh giá sâu hơn để loại trừ bệnh lý ác tính. Đỗ Bảo Kim Vĩnh, Nguyễn Thị Mai Anh, Nguyễn Minh Tuấn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18550 KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SẢNG RƯỢU Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG CAI RƯỢU https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18553 Mục tiêu: Khảo sát mối liên quan giữa một số yếu tố lâm sàng với nguy cơ hình thành sảng rượu ở bệnh nhân trong trạng thái cai rượu. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bệnh chứng, hồi cứu, kết hợp với nghiên cứu cắt ngang, phân tích từng trường hợp trên 73 bệnh nhân trạng thái cai rượu, được chia thành 2 nhóm: Nhóm 1 gồm 34 bệnh nhân trạng thái cai rượu với mê sảng và Nhóm 2 gồm 39 bệnh nhân trạng thái cai rượu theo tiêu chuẩn ICD-10. Kết quả: Thời gian nghiện rượu dài hơn, lượng rượu uống cao hơn và thời gian ngừng rượu lâu hơn khác biệt có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân trong trạng thái cai rượu với mê sảng so với nhóm bệnh nhân trong trạng thái cai rượu. Tiền sử sảng rượu và cơn co giật toàn thể là các yếu tố nguy cơ thúc đẩy sảng rượu với OR lần lượt là 6,91 (95%CI: 2,00-23,78) và 8,10 (95%CI: 2,81-23,35),. Kết luận: Thời gian nghiện rượu dài, lượng rượu uống nhiều, thời gian ngừng rượu dài, tiền sử sảng rượu, cơn co giật toàn thể là các yếu tố liên quan thúc đẩy hình thành sảng rượu ở bệnh nhân trong trạng thái cai rượu. Nguyễn Trọng Đạo, Đỗ Xuân Tĩnh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18553 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT hợp XƯƠNG BẰNG NẸP VÍT ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN THÂN XƯƠNG CÁNH TAY Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 5 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18555 Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị gãy kín thân xương cánh tay ở người trưởng thành bằng phẫu thuật kết hợp xương nẹp vít. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả được thực hiện trên 43 bệnh nhân gãy kín thân xương cánh tay được điều trị bằng phẫu thuật kết hợp xương nẹp vít tại Bệnh viện Quân y 5, Quân khu 3 trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2023. Trong đó có 30 BN được theo dõi và đánh giá kết quả xa sau phẫu thuật dựa trên mức độ liền xương trên X-quang, khả năng phục hồi chức năng khớp vai và khớp khuỷu, kết quả chung theo thang điểm Neer cải biên và ghi nhận các biến chứng liên quan đến phẫu thuật. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 51,0 ± 2,99 tuổi, tỷ lệ nam và nữ tương đương. Gãy xương thường gặp nhất ở vị trí 1/3 giữa thân xương cánh tay (65,1%) và đa số thuộc nhóm gãy loại A theo phân loại AO (60,4%). Trong số 30 bệnh nhân được theo dõi kết quả xa, thời gian theo dõi trung bình là 34,5 ± 5,4 tháng, dài nhất là 65 tháng. Tỷ lệ liền xương đạt 100%, trong đó 86,7% đạt kết quả rất tốt và 13,3% đạt kết quả tốt. Không ghi nhận trường hợp chậm liền xương hoặc khớp giả. Ngoài ra, không ghi nhận các biến chứng nặng sau phẫu thuật như nhiễm khuẩn sâu, tổn thương thần kinh quay do phẫu thuật hay biến chứng liên quan tới nẹp vít. Kết luận: Phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít là phương pháp điều trị hiệu quả đối với gãy kín thân xương cánh tay ở người trưởng thành, giúp cố định ổ gãy vững chắc, đạt tỷ lệ liền xương cao và phục hồi chức năng tốt. Mai Đức Thuận, Vũ Đăng Khoa Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18555 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18557 Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị ung thư dạ dày (UTDD) tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 44 trường hợp UTDD được PTNS cắt dạ dày tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 06/2021 đến tháng 06/2023. Kết quả: Tuổi mắc bệnh trung bình là 57,5 ± 10,5. Tỉ lệ nam/nữ là 1,93/1. Kết quả nội soi dạ dày, vị trí khối u gặp nhiều nhất là vùng hang môn vị với 66%. Về đại thể, thể sùi chiếm tỉ lệ cao nhất với 36,4%; kích cỡ u từ 3 - 5 cm chiếm tỉ lệ cao nhất với 43,2% trường hợp. Cắt dạ dày bán phần cực dưới là phương pháp phẫu thuật được sử dụng nhiều nhất với 93.2%. Thời gian phẫu thuật trung bình 183 ± 32,8 (phút). Giai đoạn T4a chiếm đa số với tỉ lệ 50%. Di căn hạch có 52.3% trường hợp, trong đó giai đoạn N2, N3a thường gặp nhất nhất với tỉ lệ lần lượt là 20.5% và 22,7%. Thời gian nằm viện trung bình là 7,75 ± 1,5 ngày. Thời gian trung tiện trung bình sau mổ là 3,2 ± 1,1 ngày. Tỉ lệ biến chứng sau phẫu thuật là 6,82%, trong đó 2 trường hợp nhiễm trùng vết mổ và 1 trường hợp hẹp miệng nối. Tỉ lệ phẫu thuật thành công là 93,2%. Kết luận: PTNS cắt dạ dày trong điều trị UTDD có tỷ lệ thành công cao với 93,2% trường hợp, biến chứng thấp và không quá nặng như nhiễm trùng vết mổ và hẹp miệng nối. Nguyễn Tuấn Cảnh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18557 NỘI SOI ĐIỀU TRỊ RÁCH GÂN CƠ CHÓP XOAY - CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18559 Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị rách gân cơ chóp xoay và phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu trên 32 bệnh nhân rách chóp xoay được điều trị bằng phẫu thuật nội soi từ tháng 10/2024 đến tháng 6/2025 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm đặc điểm phẫu thuật, kết quả điều trị và các yếu tố liên quan đến kết quả chức năng sau mổ. Kết quả được đánh giá tại thời điểm tái khám sau mổ ít nhất 9 tháng bằng thang điểm VAS và UCLA. Kết quả: 100% bệnh nhân được gây mê nội khí quản và phẫu thuật ở tư thế Beach chair. Khâu bắc cầu là kỹ thuật được sử dụng chủ yếu (78,13%), số neo dùng 4 neo chiếm 78,13%; tạo hình mỏm cùng vai là thủ thuật xử trí tổn thương phối hợp thường gặp nhất (65,63%). Sau mổ, điểm VAS trung bình giảm từ 6,68 ± 1,65 xuống 1,00 ± 1,02 điểm, điểm UCLA tăng từ 13,94 ± 5,19 lên 30,90 ± 3,43 điểm; sự khác biệt đều có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Tỷ lệ kết quả chức năng khớp vai đạt mức tốt và rất tốt là 81,25%. Không ghi nhận biến chứng nặng như nhiễm trùng khớp vai, tổn thương mạch máu, thần kinh hay nhổ bật neo. Trong các yếu tố được phân tích, chỉ có mức độ thoái hóa mỡ trên cộng hưởng từ liên quan có ý nghĩa thống kê với kết quả chức năng sau mổ (p = 0,011). Kết luận: Phẫu thuật nội soi điều trị rách chóp xoay là phương pháp hiệu quả và an toàn, giúp giảm đau rõ rệt và cải thiện chức năng khớp vai ở đa số bệnh nhân. Mức độ thoái hóa mỡ trên cộng hưởng từ có liên quan đến kết quả chức năng sau mổ. Mai Đức Thuận, Nguyễn Quốc Dũng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18559 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH NỘI SOI PHẾ QUẢN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU BẮC NINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18560 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh nội soi phế quản ở bệnh nhân ung thư phổi tại Bệnh viện Ung bướu Bắc Ninh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 216 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư phổi bằng mô bệnh học và được nội soi phế quản ống mềm từ tháng 3/2025 đến tháng 3/2026. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 66,88 ± 7,85 tuổi; nam giới chiếm 80,6%. Đau ngực là lý do vào viện thường gặp nhất (77,8%), tiếp theo là ho khạc đờm (45,4%) và khó thở (35,2%). Thời gian khởi bệnh dưới 1 tháng chiếm 82,9%. Trên cắt lớp vi tính, 72,7% bệnh nhân có một khối u đơn độc, tổn thương phổi phải chiếm 43,1% và khối u dưới 5 cm chiếm 64,8%. Nội soi phế quản ghi nhận hình ảnh giảm tín hiệu ở 50,5% trường hợp; hẹp phế quản độ 1 chiếm 51,9% và độ 4 chiếm 32,9%. Hình ảnh u sùi gặp nhiều nhất ở phế quản phải (26,9%), trong khi thâm nhiễm gặp nhiều hơn ở phế quản trái (21,8%). Ung thư biểu mô tuyến là thể mô bệnh học thường gặp nhất (41,2%), tiếp theo là u thần kinh nội tiết (19,0%) và ung thư biểu mô tế bào vảy (13,9%). Giai đoạn T3 chiếm tỷ lệ cao nhất (39,8%), N2 chiếm 48,1%. Tỷ lệ nội soi phế quản đạt kết quả chẩn đoán thành công là 95,4%. Tai biến gặp ít, chủ yếu là chảy máu (4,2%) và thiếu oxy máu (1,4%). Kết luận: Ung thư phổi chủ yếu gặp ở nam giới lớn tuổi. Đau ngực là triệu chứng thường gặp nhất. Nội soi phế quản ống mềm có giá trị cao trong chẩn đoán ung thư phổi với tỷ lệ thành công 95,4% và tỷ lệ tai biến thấp. Nguyễn Tất Thắng, Dương Hồng Thái Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18560 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN CHỨC NĂNG NHẬN THỨC Ở BỆNH NHÂN SAU ĐỘT QUỴ NÃO ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG BẮC NINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18562 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng rối loạn chức năng nhận thức ở bệnh nhân sau đột quỵ não được điều trị tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Bắc Ninh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 282 bệnh nhân sau đột quỵ não điều trị nội trú tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Bắc Ninh từ tháng 3/2025 đến tháng 3/2026. Chức năng nhận thức được đánh giá bằng thang điểm Mini-Mental State Examination (MMSE). Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 64,64 ± 11,75 tuổi, nhóm tuổi 61–70 chiếm tỷ lệ cao nhất (36,9%). Nam giới chiếm 62,8%. Nhồi máu não chiếm 64,9%, xuất huyết não chiếm 35,1%. