ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ OSIMERTINIB BƯỚC MỘT TRONG UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN IV CÓ ĐỘT BIẾN EGFR TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Nguyễn Thị Phương Thảo1,, Nguyễn Thị Vượng1,2, Phan Văn Linh1, Trịnh Lê Huy1,2
1 Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
2 Trường Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị Osimertinib bước một ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến EGFR tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 35 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến EGFR được điều trị bước 1 bằng Osimertinib tại Trung tâm Ung bướu, bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2024. Kết quả: Tuổi trung bình là 66 ± 8,9 tuổi, trong đó thấp nhất là 45 tuổi và cao nhất là 87 tuổi. Tỷ lệ giới nam/nữ gần ngang bằng nhau. Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu không có tiền sử hút thuốc lá (chiếm 82,9%) và có mắc bệnh phối hợp (25 bệnh nhân chiếm 73,5%). Các bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu có thể trạng tốt, với PS 0 + 1 chiếm 71,5%, có 1 bệnh nhân PS 3. Ung thư biểu mô tuyến hay gặp nhất; Hai đột biến thường gặp là Del 19 và L858R chiếm lần lượt 57,1% và 34,3%. Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ (đáp ứng một phần + đáp ứng hoàn toàn) là 91%, tỷ lệ kiểm soát bệnh (đáp ứng một phần + đáp ứng hoàn toàn + bệnh ổn định) là 97% (tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn là 6%, đáp ứng một phần 77 %, bệnh ổn định là 14%, 3% trường hợp tiến triển). Phân tích mối tương quan giữa các yếu tố: giới tính, tuổi, chỉ số toàn trạng và loại đột biến gen và đáp ứng với điều trị Osimertinib cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên khi phân tích đáp ứng điều trị giữa nhóm bệnh nhân có và không hút thuốc, p = 0,049 (<0,05) khác biệt có ý nghĩa thống kê. Trung vị sống thêm không bệnh tiến triển là 18,1 tháng (khoảng tin cậy 95%, 16,1 đến 20,2 tháng); trong đó ngắn nhất là 4 tháng và dài nhất là 30 tháng. Các tác dụng không mong muốn thường gặp ở độ 1, độ 2. Tác dụng không mong muốn hay gặp nhất là ban da và tiêu chảy, chiếm lần lượt là 54,2% và 51,3%. Có 1 BN bị viêm phổi kẽ do Osimertinib. Kết luận: Liệu pháp điều trị bước 1 Osimertinib có hiệu quả cao và an toàn trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn có đột biến gen EGFR. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. 704-viet-nam-fact-sheet.pdf. Accessed January 19, 2025. https://gco.iarc.who.int/media/ globocan/factsheets/populations/704-viet-nam-fact-sheet.pdf
2. Gefitinib or Carboplatin–Paclitaxel in Pulmonary Adenocarcinoma | New England Journal of Medicine. Accessed January 19, 2025. https://www.nejm.org/doi/10.1056/NEJMoa0810699?url_ver=Z39.88-2003&rfr_id=ori:rid:crossref. org&rfr_dat=cr_pub%20%200www.ncbi.nlm.nih.gov
3. Lee CK, Davies L, Wu YL, et al. Gefitinib or Erlotinib vs Chemotherapy for EGFR Mutation-Positive Lung Cancer: Individual Patient Data Meta-Analysis of Overall Survival. JNCI J Natl Cancer Inst. 2017;109(6):djw279. doi:10.1093/ jnci/djw279
4. Cross DAE, Ashton SE, Ghiorghiu S, et al. AZD9291, an irreversible EGFR TKI, overcomes T790M-mediated resistance to EGFR inhibitors in lung cancer. Cancer Discov. 2014;4(9):1046-1061. doi:10.1158/2159-8290.CD-14-0337
5. Osimertinib in Untreated EGFR-Mutated Advanced Non–Small-Cell Lung Cancer. N Engl J Med. 2018;378(2):113-125. doi:10.1056/ NEJMoa1713137
6. Võ Thị Huyền Trang và cs. Đánh Giá Kết Quả Afatinib Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Giai Đoạn IIIB-IV Có Đột Biến EGFR. Luận văn chuyên khoa cấp 2. Đại học Y Hà Nội; 2021.
7. Mai Trọng Khoa, Ngô Thùy Trang, Nguyễn Thị Lan Anh và CS (2016). Nghiên Cứu Tiến Cứu, Dịch Tễ Học Phân Tử, Đánh Giá Tình Trạng Đột Biến Gen EGFR ở Các Bệnh Nhân Việt Nam Mắc Ung Thư Phổi Dạng Biểu Mô Tuyến, Giai Đoạn Tiến Triển. 2016.
8. Albain KS, Belani CP, Bonomi P, O’Byrne KJ, Schiller JH, Socinski M. PIONEER: A Phase III Randomized Trial of Paclitaxel Poliglumex Versus Paclitaxel in Chemotherapy-Naive Women with Advanced-Stage Non-Small-Cell Lung Cancer and Performance Status of 2. Clin Lung Cancer. 2006;7(6):417-419. doi:10.3816/CLC.2006.n.027
9. Yang JCH, Wu YL, Schuler M, et al. Afatinib versus cisplatin-based chemotherapy for EGFR mutation-positive lung adenocarcinoma (LUX-Lung 3 and LUX-Lung 6): analysis of overall survival data from two randomised, phase 3 trials. Lancet Oncol. 2015;16(2):141-151. doi:10.1016/ S1470-2045(14)71173-8
10. Park K, Tan EH, O’Byrne K, et al. Afatinib versus gefitinib as first-line treatment of patients with EGFR mutation-positive non-small-cell lung cancer (LUX-Lung 7): a phase 2B, open-label, randomised controlled trial. Lancet Oncol. 2016;17(5): 577-589. doi:10.1016/S1470-2045(16)30033-X