ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ PHÒNG RUN CỦA NEFOPAM SAU GÂY MÊ PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG

Nguyễn Đăng Thứ1, Trần Đắc Tiệp1, Nguyễn Ngọc Thạch1, Trần Hoài Nam1, Võ Văn Hiển2, Nguyễn Công Hùng2, Đỗ Văn Lợ3,
1 Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y
2 Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác, Học viện Quân y
3 Bệnh viện Đại học Phenikaa

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của nefopam trong dự phòng run sau gây mê toàn thân ở bệnh nhân phẫu thuật nội soi ổ bụng và các tác dụng không mong muốn của thuốc. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả trên 64 bệnh nhân ≥16 tuổi, ASA I–III, phẫu thuật nội soi ổ bụng tại Bệnh viện Quân y 103 (12/2024–4/2025). Bệnh nhân được chia hai nhóm: nhóm NK (n = 31) dùng nefopam 20 mg truyền tĩnh mạch + ketorolac 30 mg tiêm bắp; nhóm K (n = 33) chỉ dùng ketorolac. Đánh giá run sau mổ bằng thang điểm Crossley–Mahajan; ghi nhận huyết động và tác dụng phụ. Kết quả: Tỷ lệ run sau mổ ở nhóm NK là 9,7%, thấp hơn đáng kể so với nhóm K (42,4%; p = 0,004). Run ở nhóm NK chủ yếu nhẹ (mức 1–2), không có mức 3; trong khi nhóm K có 71,4% run mức độ 3 (p = 0,051). Thời gian run ngắn hơn ở nhóm NK (10,5 ± 4,7 phút so với 22,3 ± 12,6 phút; p = 0,023). Không khác biệt đáng kể về tác dụng phụ giữa hai nhóm. Kết luận: Nefopam làm giảm rõ rệt tỷ lệ, mức độ và thời gian run sau gây mê, là biện pháp dự phòng hiệu quả và an toàn.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lopez MB. (2018). Postanaesthetic shivering - from pathophysiology to prevention. Rom J Anaesth Intensive Care, 25(1):73-81. doi: 10.21454/rjaic.7518.251.xum.
2. Luggya TS, Kabuye RN, Mijumbi C, Tindimwebwa JB, Kintu A. (2016). Prevalence, associated factors and treatment of post spinal shivering in a Sub-Saharan tertiary hospital: a prospective observational study. BMC Anesthesiol, 16(1):100. doi: 10.1186/s12871-016-0268-0.
3. Alfonsi P, Adam F, Passard A, Guignard B, Sessler DI, Chauvin M. (2004). Nefopam, a nonsedative benzoxazocine analgesic, selectively reduces the shivering threshold in unanesthetized subjects. Anesthesiology, 100(1):37-43. doi: 10.1097/00000542-200401000-00010.
4. Kang P, Park SK, Yoo S, Hur M, Kim WH, Kim JT, et al. (2019). Comparative effectiveness of pharmacologic interventions to prevent shivering after surgery: a network meta-analysis. Minerva Anestesiol, 85(1):60-70. doi: 10.23736/s0375-9393.18.12813-6.
5. Crossley AW, Mahajan RP. (1994). The intensity of postoperative shivering is unrelated to axillary temperature. Anaesthesia, 49(3):205-7. doi: 10.1111/j.1365-2044.1994.tb03422.x.
6. Lv M, Wang X, Qu W, Liu M, Wang Y. (2015). Nefopam for the prevention of perioperative shivering: a meta-analysis of randomized controlled trials. BMC Anesthesiol, 15:87. doi: 10.1186/s12871-015-0068-y.
7. Dinges HC, Al-Dahna T, Rücker G, Wulf H, Eberhart L, Wiesmann T, et al. (2023). Pharmacologic interventions for the therapy of postanesthetic shivering in adults: a systematic review and network meta-analysis. Minerva Anestesiol, 89(10):923-35. doi: 10.23736/s0375-9393.23.17410-4.
8. Nahila Mahajan RA, Anshuman Mahesh Chander, Raj Rishi Sharma. (2023). Effects of Nalbuphine and Nefopam in the Management of Postoperative Shivering after Laparoscopic Cholecystectomy under General Anaesthesia: A Randomised Double-blind Study. 17(6):UC11-UC4. doi: 10.7860/jcdr/2023/64038.18034.