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp gồm đau đầu (80,5%), chóng mặt (67,7%), nói khó (50,4%), rối loạn cảm giác (100%) và liệt nửa người (99,6%). Điểm MMSE trung bình là 24,46 ± 4,23 điểm. Tỷ lệ rối loạn chức năng nhận thức là 40,8%, trong đó rối loạn nhận thức nhẹ chiếm 33,3% và rối loạn nhận thức nặng chiếm 7,4%. Các lĩnh vực nhận thức bị ảnh hưởng nhiều nhất là tri giác (42,2%), trí nhớ (34,8%), chú ý (27,0%), định hướng (24,3%), ngôn ngữ (20,9%) và chức năng điều hành (13,1%). Kết luận: Rối loạn chức năng nhận thức là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân sau đột quỵ não với tỷ lệ 40,8%. Các lĩnh vực bị ảnh hưởng chủ yếu là tri giác, trí nhớ và chú ý. Việc đánh giá chức năng nhận thức bằng MMSE giúp phát hiện sớm các rối loạn nhận thức và hỗ trợ xây dựng chương trình phục hồi chức năng phù hợp cho người bệnh sau đột quỵ. Phan Tiến Chung, Trần Văn Tuấn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18562 CHUYỂN SẢN SỤN MÀNG KHỚP Ở TRẺ EM: GIÁ TRỊ QUYẾT ĐỊNH CỦA QUAN SÁT ĐẠI THỂ TRONG MỔ – BÁO CÁO CA LÂM SÀNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18564 Đặt vấn đề: Chuyển sản sụn màng khớp là bệnh lý hiếm gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi sự hình thành các cấu trúc sụn hoặc xương–sụn lạc chỗ do chuyển sản của màng khớp. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả một trường hợp lâm sàng hiếm gặp về bệnh lý chuyển sản sụn màng khớp ở trẻ em, qua đó nhấn mạnh vai trò quyết định của việc đánh giá đại thể trực tiếp trong phẫu thuật – kết hợp cùng các yếu tố lâm sàng, hình ảnh học và giải phẫu bệnh – nhằm chẩn đoán phân biệt chính xác tổn thương xương sụn lạc chỗ. Phương pháp nghiên cứu: mô tả 1 ca lâm sàng: Bệnh nhi nữ 5 tuổi nhập viện vì đau cổ bàn chân phải, không ghi nhận tiền sử chấn thương. Kết quả: Khám lâm sàng thấy khối cứng di động ít, không có dấu hiệu viêm. X-quang cẳng chân phải phát hiện một cấu trúc xương nằm lạc chỗ, không liên tục với xương chày hay xương mác. Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật bóc trọn tổn thương. Quan sát trực tiếp trong mổ cho thấy khối xương–sụn xuất phát rõ ràng từ màng khớp, không có cuống liên tục với xương lân cận, đây là đặc điểm then chốt giúp định hướng chẩn đoán. Kết quả giải phẫu bệnh mô tả tổn thương dạng u sụn xương. Tuy nhiên, dựa trên hình ảnh đại thể trong mổ, chẩn đoán cuối cùng được xác định là chuyển sản sụn màng khớp. Kết luận: Trong các trường hợp tổn thương xương sụn lạc chỗ ở trẻ em, quan sát đại thể trong mổ – đặc biệt là mối liên quan giữa tổn thương và màng khớp – có giá trị quyết định trong chẩn đoán, ngay cả khi giải phẫu bệnh gợi ý u sụn xương. Sự kết hợp giữa lâm sàng, hình ảnh học, giải phẫu bệnh và đánh giá trực tiếp trong mổ là chìa khóa để chẩn đoán chính xác. Trịnh Kiên Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18564 KHÒ KHÈ KÉO DÀI Ở TRẺ NHŨ NHI DO BẤT THƯỜNG GEN: BÁO CÁO MỘT CA BỆNH HIẾM https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18566 Đặt vấn đề: Khò khè kéo dài, không đáp ứng điều trị ở trẻ nhũ nhi cần nghĩ tới các nguyên nhân cấu trúc và di truyền. Mục tiêu: Hội chứng Jeune là một bệnh lí lông chuyển hiếm biểu hiện lồng ngực hẹp và tổn thương đa cơ quan. Phương pháp: Báo cáo ca lâm sàng một bệnh nhi nam 16 tháng tuổi nhập viện vì khò khè tái diễn, thu thập và phân tích dữ liệu lâm sàng, hình ảnh, siêu âm bụng/ tim và xét nghiệm di truyền (CNV, panel gene). Kết quả: Bệnh nhi có lồng ngực hẹp, hội chứng tắc nghẽn kéo dài, rung giật nhãn cầu, nang thận hai bên, gan thô và tăng áp lực động mạch phổi (PAPs ≈45 mmHg). Xét nghiệm CNV cho thấy không có bất thường về số lượng bản sao; kết quả phân tích đột biến gen (panel G4500) phát hiện biến thể được phân loại là gây bệnh. Tổng hợp lâm sàng — cận lâm sàng phù hợp với hội chứng Jeune/loạn sản lồng ngực ngạt thở. Kết luận: Ở trẻ nhũ nhi khò khè kéo dài kém đáp ứng điều trị, đặc biệt khi có tổn thương ngoài phổi, cần tiếp cận đa chuyên khoa và xét nghiệm di truyền kịp thời để chẩn đoán sớm và tư vấn gia đình. Hồ Thiên Hương Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18566 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG MÒN CỔ RĂNG Ở NHÓM RĂNG HÀM NHỎ BẰNG COMPOSITE https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18568 Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị tổn thương mòn cổ răng ở nhóm răng hàm nhỏ bằng composite. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: can thiệp lâm sàng, chọn mẫu thuận tiện trên 28 bệnh nhân phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn. Kết quả: Tuổi trung bình bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là 48 tuổi. Bệnh nhân ít tuổi nhất là 29 tuổi, lớn tuổi nhất là 70 tuổi. Tỷ lệ nam:nữ là 1,15. Tỷ lệ bệnh nhân mòn cổ răng có tỷ lệ thuận với tỷ lệ bệnh nhân có mòn mặt nhai (78,6%). Không có trường hợp nào trong nhóm nghiên cứu có mòn mặt bên kèm theo. Độ sâu trung bình của những răng hàm nhỏ bị mòn cổ tăng dần theo tuổi. Đánh giá kết quả chung sau 1 tháng và 3 tháng cho thấy tỷ lệ đạt kết quả tốt ở cả hai nhóm răng đều ở mức cao. Kết luận: Để nâng cao tỷ lệ đạt kết quả trám răng tốt thì việc thực hiện tốt kỹ thuật trám, tư vấn chăm sóc răng miệng kỹ lưỡng là quan trọng. Nguyễn Thị Chinh, Vũ Thị Thanh Nga, Vũ Thị Quyến, Trung Thị Thanh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18568 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN TÁI PHÁT, DI CĂN BẰNG VINORELBINE UỐNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÁI BÌNH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18570 Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tái phát, di căn được điều trị bằng Vinorelbine uống tại Bệnh viện Đa khoa Thái Bình từ tháng 1/2023 đến tháng 6/2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu, đánh giá kết quả điều trị 47 bệnh nhân (BN) ung thư biểu mô tuyến phổi giai đoạn tái phát, di căn, đã thất bại với các phác đồ điều trị trước đó hoặc sức khỏe không phù hợp hoặc từ chối điều trị bằng các phác đồ hóa chất đường truyền tĩnh mạch được điều trị bằng Vinorelbine uống tại Trung tâm Ung bướu Thái Bình từ tháng 01/2023 đến tháng 6/2025. Kết quả: Đáp ứng cơ năng đạt 44,6%. Đáp ứng khách quan: Chúng tôi ghi nhận có 16/47 bệnh nhân đáp ứng một phần với phác đồ chiếm 34,1%. Có 36,2% bệnh nhân được đánh giá bệnh giữ nguyên. Có 29,7% số bệnh nhân có biểu hiện bệnh tiến triển. Thời gian sống thêm không tiến triển trung bình là 5,7 tháng; trung vị là 5,5 tháng; thời gian sống thêm không tiến triển dài nhất là 15,5 tháng, ngắn nhất là 3,1 tháng. Thời gian sống trung bình toàn bộ là 8,1 ± 0,4 tháng; trung vị là 7,4 tháng. Kết luận: Nhóm tuổi hay gặp là nhóm tuổi từ 70 – 79 (40,4%); tỷ lệ nam/nữ là 1,47/1; có 57,4% BN hút thuốc; triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là ho (53,2%); đau ngực (40,4%). U nguyên phát gần tương đương ở hai phổi; u vùng ngoại vi chiếm nhiều hơn; thùy trên phổi trái có tỷ lệ cao nhất. Chủ yếu làu ≥ 3cm cm; tỷ lệ di căn hạch rốn phổi đối bên, trung thất cùng bên chiếm 46,8% và 59,6%. Sau điều trị: Tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng một phần là 34,1%; thời gian sống thêm không tiến triển trung vị là 5,5 tháng. Thời gian sống trung bình toàn bộ trung vị là 7,4 tháng. Trương Văn Sáng, Phạm Văn Thái Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18570 ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG ƯƠNG NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18618 Đặt vấn đề: Tăng huyết áp là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng, liên quan chặt chẽ đến bệnh tim mạch và tử vong sớm. Rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ quan trọng góp phần thúc đẩy xơ vữa động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm rối loạn lipid máu ở người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 bệnh nhân tăng huyết áp và 200 đối tượng không tăng huyết áp tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2025. Các chỉ số lipid máu gồm cholesterol toàn phần (TC), triglycerid (TG), HDL-C, LDL-C được định lượng trên hệ thống Beckman Coulter AU480. Kết quả: Nồng độ trung bình TC, TG và LDL-C ở nhóm tăng huyết áp cao hơn, trong khi HDL-C thấp hơn so với nhóm không tăng huyết áp. Tỷ lệ rối loạn lipid máu ở nhóm tăng huyết áp là 72,0%, cao hơn so với nhóm chứng (58,0%) (OR=1,86; p=0,003). Tỷ lệ có ≥2 thành phần lipid bất thường ở nhóm tăng huyết áp là 41,0%. Kết luận: Rối loạn lipid máu phổ biến ở bệnh nhân tăng huyết áp, đặc biệt là rối loạn đa thành phần, góp phần làm tăng nguy cơ tim mạch Cao Thanh Ngoan, Thạch Minh Thư, Trịnh Thị Phương Dung Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18618 GIÁ TRỊ THANG ĐIỂM CẢNH BÁO SỚM NHI KHOA BRIGHTON PEWS TRONG ĐÁNH GIÁ KẾT CỤC BỆNH NHI NHẬP KHOA CẤP CỨU BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18633 Đặt vấn đề: Trẻ em nhập viện có thể diễn tiến nặng nhanh nếu không được nhận biết sớm, trong khi nhiều biến cố nghiêm trọng hoàn toàn có thể phòng tránh nếu được phát hiện kịp thời qua theo dõi dấu hiệu sinh tồn. Các hệ thống cảnh báo sớm, đặc biệt là Brighton PEWS, đã chứng minh hiệu quả trong hỗ trợ sàng lọc nguy cơ tại nhiều quốc gia, nhưng dữ liệu trong nước còn hạn chế. Khoa Cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng 1 tiếp nhận số lượng lớn bệnh nhi với tình trạng đa dạng và diễn tiến nhanh, đòi hỏi một công cụ tiên lượng đơn giản, nhanh và đáng tin cậy. Do đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá giá trị của thang điểm Brighton PEWS trong dự đoán khả năng nhập các khoa Hồi sức tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định khả năng đánh giá kết cục nhập các khoa Hồi sức khi áp dụng thang điểm Brighton PEWS, ở các bệnh nhi nhập khoa Cấp cứu, Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 250 bệnh nhân nhập khoa Cấp cứu từ 01/01/2025 đến 31/07/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả: Trong 250 bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu, độ tuổi từ 1 tháng đến 36 tháng chiếm tỉ lệ cao nhất là 51,6%, tỉ số nam/nữ là 1,19/1. Nhóm bệnh thường gặp nhất là bệnh lý hô hấp chiếm 36,4%. Có 26,4% bệnh nhi chuyển vào các khoa Hồi sức tiếp tục điều trị. Tỉ lệ chuyển các khoa Hồi sức ở nhóm điểm B-PEWS ≥ 4 cao hơn nhóm B-PEWS ≤ 3 tại cả 3 thời điểm (p <0,05). Điểm