KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT BẮC CẦU MẠCH VÀNH CÓ DÙNG ĐỘNG MẠCH VỊ MẠC NỐI PHẢI
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (coronary artery bypass grafting – CABG) hoàn toàn bằng động mạch mang lại hiệu quả tái tưới máu bền vững và ít biến chứng hơn so với cầu nối tĩnh mạch. Trong đó, động mạch ngực trong trái là lựa chọn tiêu chuẩn. Tuy nhiên, khi cần tái thông nhiều nhánh mạch vành, việc lựa chọn mạch ghép bổ sung như động mạch vị mạc nối phải (right gastroepiploic artery – RGEA) trở nên quan trọng. RGEA đã chứng minh tính khả thi lâm sàng, đặc biệt khi nối vào các nhánh động mạch vành phải, nhưng vẫn còn nhiều tranh luận về hiệu quả dài hạn. Bên cạnh đó, phẫu thuật không tuần hoàn ngoài cơ thể ngày càng được ưu tiên vì giảm nguy cơ biến chứng thần kinh và thận, nhất là khi sử dụng các mạch ghép có cuống như RGEA. Tuy nhiên, dữ liệu trong nước về hiệu quả sớm của CABG sử dụng RGEA còn hạn chế. Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật bắc cầu động mạch vành có sử dụng động mạch vị mạc nối phải. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 41 bệnh nhân được phẫu thuật CABG có sử dụng RGEA tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2024. Thu thập và phân tích các biến số lâm sàng, phẫu thuật và hậu phẫu để đánh giá hiệu quả và biến chứng liên quan. Kết quả: Tuổi trung bình là 58,4±6,8 tuổi; 82,9% phẫu thuật không dùng tuần hoàn ngoài cơ thể; chức năng co bóp thất trái EF trung bình 58,8%. RGEA chủ yếu được dùng để nối các nhánh RCA có hẹp ≥90%. Ba trường hợp thực hiện cầu nối nối tiếp bằng RGEA. Không có biến chứng ổ bụng hay tử vong sớm. Rối loạn nhịp và viêm phổi là hai biến chứng phổ biến nhất (mỗi loại chiếm 7,3%). Thời gian hồi sức trung bình là 45 giờ. Không ghi nhận biến chứng thần kinh hay tử vong nội viện. Kết luận: Sử dụng RGEA trong CABG là một chiến lược an toàn và khả thi khi được chỉ định hợp lý và lấy mạch đúng kỹ thuật. RGEA phát huy hiệu quả đặc biệt khi tái thông nhánh RCA, góp phần vào chiến lược tái thông hoàn toàn mạch vành bằng mạch ghép động mạch.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
động mạch vị mạc nối phải, phẫu thuật bắc cầu mạch vành, tái thông mạch vành hoàn toàn bằng động mạch
Tài liệu tham khảo
2. He GW, Yang CQ. Comparison among arterial grafts and coronary artery. An attempt at functional classification. J Thorac Cardiovasc Surg. Apr 1995;109(4): 707-15. doi:10.1016/s0022-5223(95)70352-7
3. van Son JA, Falk V, Walther T, Smedts FM, Mohr FW. Low-grade intimal hyperplasia in internal mammary and right gastroepiploic arteries as bypass grafts. Ann Thorac Surg. Mar 1997; 63(3): 706-8. doi:10.1016/s0003-4975(96) 01113-7
4. Gagliardotto P, Coste P, Lazreg M, Dor V. Skeletonized right gastroepiploic artery used for coronary artery bypass grafting. Ann Thorac Surg. Jul 1998; 66(1):240-2. doi:10.1016/s0003-4975 (98)00403-2
5. Isomura T, Suma H, Sato T, Horii T. Use of the Harmonic Scalpel for harvesting arterial conduits in coronary artery bypass. Eur J Cardiothorac Surg. Jul 1998;14(1):101-3. doi:10.1016/s1010-7940(98)00146-8
6. Asai T, Tabata S. Skeletonization of the right gastroepiploic artery using an ultrasonic scalpel. The Annals of Thoracic Surgery. 2002;74(5): 1715-1717. doi:10.1016/S0003-4975(02)03765-7
7. Sasaki H. The right gastroepiploic artery in coronary artery bypass grafting. J Card Surg. Jul-Aug 2008;23(4):398-407. doi:10.1111/j.1540-8191.2008.00623.x
8. Vũ NH, Kỳ NM. Nghiên cứu giải phẫu động mạch vị mạc nối phải trên người Việt Nam. Y Học TP Hồ Chí Minh. 2022;Tập 26 * Số 1 * 2022
9. Phụng ĐV, Tiến TQ. Nghiên cứu đặc tính mô bệnh học động mạch vị mạc nối phải sử dụng làm cầu nối trong phẫu thuật bắc cầu mạch vành tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam. 2018;20 - tháng 5/2018
10. Kim MS, Hwang HY, Cho KR, Kim KB. Right gastroepiploic artery versus right internal thoracic artery composite grafts: 10-year patency and long-term outcomes. J Thorac Cardiovasc Surg. Apr 2022;163(4): 1333-1343.e1. doi:10.1016/ j.jtcvs.2020.05.096