B-PEWS tại thời điểm nhập viện có khả năng tiên lượng khá tốt nguy cơ bệnh nhi nhập vào các khoa Hồi sức với AUC là 0,743 (95% CI: 0,671 – 0,816), p < 0,001. Điểm cắt là 4 điểm (độ nhạy là 69,7% và độ đặc hiệu là 67,9%). Điểm B-PEWS tại thời điểm 2 giờ và thời điểm chuyển khoa đều có khả năng tiên lượng tốt đến rất tốt nguy cơ bệnh nhi nhập vào các khoa Hồi sức với AUC lần lượt là 0,846 (95% CI: 0,785 – 0,907) và 0,901 (95% CI: 0,851 – 0,952). Với điểm cắt tương ứng là 3 (độ nhạy 71,9%, độ đặc hiệu 80,8%) và 2 (độ nhạy 81,5%, độ đặc hiệu 89,1%). Kết luận: Thang điểm cảnh báo sớm nhi khoa Brighton PEWS đơn giản, dễ thực hiện và có giá trị trong dự đoán nguy cơ nhập các khoa Hồi sức ở bệnh nhi nhập khoa Cấp cứu, đặc biệt khi được theo dõi lặp lại trong những giờ đầu. Do đó, nên xem xét triển khai B-PEWS trong đánh giá thường quy tại khoa Cấp cứu, đồng thời kết hợp với các yếu tố lâm sàng khác để tăng độ chính xác tiên lượng. Phạm Văn Quang, Hồ Thị Thanh Thảo, Ngô Ngọc Quang Minh, Đinh Tấn Phương Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18633 CẬP NHẬT TIẾN BỘ TRONG ỨNG DỤNG HUYẾT TƯƠNG GIÀU TIỂU CẦU TRONG ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP GỐI: GÓC NHÌN TỪ THỰC HÀNH NỘI KHOA https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18636 Mục tiêu: Cập nhật cơ sở sinh học, bằng chứng lâm sàng và định hướng ứng dụng huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị thoái hóa khớp gối từ góc nhìn thực hành nội khoa. Đối tượng và phương pháp: Bài viết sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu có định hướng, ưu tiên các hướng dẫn lâm sàng, thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, phân tích gộp và tổng quan hệ thống công bố trong giai đoạn 2019–2025. Nội dung được phân tích theo các nhóm: cơ chế tác động, hiệu quả lâm sàng, an toàn, lựa chọn bệnh nhân và khả năng ứng dụng trong thực hành. Kết quả: Huyết tương giàu tiểu cầu có thể giúp giảm đau và cải thiện chức năng ở một số bệnh nhân thoái hóa khớp gối, đặc biệt giai đoạn nhẹ đến trung bình. Tuy nhiên, hiệu quả chịu ảnh hưởng bởi mức độ thoái hóa, đặc điểm bệnh nhân, nồng độ tiểu cầu, thành phần bạch cầu, số lần tiêm và chương trình điều trị phối hợp. Các khuyến cáo hiện nay chưa thống nhất do chế phẩm và quy trình còn thiếu chuẩn hóa. Kết luận: Huyết tương giàu tiểu cầu nên được xem là lựa chọn hỗ trợ có chọn lọc trong điều trị đa mô thức, không thay thế giảm cân, tập luyện, phục hồi chức năng, kiểm soát đau nền và quản lý bệnh đồng mắc. Lê Quý Toàn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18636 MỐI LIÊN QUAN GIỮA ALBUMIN VÀ HOMOCYSTEIN HUYẾT THANH VỚI HỘI CHỨNG LỖ LỌC SHRUNKEN (SPS) https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18641 Đặt vấn đề: Mức lọc cầu thận ước tính dựa trên creatinine có thể bị sai lệch bởi các yếu tố ngoài thận. Cystatin C cung cấp phương pháp ít bị nhiễu hơn. Thuật ngữ “Shrunken Pore Syndrome (SPS)” đặc trưng bởi sự giảm lọc chọn lọc các phân tử có kích thước trung bình và có liên quan mạnh đến tử vong tim mạch. Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố sinh hoá có liên quan đến sự chênh lệch giữa hai phương pháp ước tính eGFR trong hội chứng lỗ lọc Shrunken tại Việt Nam. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 233 bệnh nhân bệnh thận mạn tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM cơ sở 2. Bốn mô hình hồi quy được sử dụng để phân tích các biến số: chênh lệch mức lọc (diffcreacys = eGFRcrea - eGFRcysC), khác biệt eGFR (khi |diffcreacys| >= 15), tỷ lệ mức lọc (eGFRcysC/eGFRcrea), và tình trạng SPS (định nghĩa là eGFRcysC/eGFRcrea < 0,7). Các biến độc lập bao gồm giới tính, tuổi, albumin huyết thanh, homocysteine, LDL-C, HbA1c và BMI. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Stata. Kết quả: Nữ giới có tỷ lệ eGFRcysC/eGFRcrea thấp hơn đáng kể so với nam giới ( = -0,103, p < 0,001). Tuổi cao làm tăng nguy cơ co lại của lỗ lọc ( = -0,0026, p < 0,05). Nồng độ albumin huyết thanh cao liên quan đến việc tăng tỷ lệ eGFRcysC/eGFRcrea ( = 0,138, p < 0,001) và giảm diffcreacys ( = 5,51, p = 0,001). Homocysteine có liên quan đến chênh lệch mức lọc diffcreacys (OR = 0,92, p < 0,05), trong khi LDL-C cho thấy mối liên quan yếu với tỷ lệ mức lọc ( = 0,0006, p < 0,05). Kết luận: Sự khác biệt giữa hai phương pháp ước tính eGFR có thể phản ánh tình trạng bệnh lý tại màng lọc hơn là sai số tính toán đơn thuần. Nữ giới và người cao tuổi là những nhóm đối tượng nhạy cảm với SPS. Albumin và homocysteine huyết thanh có thể đóng vai trò là yếu tố liên quan đến sự hiện diện của hội chứng lỗ lọc Shrunken. SPS có thể giải thích rủi ro tim mạch tăng cao thông qua sự tích tụ các protein thúc đẩy xơ vữa. Do đó, cả hai chỉ số eGFR cần được đánh giá đồng thời trên nhóm bệnh nhân nữ và người cao tuổi để tránh bỏ sót các nguy cơ tim mạch tiềm ẩn. Bùi Đức Minh Bảo, Lê Quốc Tuấn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18641 NGHIỆM PHÁP LẮC ĐẦU CÓ GHI HÌNH VÀ NGHIỆM PHÁP NHIỆT TRONG BỆNH MENIERE https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18642 Mục đích: Mô tả kết quả nghiệm pháp lắc đầu có ghi hình và nghiệm pháp nhiệt của bệnh Meniere. Đối tượng và phương pháp: 92 bệnh nhân được chẩn đoán xác định bệnh Meniere tại khoa Thính – Thanh học, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ tháng 6/2022 đến tháng 6/2024. Kết quả: 60 nữ (65,2%), 32 nam (34,8%); tuổi trung bình 48,6 ± 7,6. Tai trái bị bệnh ở 52 (56,5%) và tai phải ở 40 (43,5%) trường hợp. Thời gian bị bệnh trung bình 3,2 ± 1,3 năm. Nghe kém trung bình 52 ± 16,1 dB HL. 100% bệnh nhân có kết quả nghiệm pháp lắc đầu có ghi hình bình thường; 4 bệnh nhân có nghiệm pháp nhiệt bình thường; mức thiếu hụt tiền đình trung bình 39,2 ± 5,6%. Kết luận: sự phân ly giữa nghiệm pháp lắc đầu có ghi hình bình thường và nghiệm pháp nhiệt bất thường ngoài đợt cấp là đặc điểm có giá trị giúp phân biệt bệnh Meniere với các bệnh lý tai trong khác. Nguyễn Thành Quân Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18642 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG MẢNH GHÉP BÌ TỰ THÂN TRONG ĐIỀU TRỊ CONG DƯƠNG VẬT DO BỆNH PEYRONIE https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18644 Đặt vấn đề: Bệnh Peyronie (BP) là tình trạng xơ hóa bao trắng thể hang gây cong dương vật và rối loạn cương (RLC). Phẫu thuật cắt bỏ mảng xơ kết hợp ghép mô là lựa chọn tiêu chuẩn khi độ cong dương vật ≥ 60°. Mảnh ghép bì tự thân có chi phí thấp, sẵn có và phù hợp điều kiện thực hành tại Việt Nam. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả chỉnh thẳng dương vật, bảo tồn chiều dài, chức năng cương (IIEF-5) và mức độ hài lòng sau phẫu thuật sử dụng mảnh ghép bì tự thân điều trị bệnh Peyronie. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu loạt ca, 46 bệnh nhân BP giai đoạn ổn định, độ cong ≥ 60°, IIEF-5 ≥ 12, phẫu thuật tại Bệnh viện Bình Dân từ 01/2023 đến 12/2025. Đánh giá tỷ lệ chỉnh thẳng (độ cong < 15°), chiều dài dương vật, điểm IIEF-5, biến chứng và mức độ hài lòng. Kết quả: Độ cong trung bình trước phẫu thuật 72,3 ± 14,8°. Theo dõi trung bình 24,6 tháng: chỉnh thẳng thành công 87,0%; bảo tồn chiều dài 89,1%; tỷ lệ RLC sau phẫu thuật: 15,2% - chủ yếu ở bệnh nhân có đái tháo đường type 2 và IIEF-5 thấp trước mổ; IIEF-5 sau 12 tháng 16,2 ± 4,7 (p = 0,12); hài lòng 84,8%. Biến chứng nhiễm trùng vết mổ: 2,2% (Clavien-Dindo độ I). Kết luận: Phẫu thuật mảnh ghép bì tự thân cho kết quả hiệu quả, an toàn và phù hợp điều kiện Việt Nam. Đặng Quang Tuấn, Mai Bá Tiến Dũng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18644 ĐÁNH GIÁ PHỤC HỒI CẢM GIÁC THẦN KINH HUYỆT RĂNG DƯỚI SAU PHẪU THUẬT CHẺ DỌC CÀNH CAO XƯƠNG HÀM DƯỚI HAI BÊN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18646 Mục tiêu: Đánh giá phục hồi cảm giác thần kinh huyệt răng dưới và xác định một số yếu tố liên quan đến rối loạn cảm giác kéo dài sau phẫu thuật chẻ dọc cành cao xương hàm dưới hai bên (BSSO). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc 24 tháng trên 94 người bệnh BSSO (47 đưa hàm ra trước, 47 lùi hàm dưới) tại Bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh. Kết quả: Rối loạn cảm giác chủ quan sau 1 tuần đạt 93,6–95,7% ở cả hai nhóm. Level C và B phục hồi gần hoàn toàn sau 6–24 tháng; Level A còn bất thường ở 6,38–8,51% sau 24 tháng. Không có khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm. VAS tương quan mạnh nhất với Level A (rho = 0,82–0,90). Biên độ di chuyển ≥6,00 mm (OR = 3,49; p = 0,010) và tuổi ≥25 (OR = 3,11; p = 0,030) là yếu tố liên quan độc lập với rối loạn cảm giác kéo dài tại 6 tháng. Kết luận: BSSO mang lại phục hồi cảm giác tốt; cảm giác tinh tế có thể còn bất thường sau 24 tháng. Biên độ di chuyển lớn và tuổi cao cần lưu ý trong tư vấn trước phẫu thuật. Lê Tấn Hùng, Trần Ái Khiêm, Nguyễn Mỹ Huyền, Lê Đức Lánh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18646 NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG PHỤC HÌNH RĂNG Ở NGƯỜI MANG PHỤC HÌNH RĂNG TẠI TỈNH NINH BÌNH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18648 Mục tiêu: Mô tả tình trạng phục hình răng ở người mang phục hình răng tại tỉnh Ninh Bình năm 2026. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 122 người mang phục hình răng tại tỉnh Ninh Bình năm 2026. Đối tượng nghiên cứu được khám lâm sàng và phỏng vấn trực tiếp nhằm đánh giá loại phục hình, thời gian sử dụng, độ lưu giữ, độ vững ổn, khả năng thích nghi phát âm, tính thẩm mỹ và mức độ hài lòng đối với phục hình răng. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0. Kết quả: Nam giới chiếm 55,7%, nhóm tuổi 45–60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (43,4%). Phục hình cố định chiếm tỷ lệ cao nhất (72,1%), tiếp theo là phục hình hỗn hợp (20,5%), phục hình trên Implant (4,9%) và phục hình tháo lắp (2,5%). Có 73,8% đối tượng sử dụng phục hình dưới 5 năm. Tỷ lệ phục hình đạt và tốt về độ lưu giữ, độ vững ổn lần lượt là 54,1% và 21,3%; 50,8% đối tượng có thời gian thích nghi phát âm ngắn và 91,8% hài lòng về thẩm mỹ. Kết luận: Phục hình cố định là loại phục hình phổ biến nhất ở người mang phục hình răng tại tỉnh Ninh Bình. Phần lớn các phục hình có độ lưu giữ, độ vững ổn và tính thẩm mỹ đạt yêu cầu. Cần tăng cường theo dõi và chăm sóc sau phục hình nhằm nâng cao hiệu quả điều trị. Nguyễn Hữu Bản, Nguyễn Thị Lan, Vũ Đinh Uyên Phương Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18648 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG NẸP VÍT ĐIỀU TRỊ GÃY LIÊN LỒI CẦU XƯƠNG CÁNH TAY Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2020-2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18650 Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương nẹp vít điều trị gãy kín liên lồi cầu xương cánh tay ở người trưởng thành tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020–2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu cắt ngang mô tả trên 63 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên bị gãy kín liên lồi cầu xương cánh tay loại C theo phân loại AO, được điều trị bằng phẫu thuật kết hợp xương nẹp vít từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2025. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học, kỹ thuật phẫu thuật, kết quả liền xương, chức năng khớp khuỷu và các biến chứng sau mổ. Kết quả: Nhóm tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ cao nhất (43%), nguyên nhân chấn thương chủ yếu là tai nạn giao thông (63%). Gãy loại C2 theo AO chiếm tỷ lệ cao nhất (52%). Đường tiếp cận cắt cơ tam đầu được sử dụng trong 98% trường hợp, cấu hình hai nẹp vuông góc chiếm 90%. Kết quả nắn chỉnh tốt đạt 86%, tỷ lệ liền xương đạt 94%. Có 44 % bệnh nhân có giới hạn biên độ gấp khuỷu <120 độ và 44 % bệnh nhân thiếu duỗi >15 độ. Tỷ lệ nhiễm trùng là 8%, di lệch thứ phát 8% và mổ lại do thất bại dụng cụ 3%. Theo thang điểm MEPS, 74% bệnh nhân đạt kết quả chức năng từ trung bình trở lên. Kết luận: Phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít trong điều trị gãy kín liên lồi cầu xương cánh tay ở người trưởng thành cho tỷ lệ liền xương cao, phục hồi chức năng khớp khuỷu và tỷ lệ biến chứng chấp nhận được. Phương pháp này là lựa chọn điều trị hiệu quả đối với các trường hợp gãy phạm khớp đầu dưới xương cánh tay loại C theo phân loại AO. Phan Xuân Khải Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18650 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TƯƠNG HỢP CHẨN ĐOÁN GIỮA TIÊU BẢN SỐ HÓA VÀ TIÊU BẢN VẬT LÝ TRONG GIẢI PHẪU BỆNH TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18652 Đặt vấn đề: Tiêu bản số hóa (Whole Slide Imaging - WSI) là công nghệ số hóa toàn bộ tiêu bản kính độ phân giải cao, đang được triển khai rộng rãi trong giải phẫu bệnh (GPB) phẫu thuật trên thế giới với tỷ lệ tương hợp chẩn đoán so với tiêu bản vật lý dao động 87–97,7%. Tại Việt Nam, dữ liệu xác minh giá trị WSI trong thực hành lâm sàng còn chưa rõ ràng. Mục tiêu: Đánh giá mức độ tương hợp giữa tiêu bản số hóa và tiêu bản vật lý; phân loại bất tương hợp theo ý nghĩa lâm sàng; và xác định lỗi trong quy trình số hóa. Phương pháp: Nghiên cứu so sánh không kém hơn, mù đơn trên 617 bệnh phẩm tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM (02/2024–01/2025). Bảy bác sĩ GPB đọc tiêu bản vật lý và tiêu bản số hóa sau thời gian rửa trôi ≥4 tuần. Tiêu bản được quét bằng hệ thống Aperio GT450 DX. Phân tích tỷ lệ tương hợp, hệ số Kappa và các mức độ bất tương hợp. Kết quả: Tỷ lệ tương hợp đạt 95,8%. Hệ số Kappa κ = 0,956 (95% CI: 0,939–0,972), thể hiện mức độ tương hợp gần như hoàn hảo. Tỷ lệ bất tương hợp ảnh hưởng điều trị rất thấp (0,3%), thấp hơn y văn quốc tế. Bất tương hợp nhẹ chiếm 2,3%; lỗi kỹ thuật và nhập liệu đều 0,8%. Kết luận: WSI không kém hơn tiêu bản vật lý trong chẩn đoán GPB, với độ tương hợp cao và sai lệch lâm sàng thấp, ủng hộ triển khai thường quy tại Việt Nam. Phùng Gia Bảo, Nguyễn Hoàng Vinh, Ngô Quốc Đạt, Đoàn Thị Phương Thảo, Trần Hương Giang, Phan Đặng Anh Thư, Trần Thị Thanh Trúc, Châu Huỳnh Vũ Hương, Nguyễn Trọng Nhân, Huỳnh Bá Phương Linh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18652 TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG VÀ THIẾU MÁU Ở HỌC SINH TIỂU HỌC 7–10 TUỔI TẠI MỘT SỐ XÃ BIÊN GIỚI TỈNH TÂY NINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18656 Mục tiêu: Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng và thiếu máu ở học sinh tiểu học 7–10 tuổi tại một số xã biên giới tỉnh Tây Ninh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1.154 học sinh tiểu học 7–10 tuổi tại 4 trường thuộc hai xã biên giới Tân Hòa và Tân Đông, tỉnh Tây Ninh (8–10/2025). Tình trạng dinh dưỡng đánh giá theo chỉ số Z-score của WHO; thiếu máu xác định khi Hb < 115 g/L. Kết quả: Cân nặng trung bình 22,0 ± 2,9 kg, chiều cao 121,7 ± 5,4 cm. Z-score cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi và BMI/tuổi lần lượt là -1,61 ± 0,88; -1,50 ± 0,92 và -1,03 ± 0,96. Tỷ lệ nhẹ cân 29,7%, thấp còi 23,5%, gầy còm 10,1% và phối hợp nhẹ cân + thấp còi 17,2%. Suy dinh dưỡng tăng dần theo nhóm tuổi (p < 0,05), không khác biệt có ý nghĩa theo giới và giữa các trường. Nồng độ Hb trung bình 119,6 ± 12,5 g/L; tỷ lệ thiếu máu 38,0%, không khác biệt theo giới và nhóm tuổi. Kết luận: Suy dinh dưỡng và thiếu máu còn phổ biến ở học sinh tiểu học tại địa bàn nghiên cứu, đặc biệt thể nhẹ cân và thiếu máu ở mức cao theo phân loại của WHO. Cần triển khai các can thiệp dinh dưỡng đồng bộ tại vùng biên giới. Phan Văn Mạnh, Nguyễn Hoàng Trung, Vũ Minh Tuấn, Tống Đức Minh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18656 KẾT QUẢ THẨM MỸ VÀ CHỨC NĂNG SAU PHẪU THUẬT TẠO HÌNH MI TRÊN Ở NGƯỜI BỆNH THỪA DA MI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18658 Mục tiêu: Đánh giá kết quả thẩm mỹ, chức năng và biến chứng sớm sau phẫu thuật tạo hình mi trên ở người bệnh thừa da mi. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu trước-sau trên 44 người bệnh tại Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 6/2025 đến tháng 12/2025. Các chỉ số hình thái được đánh giá trước mổ, sau 1 và 3 tháng; chất lượng sẹo, chức năng và biến chứng được ghi nhận đến tháng thứ ba. Kết quả: Tuổi trung bình là 45,6 ± 8,4; nữ chiếm 90,9%. Có 65,9% được cắt da thừa kết hợp lấy túi mỡ. Sau 3 tháng, khoảng cách bờ mi-nếp mi tăng từ 4,5 ± 1,1 lên 6,4 ± 0,7 mm, chiều cao khe mi tăng từ 9,4 ± 0,7 lên 10,1 ± 0,7 mm và chênh lệch nếp mi hai bên giảm từ 1,2 ± 0,6 xuống 0,6 ± 0,4 mm (đều p < 0,001). Kết quả tốt chiếm 79,5%; 95,5% hài lòng hoặc rất hài lòng và 87,9% số người có nặng mi hoặc mỏi mắt được cải thiện. Có 9,1% còn biến chứng nhẹ; không ghi nhận biến chứng nặng hoặc phẫu thuật lại. Kết luận: Phẫu thuật tạo hình mi trên cải thiện rõ hình thái, độ cân xứng, triệu chứng chức năng và đạt tỷ lệ hài lòng cao sau 3 tháng. Lê Minh Phong, Lê Tấn Hùng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18658 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHĂM SÓC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT UNG THƯ DẠ DÀY TẠI KHU HẬU PHẪU, BỆNH VIỆN CHỢ RẪY NĂM 2023 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18660 Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật ung thư dạ dày và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang trên 121 người bệnh (> 18 tuổi) sau phẫu thuật ung thư dạ dày tại Bệnh viện Chợ Rẫy đồng ý tham gia nghiên cứu trong thời gian từ tháng 03/2023 đến tháng 12/2023. Kết quả: Tỷ lệ nam giới chiếm 74,4% và tuổi trung bình là 62,4. Có 53,7% người bệnh mắc các bệnh lý mạn tính đi kèm và tỷ lệ ung thư giai đoạn 4 là 76%. Thời gian phát hiện bệnh từ 3 – 6 tháng chiếm 40,5%; giai đoạn < 3 tháng chiếm 37,2% và > 6 tháng là 22,3%. Có 37,2% NB cắt toàn bộ dạ dày, 40,5% NB cắt ½ dạ dày và có 22,3% NB có cách tiếp cận phẫu thuật mở hỗng tràng. Thời gian lưu bệnh tại khu hồi tỉnh ≤ 2 giờ chiếm tỷ lệ 52,9% và hiệu quả giảm đau đạt 21,5%. Các biến chứng sau phẫu thuật được ghi nhận là chảy máu vết mổ (0,8%), rớt sonde dạ dày (0,8%), tắt ống dẫn lưu ổ mổ (0,8%), suy hô hấp (3,3%) và hạ nhiệt độ chiếm (2,5%). Kết quả chăm sóc điều dưỡng tốt là 63,7%, trung bình là 35,5% và kém là 0,8%. Các yếu tố bệnh lý đi kèm, thời gian phát hiện bệnh, giai đoạn ung thư và phương pháp tiếp cận phẫu thuật có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với kết quả chăm sóc điều dưỡng. Kết luận: Vai trò chăm sóc của điều dưỡng viên rất cần thiết và quan trọng trong thời gian người bệnh phẫu thuật ung thư dạ dày nằm tại khu hồi tỉnh. Trương Văn Công, Nguyễn Thị Kim Hiệp, Nguyễn Thị Kim Bằng, Võ Hữu Ngoan Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18660 HÌNH THÁI MÔ MỀM SAU PHẪU THUẬT BSSO ĐẨY LÙI XƯƠNG HÀM DƯỚI PHỐI HỢP TẠO HÌNH CẰM Ở BỆNH NHÂN SAI KHỚP CẮN XƯƠNG HẠNG III https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18663 Mục tiêu: Mô tả sự thay đổi mô mềm tầng mặt dưới và tỷ lệ đáp ứng mô mềm–mô cứng sau phẫu thuật phẫu thuật chẻ dọc ngành lên hai bên (BSSO) đẩy lùi xương hàm dưới phối hợp tạo hình cằm trượt ra trước ở bệnh nhân sai hình xương hạng III. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc trên 36 bệnh nhân. Phim sọ nghiêng được thu thập trước phẫu thuật (T0), ngay sau phẫu thuật (T1) và 6 tháng sau phẫu thuật (T2). Các mốc mô cứng, mô mềm và khoảng cách vùng môi–cằm được đánh giá theo chiều trước–sau và chiều đứng. Kết quả: Sau 6 tháng, các mốc mô mềm Stoi, Li, B′, Pg′ và Me′ thay đổi có ý nghĩa theo chiều trước–sau (p <0,05). Các khoảng cách B–B′, Pg–Pg′ và Me–Me′ giảm có ý nghĩa, trong đó mức giảm lớn nhất tại Pg–Pg′. Tỷ lệ đáp ứng mô mềm so với mô cứng theo chiều trước–sau tại B′/B, Pg′/Pg và Me′/Me lần lượt là 82,4%, 60,2% và 88,8%; theo chiều đứng lần lượt là 93,9%, 81,0% và 83,8%. Kết luận: Mô mềm vùng cằm thay đổi tương ứng nhưng không đồng nhất với dịch chuyển mô cứng. Các tỷ lệ đáp ứng này có thể hỗ trợ dự đoán hình thái mô mềm và lập kế hoạch phẫu thuật. Lê Tấn Hùng, Trần Ái Khiêm, Nguyễn Mỹ Huyền, Nguyễn Hoàng Khang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18663 KHẢO SÁT NGUY CƠ XƠ HÓA GAN TIẾN TRIỂN Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 KÈM GAN NHIỄM MỠ KHÔNG DO RƯỢU https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18664 Đặt vấn đề: Xơ hóa gan tiến triển là một trong những vấn đề quan trọng ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có đồng mắc bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD), đặc biệt trong nhóm người cao tuổi. Tuy nhiên, tại Việt Nam, số liệu nghiên cứu chuyên biệt cho nhóm đối tượng này còn hạn chế. Mục tiêu: Khảo sát nguy cơ xơ hóa gan tiến triển bằng thang điểm FIB – 4 và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi mắc đái tháo đường típ 2 kèm NAFLD. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại Phòng khám Nội tiết – Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 09/2024 đến tháng 06/2025, trên bệnh nhân ≥ 60 tuổi mắc đái tháo đường típ 2 kèm NAFLD. Kết quả: Trong 355 bệnh nhân được đánh giá nguy cơ xơ hóa gan tiến triển, có 73,24% nguy cơ thấp, 20,00% nguy cơ chưa xác định và 6,76% nguy cơ cao. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy các yếu tố liên quan độc lập với nguy cơ xơ hóa gan tiến triển gồm: bệnh thận mạn (OR = 2,78; 95% CI: 1,27 – 6,10; p = 0,011), bạch cầu (OR = 0,73; 95% CI: 0,62 – 0,84; p < 0,001). Kết luận: Ở bệnh nhân cao tuổi đái tháo đường típ 2 kèm NAFLD, có một tỷ lệ khá cao thuộc nhóm nguy cơ xơ hóa gan tiến triển chưa xác định và cao. Bệnh thận mạn và số lượng bạch cầu là những yếu tố độc lập liên quan chặt chẽ đến nguy cơ xơ hóa gan tiến triển ở nhóm đối tượng này. Nguyễn Văn Tân, Lê Hữu Phần, Phạm Hòa Bình Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18664 SIÊU ÂM TẠI GIƯỜNG (POCUS) TRONG ĐÁNH GIÁ HUYẾT ĐỘNG Ở TRẺ SƠ SINH NGUY KỊCH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18665 Đặt vấn đề: Bất ổn huyết động là tình trạng thường gặp ở trẻ sơ sinh nặng, đặc biệt ở trẻ non tháng cần chăm sóc tích cực. Các phương pháp đánh giá huyết động truyền thống chủ yếu dựa vào lâm sàng và các chỉ số sinh tồn, vốn chỉ phản ánh gián tiếp và có độ nhạy, độ đặc hiệu hạn chế. Siêu âm tại giường (Point-of-Care Ultrasound – POCUS), đặc biệt là POCUS tim, cho phép đánh giá trực tiếp huyết động theo thời gian thực, bao gồm tiền tải, chức năng tim và hậu tải, từ đó hỗ trợ chẩn đoán nhanh và định hướng điều trị phù hợp. Bài tổng quan này nhằm hệ thống hóa vai trò của POCUS trong đánh giá huyết động trẻ sơ sinh nguy kịch, trình bày các thành phần chính của POCUS tim, các dấu hiệu siêu âm quan trọng và giá trị ứng dụng lâm sàng trong một số tình huống thường gặp tại đơn vị hồi sức sơ sinh. Nguyễn Hữu Chí Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18665 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ BỆNH NHÂN SUY GIÁP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA LỤC NAM, TỈNH BẮC NINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18666 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị ngoại trú ở bệnh nhân suy giáp tại Bệnh viện Đa khoa Lục Nam, tỉnh Bắc Ninh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp đánh giá điều trị trên 198 bệnh nhân suy giáp được quản lý và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Lục Nam, tỉnh Bắc Ninh từ năm 2024 đến năm 2026. Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 54,8 ± 13,2 tuổi; nhóm tuổi 40–60 chiếm tỷ lệ cao nhất (46,5%). Nữ giới chiếm 92,9%. Suy giáp cận lâm sàng chiếm 59,1%, suy giáp lâm sàng chiếm 40,9%. Các triệu chứng thường gặp trước điều trị gồm mệt mỏi (100%), sợ lạnh (99,5%), táo bón (98,5%), tăng cân (94,4%) và nhịp tim chậm (13,1%). Sau điều trị, các triệu chứng lâm sàng cải thiện rõ rệt. Nồng độ FT4 tăng từ 10,46 ± 2,93 pmol/L lên 13,37 ± 3,40 pmol/L, trong khi TSH giảm từ 11,56 ± 20,58 mIU/L xuống 4,18 ± 8,62 mIU/L. Tỷ lệ đáp ứng điều trị tốt đạt 80,3%. Kết luận: Suy giáp gặp chủ yếu ở nữ giới trung niên và cao tuổi. Các triệu chứng lâm sàng thường không đặc hiệu nhưng cải thiện rõ sau điều trị bằng levothyroxine. Điều trị ngoại trú đạt hiệu quả cao với tỷ lệ đáp ứng tốt trên 80%. Phạm Bá Vui, Nguyễn Trọng Hiếu Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18666 ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI Ở BỆNH NHÂN BỎNG NẶNG CÓ BIẾN CHỨNG SEPSIS https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18667 Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm rối loạn điện giải ở bệnh nhân bỏng nặng có biến chứng sepsis và ảnh hưởng đến tử vong ở bệnh nhân bỏng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 60 bệnh nhân bỏng nặng có biến chứng sepsis điều trị tại Khoa Hồi sức Cấp cứu, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ 01/2023 - 06/2024. Kết quả: Tại thời điểm chẩn đoán sepsis, có 51 bệnh nhân (85%) có rối loạn bất kỳ chất điện giải nào, trong đó hạ canxi máu (75%), tăng natri máu (43,33%), giảm kali máu (41,67%), giảm natri máu (31,67%). Tuổi, diện tích bỏng sâu và tăng natri máu liên quan đáng kể với tử vong ở bệnh nhân bỏng nặng có sepsis (p < 0,05). Tăng mỗi 1 tuổi làm tăng nguy cơ tử vong thêm 1,05 lần (p = 0,02), tăng mỗi 1% diện tích bỏng sâu làm tăng nguy cơ tử vong thêm 1,05 lần (p = 0,01), nồng độ natri máu tăng mỗi 1mmol/L làm tăng nguy cơ tử vong thêm 3,85 lần (p = 0,03). Kết luận: Hạ canxi máu chiếm nhiều nhất, tăng natri máu có liên quan đáng kể với tử vong ở bệnh nhân bỏng nặng có biến chứng sepsis. Kiểm soát nồng độ natri máu có thể cải thiện tiên lượng ở bệnh nhân bỏng có biến chứng sepsis. Ngô Tuấn Hưng, Trần Đình Hùng, Trần Lê Nguyệt Minh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18667 THỰC TRẠNG ĐIỀU TRỊ NGƯỜI BỆNH SUY THẬN MẠN CHẠY THẬN NHÂN TẠO TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG NĂM 2022 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18668 Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng điều trị của người bệnh suy thận mạn đang chạy thận nhân tạo tại Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương năm 2022. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 89 người bệnh suy thận mạn điều trị chạy thận nhân tạo tại Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2022. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi SF-36 nhằm đánh giá sức khỏe thể chất và tinh thần của người bệnh, kết hợp khảo sát một số kết quả điều trị trong quá trình lọc máu. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0. Kết quả: Điểm trung bình sức khỏe thể chất của người bệnh là 41,6 ± 17,3 điểm, thấp hơn so với điểm sức khỏe tinh thần là 60,5 ± 10,5 điểm. Phần lớn người bệnh có tình trạng ổn định sau lọc máu chu kỳ (76,4%). Tuy nhiên, một số biến chứng vẫn gặp trong quá trình điều trị như mệt mỏi sau lọc máu (39,3%), hạ huyết áp trong lọc máu (13,5%) và chuột rút (10,1%). Đa số người bệnh tuân thủ điều trị tốt (80,9%). Kết luận: Người bệnh suy thận mạn chạy thận nhân tạo tại Trung tâm Y tế thành phố Hải Dương có tình trạng điều trị tương đối ổn định, tuy nhiên sức khỏe thể chất còn bị ảnh hưởng đáng kể và vẫn xuất hiện một số biến chứng trong quá trình lọc máu. Cần tăng cường chăm sóc toàn diện, giáo dục sức khỏe và hỗ trợ tâm lý nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Vũ Thị Hồng Nhung Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18668 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH THÁI TỔN THƯƠNG TRÊN CỘNG HƯỞNG TỪ VÀ NỘI SOI KHỚP VAI Ở BỆNH NHÂN RÁCH CHÓP XOAY ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18669 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình thái tổn thương trên cộng hưởng từ và nội soi khớp vai ở bệnh nhân rách chóp xoay được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 32 bệnh nhân rách chóp xoay được điều trị phẫu thuật từ tháng 10/2024 đến tháng 6/2025. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, thăm khám lâm sàng, cộng hưởng từ trước mổ và biên bản phẫu thuật. Kết quả: Tuổi trung bình là 60,72 ± 10,32, nhóm ≥65 tuổi chiếm 59,37%. Đa số bệnh nhân không có tiền sử chấn thương (84,37%) và tổn thương chủ yếu ở vai phải (78%). Đau và yếu vai gặp ở tất cả bệnh nhân; VAS trung bình 6,68 ± 1,65; Jobe test dương tính ở 100% trường hợp. Trên cộng hưởng từ, tổn thương gân trên gai đơn thuần chiếm tỷ lệ cao nhất (65,62%); co rút gân độ I và thoái hóa mỡ độ I là hình thái thường gặp. Kích thước vết rách trung bình trên nội soi lớn hơn trên cộng hưởng từ (p < 0,001). Nội soi phát hiện tổn thương đầu dài gân nhị đầu nhiều hơn cộng hưởng từ, trong khi tổn thương sụn viền và hẹp khoang dưới mỏm cùng có tỷ lệ tương đương giữa hai phương pháp. Kết luận: Rách chóp xoay chủ yếu gặp ở người lớn tuổi, biểu hiện lâm sàng nổi bật là đau vai và giảm chức năng vai. Cộng hưởng từ có giá trị cao trong đánh giá trước mổ, trong khi nội soi giúp xác định chính xác hơn kích thước vết rách và một số tổn thương phối hợp trong khớp vai. Mai Đức Thuận, Nguyễn Quốc Dũng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18669 TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC CHI PHÍ VÀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ ĐẾN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN CÔNG: TRƯỜNG HỢP BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 (2022–2025) https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18670 Mục tiêu: Phân tích tác động của cấu trúc chi phí và các chính sách vĩ mô, đặc biệt cơ chế thanh toán bảo hiểm y tế (BHYT) và giá dịch vụ y tế, đến năng lực tự chủ tài chính của bệnh viện công lập tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tình huống được thực hiện tại Bệnh viện Nhi đồng 1 giai đoạn 2022–2025 theo thiết kế hỗn hợp tuần tự giải thích. Dữ liệu định lượng gồm báo cáo tài chính theo tháng (n = 48); dữ liệu định tính gồm 7 phỏng vấn sâu với đại diện Sở Y tế, Ban Giám đốc và lãnh đạo các phòng chức năng. Mô hình hồi quy chuỗi thời gian gián đoạn (Interrupted Time Series – ITS) được sử dụng để đánh giá tác động của thay đổi chính sách đến hiệu quả tài chính bệnh viện. Kết quả: Giai đoạn 2022–2025, tổng thu bệnh viện tăng 54,6%, trong khi tổng chi tăng 98,0%, chủ yếu do gia tăng chi phí nhân sự, vật tư tiêu hao và đầu tư kỹ thuật cao. Doanh thu khám chữa bệnh và dịch vụ chiếm trên 93,0% tổng thu năm 2025. Tuy nhiên, tỷ suất thu/chi giảm từ 130,5% xuống 101,9%, phản ánh áp lực chi phí vận hành ngày càng lớn. Phân tích ITS ghi nhận tác động đáng kể của thay đổi chính sách đối với hiệu quả tài chính bệnh viện, với xu hướng giảm rõ rệt của tỷ suất thu/chi sau can thiệp. Chi phí khấu hao tăng mạnh sau quá trình đầu tư và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cơ chế thanh toán BHYT hiện nay chưa phản ánh đầy đủ chi phí quản lý, khấu hao và vận hành kỹ thuật cao tại bệnh viện tuyến cuối. Kết luận: Cơ chế tự chủ tài chính góp phần nâng cao năng lực hoạt động và hiệu quả quản trị bệnh viện công lập. Tuy nhiên, để bảo đảm tính bền vững tài chính, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế giá dịch vụ y tế theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí thực tế và xây dựng chính sách tài chính phù hợp với đặc thù của hệ thống y tế công lập. Phạm Đình Nguyên, Đặng Thanh Hùng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18670 BÁO CÁO CA BỆNH THIẾU MÁU TAN MÁU BẨM SINH DO ĐỘT BIẾN SLC4A1 VÀ KCNN4 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18671 Mục tiêu: Thiếu máu tan máu mạn tính khởi phát từ giai đoạn sơ sinh là một thách thức chẩn đoán, đặc biệt trong các trường hợp phụ thuộc truyền máu kéo dài và có biểu hiện miễn dịch đi kèm. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam 17 tuổi có tiền sử vàng da nặng từ sơ sinh, đã thay máu lúc 5 ngày tuổi và truyền máu định kỳ hàng tháng trong nhiều năm. Khi đánh giá lại, bệnh nhân có vàng da, nước tiểu sẫm màu, gan lách to, thiếu máu tan máu với bilirubin gián tiếp và LDH tăng, haptoglobin giảm sâu, tủy xương tăng sinh mạnh dòng hồng cầu. Coombs trực tiếp dương tính nhẹ, ANA và kháng thể kháng phospholipid dương tính nhưng bệnh nhân không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán lupus ban đỏ hệ thống. Giải trình tự toàn bộ hệ gen phát hiện các biến thể dị hợp tử trên gen SLC4A1 và KCNN4, liên quan đến bệnh lý màng hồng cầu di truyền. Bệnh nhân được chẩn đoán thiếu máu tan máu bẩm sinh do bất thường màng hồng cầu và được chỉ định cắt lách do tan máu mạn tính nặng, phụ thuộc truyền máu. Ca bệnh nhấn mạnh vai trò của xét nghiệm di truyền trong chẩn đoán các trường hợp thiếu máu tan máu kéo dài chưa rõ nguyên nhân. Hoàng Thị Hồng Nhung, Nguyễn Hoàng Nam Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18671 ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN NGÔN NGỮ Ở NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ TẠI BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HÀ NỘI NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18672 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm rối loạn ngôn ngữ ở người bệnh mất ngôn ngữ sau đột quỵ tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, có phân tích trên 30 người bệnh mất ngôn ngữ sau đột quỵ tại bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2025. Kết quả: Tỷ lệ suy giảm ngôn ngữ cao, đặc biệt ở chức năng diễn đạt bằng chữ viết (90%) và thấp nhất ở nghe hiểu (76,67%). Ngôn ngữ diễn đạt bị ảnh hưởng nhiều hơn ngôn ngữ tiếp nhận. Người bệnh gặp khó khăn chủ yếu ở các nhiệm vụ phức tạp như mô tả hình (83,3%), trình tự (76,6%), đọc hiểu đoạn văn (83,33%) và viết chính tả (76,67%). Các nhiệm vụ đơn giản như lặp lại từ và viết sao chép ít bị suy giảm hơn. Kết luận: Mất ngôn ngữ ở người bệnh đột quỵ biểu hiện đa dạng, cần đánh giá toàn diện để đưa ra phương pháp can thiệp phù hợp. Phạm Thị Vấn, Phạm Thị Cẩm Hưng, Lê Thùy Dung, Nguyễn Phúc Hưng Thịnh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18672 CÁC LOẠI DỊ ỨNG NGUYÊN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN MÀY ĐAY MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ CẦN THƠ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18673 Đặt vấn đề: Mày đay mạn tính là bệnh da liễu thường gặp, có diễn tiến kéo dài, dễ tái phát và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Việc xác định các loại dị ứng nguyên liên quan và đánh giá kết quả điều trị có ý nghĩa quan trọng trong quản lý, tư vấn phòng tránh yếu tố khởi phát và kiểm soát bệnh. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ các loại dị ứng nguyên và mô tả kết quả điều trị ở bệnh nhân mày đay mạn tính tại Bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca được thực hiện trên 112 bệnh nhân được chẩn đoán mày đay mạn tính, có chỉ định xét nghiệm 64 dị ứng nguyên và điều trị tại Bệnh viện Da Liễu thành phố Cần Thơ từ tháng 06/2023 đến tháng 12/2023. Dữ liệu được thu thập về đặc điểm dị ứng nguyên, phương pháp điều trị và kết quả kiểm soát bệnh sau 1 tuần, 2 tuần, 3 tuần, 1 tháng, 2 tháng và 3 tháng. Kết quả: Tỷ lệ dương tính với xét nghiệm 64 dị ứng nguyên là 38,4%. Trong nhóm có kết quả dương tính, dị ứng đồng thời với dị ứng nguyên thực phẩm và môi trường chiếm tỷ lệ cao nhất với 62,8%; nhóm chỉ dị ứng với môi trường chiếm 30,2% và nhóm chỉ dị ứng với thực phẩm chiếm 7,0%. Trong số 30 bệnh nhân có dị ứng với thực phẩm, nhóm protein là dị ứng nguyên thường gặp nhất, chiếm 83,3%. Về điều trị, 54,5% bệnh nhân được điều trị bằng kháng histamin đơn thuần và 45,5% được điều trị phối hợp kháng histamin với corticosteroid. Phối hợp kháng histamin thế hệ 1 và thế hệ 2 được sử dụng phổ biến nhất, chiếm 69,6%. Tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát tốt bệnh tăng dần theo thời gian, đạt 72,3% sau 2 tuần, 97,3% sau 2 tháng và 100% sau 3 tháng điều trị. Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân mày đay mạn tính dương tính khá thấp, trong đó dị ứng phối hợp giữa dị ứng nguyên thực phẩm và môi trường chiếm ưu thế. Kháng histamin là phương pháp điều trị chủ yếu và kết quả kiểm soát bệnh cải thiện rõ rệt theo thời gian. Cần đánh giá dị ứng nguyên một cách toàn diện, kết hợp điều trị phù hợp và theo dõi định kỳ nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát bệnh mày đay mạn tính. Huỳnh Thị Xuân Tâm, Huỳnh Thị Như Huyền Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18673 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ MỨC ĐỘ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA STAPHYLOCOCCUS AUREUS PHÂN LẬP ĐƯỢC TỪ BỆNH PHẨM LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN NHI HẢI DƯƠNG NĂM 2025 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18674 Staphylococcus aureus là một trong những căn nguyên gây nhiễm khuẩn thường gặp ở cả cộng đồng và bệnh viện. Sự gia tăng tình trạng kháng kháng sinh, đặc biệt là các chủng tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA), đang trở thành thách thức lớn trong điều trị và kiểm soát nhiễm khuẩn. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm phân bố và mức độ đề kháng kháng sinh của Staphylococcus aureus phân lập được từ bệnh phẩm lâm sàng tại Bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên tất cả các chủng S. aureus phân lập được từ bệnh phẩm lâm sàng của bệnh nhân tại Bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2025. Các chủng vi khuẩn được định danh và làm kháng sinh đồ bằng phương pháp khuếch tán đĩa giấy Kirby-Bauer và hệ thống tự động Vitek 2. Kết quả được diễn giải theo tiêu chuẩn CLSI M100 năm 2024. Kết quả: Năm 2025, Bệnh viện Nhi Hải Dương phân lập được 439 chủng S. aureus, chiếm 13,98% tổng số chủng vi khuẩn. Bệnh nhân nam chiếm 62,41%; nhóm tuổi dưới 2 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (54,90%). S. aureus được phân lập chủ yếu tại khoa Sơ sinh (42,14%) và khoa Hồi sức cấp cứu (27,33%). Các chủng vi khuẩn còn nhạy cảm hoàn toàn với vancomycin và linezolid (100%), trong khi tỷ lệ đề kháng cao với benzylpenicillin (98,41%), cefoxitin và oxacillin (74,72%). Tỷ lệ MRSA là 74,72%. Kết luận: Staphylococcus aureus là một trong những tác nhân gây nhiễm khuẩn thường gặp tại Bệnh viện Nhi Hải Dương, tập trung chủ yếu ở trẻ dưới 2 tháng tuổi, khoa Sơ sinh. Tỷ lệ MRSA và mức độ đề kháng với nhiều kháng sinh ở mức cao, trong khi vancomycin và linezolid vẫn duy trì hiệu quả tốt đối với các chủng S. aureus phân lập được. Hoàng Thị Hậu, Vũ Thanh Huyền, Nguyễn Thái Hiệp, Nguyễn Tiến Đạt, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phùng Thị Khánh Thảo Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18674 NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP Ở NGƯỜI TRẺ CÓ ĐIỂM NGUY CƠ ĐA GEN BỆNH MẠCH VÀNH CAO: NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18675 Đặt vấn đề: Nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp ở người trẻ đang có xu hướng gia tăng và thường liên quan đến sự tương tác phức tạp giữa yếu tố nguy cơ truyền thống và yếu tố di truyền. Điểm nguy cơ đa gen bệnh mạch vành (BMV) là công cụ mới giúp lượng hóa nguy cơ di truyền, đặc biệt hữu ích ở người trẻ khi các thang điểm nguy cơ lâm sàng có thể đánh giá thấp nguy cơ thực sự. Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo trường hợp lâm sàng. Kết quả: Bệnh nhân nam 34 tuổi nhập viện vì NMCT cấp ST chênh lên thành trước rộng, biến chứng choáng tim, được can thiệp đặt stent đoạn gần động mạch liên thất trước. Bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ truyền thống như hút thuốc lá nhiều, rối loạn lipid máu hỗn hợp và béo phì. Xét nghiệm không phát hiện đột biến gen gây tăng cholesterol máu có tính gia đình, nhưng điểm nguy cơ đa gen BMV ở mức cao. Sau điều trị nội khoa tối ưu và can thiệp mạch vành qua da kịp thời, tình trạng lâm sàng ổn định và bệnh nhân được xuất viện an toàn. Kết luận: Trường hợp lâm sàng này cho thấy vai trò quan trọng của yếu tố di truyền đa gen trong bệnh sinh NMCT cấp ở người trẻ. Việc tích hợp điểm nguy cơ đa gen BMV với đánh giá lâm sàng giúp nhận diện sớm nhóm nguy cơ rất cao và định hướng cá thể hóa chiến lược dự phòng thứ phát. Trần Công Duy, Hoàng Văn Sỹ Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18675 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI TRỰC TIẾP SỬ DỤNG COMPOSITE LỎNG VÀ MÁNG SILICONE TRONG SUỐT CÓ SỰ HỖ TRỢ CÔNG NGHỆ IN 3D https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18676 Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị phục hồi trực tiếp sử dụng composite lỏng và máng silicone trong suốt có sự hỗ trợ công nghệ in 3D. Đối tượng và phương pháp: Can thiệp lâm sàng không đối chứng. Đối tượng nghiên cứu là 37 răng được phục hồi trực tiếp, khám lâm sàng để đánh giá kết quả ngay sau điều trị và sau 6 tháng theo dõi dựa trên một số tiêu chí FDI dành cho phục hình. Kết quả: Tại thời điểm ngay sau trám và sau 6 tháng một số tiêu chí thẩm mỹ, chức năng, sinh học đều đạt mức tốt và rất tốt theo tiêu chuẩn FDI 2010 là 100%. Kết luận: Kỹ thuật phục hồi trực tiếp bằng composite lỏng kết hợp máng silicone trong suốt có sự hỗ trợ công nghệ in 3D cho thấy hiệu quả thẩm mỹ và chức năng khả quan trong thời gian theo dõi 6 tháng. Đinh Thanh Thuỳ, Nguyễn Thị Thu Hương, Đỗ Lê Phương Thảo Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18676 ĐÁNH GIÁ SỰ CHÊNH LỆCH TRỊ SỐ NHÃN ÁP GIỮA CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO NHÃN ÁP TẠI BỆNH VIỆN MẮT NGHỆ AN https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18677 Đặt vấn đề: Các phương pháp đo nhãn áp phổ biến như Maclakov, Goldmann và nhãn áp kế không tiếp xúc có thể cho kết quả khác nhau, ảnh hưởng đến đánh giá lâm sàng. Nghiên cứu với mục tiêu: Khảo sát và so sánh trị số nhãn áp đo bằng nhãn áp kế không tiếp xúc, Goldmann và Maclakov. Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 689 mắt của bệnh nhân ≥15 tuổi tại Bệnh viện Mắt Nghệ An từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2025. Nhãn áp được đo bằng ba phương pháp: Maclakov, Goldmann và không tiếp xúc. So sánh giá trị trung bình và độ chênh lệch giữa các phương pháp theo từng mức nhãn áp, phân tích bằng kiểm định và tương quan. Kết quả: Nhãn áp trung bình khác nhau giữa các nhóm bệnh, cao nhất ở glôcôm và thấp nhất ở bong võng mạc (p<0,001). Ở mức <22 mmHg, Maclakov cho giá trị cao hơn; ngược lại, ở ≥26 mmHg, Goldmann và nhãn áp kế không tiếp xúc cao hơn. Nhãn áp kế không tiếp xúc có xu hướng cao hơn Goldmann ở nhóm >21 mmHg. Phần lớn các trường hợp đo bằng Goldmann (77,7%) và nhãn áp kế không tiếp xúc (63,1%) cho kết quả thấp hơn Maclakov. Chênh lệch có thể tới 16 mmHg nhưng chủ yếu trong ±3 mmHg. Các phương pháp có tương quan chặt chẽ (r ≈ 0,91–0,95; p<0,001), tuy nhiên Bland–Altman cho thấy giới hạn đồng thuận rộng (≈ ±8 mmHg). Kết luận: Có sự khác biệt đáng kể giữa các phương pháp đo nhãn áp, phụ thuộc vào mức nhãn áp và có xu hướng đảo chiều giữa nhóm thấp và cao. Cần thận trọng khi so sánh và theo dõi nhãn áp bằng các phương pháp khác nhau trong thực hành lâm sàng. Nguyễn Sa Huỳnh, Trần Tất Thắng, Lê Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thùy Dung, Đoàn Kim Thành Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18677 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TỶ LỆ NHIỄM VÀ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN GÂY BỆNH TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HUYẾT TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRÀ VINH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18678 Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn huyết là một cấp cứu thường gặp tại khoa hồi sức, có nguy cơ tử vong cao. Cấy máu dương tính và tình trạng đề kháng kháng sinh ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị. Nghiên cứu các yếu tố liên quan giúp bác sĩ nhận diện sớm nguy cơ và lựa chọn kháng sinh hợp lý. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm và đề kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn gây bệnh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết tại Khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh. Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu – cắt ngang trên 129 bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết từ 05/2024 đến 05/2025 tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cấy máu dương tính – đề kháng kháng sinh (ĐKKS) có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với giới tính (nữ cao hơn nam, PR = 1,66; p = 0,030), thời gian nằm viện và thời gian điều trị tại Khoa HSTC (nằm viện > 6 ngày và điều trị tại Khoa HSTC > 6 ngày làm tăng nguy cơ cấy máu dương tính – ĐKKS hơn 5 lần; p < 0,05), cũng như thời gian điều trị kháng sinh kéo dài (7–30 ngày, PR = 4,27; p < 0,05). Ngoài ra, nhóm bệnh nhân không xác định được đường vào có nguy cơ cấy máu dương tính – ĐKKS cao gấp đôi so với nhóm đường tiêu hóa – gan mật (PR = 2,03; p = 0,023). Nghiên cứu không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ cấy máu dương tính – ĐKKS với tuổi, nghề nghiệp, khu vực cư trú, tiền sử sử dụng kháng sinh, bệnh nền, đường vào khác hoặc kết quả điều trị (p > 0,05). Kết luận: Tỷ lệ cấy máu dương tính – đề kháng kháng sinh có xu hướng tăng cao ở nhóm bệnh nhân > 60 tuổi (40,21%), phản ánh gánh nặng nhiễm khuẩn huyết tại khoa hồi sức. Vì thế cần tăng cường chỉ định cấy máu và KSĐ trước khi sử dụng KS phổ rộng, đặc biệt ở BN nghi ngờ NKH, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và giảm nguy cơ kháng thuốc. Bên cạnh đó, việc xây dựng và cập nhật định kỳ bảng mức độ nhạy cảm/kháng thuốc của vi khuẩn (Antibiogram) sẽ hỗ trợ lựa chọn kháng sinh ban đầu hợp lý. Đồng thời, cần tăng cường kiểm soát NKBV và nâng cao ý thức thực hành vô khuẩn trong các thủ thuật xâm lấn như đặt catheter, nội khí quản, sonde tiểu,... Trần Bình Yên, Nguyễn Phan Trọng Hiếu, Lê Thúy Quỳnh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18678 NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ HBV-DNA VỚI HBeAg VÀ MỘT SỐ CHỈ SỐ HÓA SINH VÀ HUYẾT HỌC Ở NGƯỜI BỆNH VIÊM GAN VI RÚT B MẠN TÍNH CÓ XƠ GAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HẢI DƯƠNG https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18679 Viêm gan vi rút B mạn tính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến xơ gan và các biến chứng nặng như suy gan, ung thư biểu mô tế bào gan. Định lượng HBV-DNA kết hợp với các chỉ số huyết thanh học, hóa sinh và huyết học có vai trò quan trọng trong đánh giá mức độ hoạt động của bệnh và theo dõi điều trị. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả kết quả xét nghiệm nồng độ HBV-DNA, HBeAg, một số chỉ số hóa sinh, huyết học và xác định mối liên quan giữa HBV-DNA với các chỉ số này ở người bệnh viêm gan vi rút B mạn tính có xơ gan tại Bệnh viện Đa khoa Hải Dương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 52 người bệnh viêm gan vi rút B mạn tính có xơ gan điều trị tại Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Đa khoa Hải Dương từ tháng 7/2025 đến tháng 3/2026. Nồng độ HBV-DNA được xác định bằng kỹ thuật Real-time PCR; HBeAg, các chỉ số hóa sinh và huyết học được thực hiện theo quy trình xét nghiệm thường quy tại bệnh viện. Kết quả: Nam giới chiếm 75,0%; nhóm tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ cao nhất. Tỷ lệ người bệnh có HBV-DNA ≥20.000 IU/mL là 42,3%; HBeAg dương tính chiếm 36,5%. Giá trị trung bình AST và ALT tăng cao, lần lượt là 143,57 ± 137,18 U/L và 145,26 ± 179,10 U/L; số lượng tiểu cầu trung bình giảm còn 82,19 ± 55,27 G/L. Nhóm người bệnh có HBV-DNA ≥20.000 IU/mL có khả năng HBeAg dương tính cao hơn 13,93 lần so với nhóm có HBV-DNA thấp hơn, đồng thời có nồng độ AST và ALT cao hơn có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Nồng độ HBV-DNA có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng HBeAg và mức tăng men gan ở người bệnh viêm gan vi rút B mạn tính có xơ gan. Việc phối hợp theo dõi HBV-DNA với các chỉ số huyết thanh học và hóa sinh có ý nghĩa trong đánh giá tình trạng bệnh và quản lý điều trị. Phùng Thị Khánh Thảo, Nguyễn Ngọc Hiền, Nguyễn Đức Trưởng, Nguyễn Thị Phương Cúc, Hoàng Thị Hậu Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18679 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ MÔ BỆNH HỌC SAU ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC Biện PHÁP XỬ TRÍ TIẾP THEO Ở BỆNH NHÂN TỔN THƯƠNG TIỀN UNG THƯ CỔ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2024 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18680 Mục tiêu: Nhận xét kết quả mô bệnh học với can thiệp các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu kết hợp theo dõi dọc sau khi có kết quả mô bệnh học, được thực hiện trên 296 bệnh nhân có tổn thương cổ tử cung điều trị tại khoa Phụ ung thư, Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2024. Các bệnh nhân có đầy đủ xét nghiệm tế bào học cổ tử cung, HPV định type và kết quả giải phẫu bệnh sau can thiệp. Số liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và xử lý bằng phần mềm SPSS. Kết quả:Kết quả sinh thiết ban đầu cho thấy CIN I chiếm 37,5%, CIN II chiếm 25,3% và CIN III chiếm 37,2%; không ghi nhận trường hợp ung thư xâm lấn. Phương pháp điều trị chủ yếu là LEEP (59,8%), tiếp theo là dao lạnh (20,9%) và cắt tử cung (13,2%). Đối với CIN II và CIN III, LEEP là phương pháp được chỉ định nhiều nhất với tỷ lệ lần lượt là 81,3% và 89,1%. Sau điều trị lần đầu, 34,8% bệnh nhân có kết quả mô bệnh học âm tính; 64,3% vẫn còn tổn thương tiền ung thư, trong đó có 3 trường hợp (1%) phát hiện ung thư xâm lấn. Sau điều trị lần đầu, 85,8% bệnh nhân được theo dõi định kỳ, trong khi 14,2% cần can thiệp tiếp theo bằng LEEP, cắt tử cung hoặc xạ trị Kết luận: LEEP là phương pháp điều trị được lựa chọn chủ yếu trong xử trí tổn thương tiền ung thư cổ tử cung. Tỷ lệ tồn dư tổn thương sau điều trị lần đầu còn cao, đặc biệt ở nhóm CIN II–III, 3 trường hợp (1%) phát hiện ung thư xâm lấn, cho thấy cần tối ưu hóa kỹ thuật điều trị và theo dõi sau can thiệp nhằm giảm nguy cơ tồn dư hoặc tiến triển thành ung thư xâm lấn. Lê Quang Vinh, Lê Hoàng Linh, Nguyễn Thu Thủy Tiên, Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Hằng, Phạm Tiến Anh, Phạm Tiến Dưỡng, Nguyễn Văn Thắng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18680 ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO XUẤT HIỆN SAU CHẤN THƯƠNG ĐẦU NHẸ Ở TRẺ NHỎ: CHUỖI BA CA VỚI ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH VÀ CƠ CHẾ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18681 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học, yếu tố căn nguyên và kết quả theo dõi của ba trẻ nhỏ bị đột quỵ thiếu máu não xuất hiện sau chấn thương đầu nhẹ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả chuỗi ba ca bệnh dưới 24 tháng tuổi tại Trung tâm Thần kinh, Bệnh viện Nhi Trung ương. Dữ liệu bệnh sử, thăm khám, hình ảnh học, xét nghiệm căn nguyên, điều trị và kết cục được thu thập từ hồ sơ bệnh án và các lần theo dõi. Kết quả: Ba bệnh nhân 10–23 tháng tuổi đều có thiếu sót thần kinh khu trú sau chấn thương đầu nhẹ. Ca 1 là trẻ nữ 23 tháng, yếu nửa người trái sau va chạm nhẹ; MRI xác định nhồi máu cấp hạch nền phải vùng động mạch đậu-vân, khảo sát tim mạch và tăng đông chưa phát hiện căn nguyên rõ, cơ lực cải thiện từ 4/5 lên 5/5 sau 4 ngày dùng aspirin. Ca 2 là trẻ nam 10 tháng, co giật cục bộ và yếu nửa người phải khoảng một ngày sau ngã 70–80 cm; trẻ đến muộn, MRI sau hai tháng cho thấy ổ tổn thương cũ dịch hóa nhân bèo trái, còn liệt cứng nửa người phải 3/5 sau năm tháng. Ca 3 là trẻ nam 11 tháng, yếu nửa người trái và co giật sau va đập đầu; MRI ghi nhận nhồi máu bán cấp nhân đuôi, nhân bèo và chất trắng cạnh não thất phải, MRA cho thấy hẹp động mạch cảnh trong và động mạch não giữa phải, kèm thiếu máu thiếu sắt nặng và tăng tiểu cầu phản ứng. Kết luận: Đột quỵ thiếu máu não xuất hiện sau chấn thương đầu nhẹ ở trẻ nhỏ có cơ chế không đồng nhất. Mối liên quan thời gian với chấn thương không đủ để khẳng định nguyên nhân trực tiếp; cần đánh giá sớm bằng MRI, khảo sát mạch máu não và tìm các yếu tố nền như bệnh động mạch não, bệnh tim, rối loạn đông máu và bất thường huyết học. Trần Quang Thanh, Cao Vũ Hùng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18681 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ KÍCH THƯỚC HỒNG cầu Ở BỆNH NHÂN TĂNG ÁP LỰC ĐỘNG MẠCH PHỔI ĐIỀU TRỊ TẠI VIỆN TIM MẠCH BỆNH VIỆN BẠCH MAI https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18682 Mục tiêu: Tăng áp lực động mạch phổi (TALĐMP) gây thiếu oxy mô mạn tính vàviêm hệ thống làm suy giảm quá trình sinh hồng cầu, dẫn đến hiện tượng bất đồng đều kích thước hồng cầu (tăng RDW-CV) và tiên lượng suy tim. Nghiên cứu này nhằm khảo sát RDW-CV và mối liên quan với các thông số lâm sàng, cận lâm sàng và huyết động ở người bệnh tăng áp lực động mạch phổi. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang này có 119 người bệnh TALĐMP điều trị tại Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai. Kết quả: Nhóm người bệnh có tuổi trung bình 39,5 ± 15,9, nữ giới (70,6%), tim bẩm sinh (63,0%). RDW-CV trung bình 15,1 ± 3,0. RDW- CV liên quan thuận với áp lực động mạch phổi trung bình (r = 0,230; p = 0,012), sức cản mạch phổi (r = 0,281; p = 0,002) và liên quan nghịch với TAPSE (r = -0,252; p = 0,006). Nhóm suy tim phải (35,3%) có RDW-CV cao hơn so với nhóm không suy tim (16,2 ± 3,47% so với 14,6 ± 2,56%; p = 0,004). Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy RDW có mối liên quan có ý nghĩa thông kê với biến chứng suy tim phải ở bệnh nhân tăng áp lực động mạch phổi, đồng thời là xét nghiệm có giá trị kinh tế, chi phí thấp và dễ áp dụng trong thực hành lâm sàng. Nguyễn Minh Hùng, Vũ Mạnh Thắng, Trần Minh Phương, Nguyễn Ngọc Hoa, Nguyễn Phương Nhi, Nguyễn Thị Hoà Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18682 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ BAN ĐẦU ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG CHÍNH MŨI BẰNG NẮN KÍN TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18683 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả ban đầu sau nắn kín và một số yếu tố liên quan đến kết quả ban đầu ở bệnh nhân gãy xương chính mũi (GXCM) tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả có phân tích trên 30 bệnh nhân GXCM được điều trị bằng nắn kín tại Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định trong giai đoạn 2022-2023. Các đặc điểm lâm sàng, CT Scan, thời điểm can thiệp, phương pháp vô cảm và kết quả ban đầu sau nắn kín được thu thập từ hồ sơ bệnh án. Các biến định tính được so sánh bằng kiểm định Fisher’s exact test hai phía. Kết quả: Nam giới chiếm 76,7%, nhóm tuổi 20-39 tuổi chiếm 60,0%; tai nạn giao thông là nguyên nhân thường gặp nhất (36,7%). Triệu chứng thường gặp gồm chảy máu mũi (90,0%), đau vùng mũi (83,3%) và sưng nề vùng mũi (80,0%). Trên CT Scan, 73,3% trường hợp có di lệch xương và 36,7% có vẹo vách ngăn phối hợp. Đa số bệnh nhân được can thiệp trong 3 ngày đầu sau chấn thương (83,3%) và thực hiện dưới gây tê tại chỗ (86,7%). Kết quả ban đầu tốt ghi nhận ở 80,0% bệnh nhân. Can thiệp trong 3 ngày đầu và không có vẹo vách ngăn phối hợp liên quan với kết quả ban đầu tốt hơn (p=0,041 và p=0,016). Kết luận: Nắn kín cho kết quả ban đầu thuận lợi ở đa số bệnh nhân GXCM trong nghiên cứu này. Thời điểm can thiệp sớm và tình trạng vách ngăn là các yếu tố cần được lưu ý khi đánh giá, tư vấn và theo dõi người bệnh. Nguyễn Thị Kiều Thơ, Huỳnh Chí Thành, Nguyễn Đình Chương, Phạm Đình Nguyên Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18683 ĐÁNH GIÁ VÁCH NGĂN TRONG GÃY XƯƠNG CHÍNH MŨI: ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH HỌC VÀ XỬ TRÍ BAN ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18684 Đặt vấn đề: Bất thường vách ngăn trong bối cảnh gãy xương chính mũi (GXCM) có thể bị bỏ sót do phù nề, máu đông và triệu chứng cấp tính. Do thiếu dữ liệu trước chấn thương, cần diễn giải thận trọng vì vẹo vách ngăn có thể đã tồn tại trước đó. Mục tiêu: Mô tả tỉ lệ, đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và xử trí ban đầu của bất thường vách ngăn ghi nhận trong bối cảnh GXCM; đồng thời phân tích một số biểu hiện gợi ý cần đánh giá chủ động vách ngăn. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, hồi cứu hồ sơ bệnh án trên 30 bệnh nhân GXCM từ 18 tuổi trở lên điều trị tại Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, giai đoạn 11/2022-07/2023. Bệnh nhân được chia thành nhóm VN+ (n=9) và VN- (n=21). Biến định tính được so sánh bằng kiểm định Fisher’s exact test hai phía. Kết quả: Bất thường vách ngăn được ghi nhận ở 9/30 trường hợp (30%), toàn bộ là vẹo vách ngăn; không ghi nhận gãy/sụp vách ngăn hoàn toàn hoặc tụ máu vách ngăn. Nhóm VN+ có tỉ lệ nghẹt mũi và sụp tháp mũi chung cao hơn nhóm VN- (đều 77,8% so với 28,6%; p=0,020). Nội soi mũi xoang và CT Scan hàm mặt ghi nhận bất thường vách ngăn ở toàn bộ nhóm VN+, trong khi X-quang thường quy chỉ gợi ý 2/9 trường hợp. Tất cả bệnh nhân VN+ được nắn chỉnh vách ngăn bằng kẹp Asch trước NXCM kín trong cùng cuộc phẫu thuật. Kết luận: Bất thường vách ngăn được ghi nhận trong bối cảnh GXCM ở 30% bệnh nhân và liên quan với tỉ lệ nghẹt mũi, sụp tháp mũi cao hơn. Kết quả gợi ý bệnh nhân GXCM có nghẹt mũi hoặc sụp tháp mũi cần được đánh giá vách ngăn chủ động bằng thăm khám nội mũi, nội soi mũi xoang và CT Scan hàm mặt khi phù hợp. Phạm Đình Nguyên, Nguyễn Thị Kiều Thơ, Huỳnh Chí Thành, Nguyễn Đình Chương Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18684 KẾT QUẢ SAU MỔ 3 THÁNG CỦA CHỈNH HÌNH TAI GIỮA TYPE I QUA NỘI SOI BẰNG SỤN VÀ MÀNG SỤN BÌNH TAI KHÔNG ĐẶT GELFOAM TRONG HÒM NHĨ https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18685 Đặt vấn đề: Vai trò đặt Gelfoam trong hòm nhĩ khi chỉnh hình tai giữa type I hiện vẫn chưa thống nhất trong y văn. Mục tiêu: Đánh giá kết quả sau mổ 3 tháng của chỉnh hình tai giữa type I qua nội soi bằng sụn và màng sụn bình tai không đặt Gelfoam trong hòm nhĩ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca, theo dõi tiến cứu, gồm 20 bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính có thủng màng nhĩ tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, 02-08/2021. Gelfoam không được đặt trong hòm nhĩ; chỉ đặt ở mặt ngoài màng nhĩ và ống tai ngoài. ABG được tính tại 500, 1000 và 2000 Hz. Kết quả: Tuổi trung bình 47,25 ± 11,03 tuổi; nữ chiếm 70%. Thời gian phẫu thuật trung bình 43,75 ± 19,9 phút. Không ghi nhận liệt mặt, chảy máu hoặc nhiễm trùng cần can thiệp. Tỷ lệ liền màng nhĩ đạt 100% sau 1 tháng và 90% sau 2-3 tháng. Hai trường hợp không duy trì liền đều thuộc nhóm thủng gần toàn bộ. ABG giảm từ 17,8 ± 4,7 dB xuống 8,6 ± 4,3 dB sau 3 tháng. Kết luận: Ở nhóm bệnh nhân được chọn lọc, phẫu thuật này ghi nhận tỷ lệ màng nhĩ liền tốt 90% và cải thiện ABG sau 3 tháng. Cần nghiên cứu đối chứng và theo dõi dài hạn. Nguyễn Thị Kiều Thơ, Đoàn Minh Huấn, Huỳnh Tấn Lộc, Nguyễn Đình Chương Copyright (c) 2026 https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/18685