ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ GÃY XƯƠNG ĐỐT SỐNG Ở PHỤ NỮ MÃN KINH MẮC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2

Cao Đình Hưng1,2,3,
1 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
2 Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
3 Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Gãy xương đốt sống là một bệnh lý diễn tiến âm thầm, tương tự như các bệnh mạn tính khác, nhưng có thể gây hậu quả nghiêm trọng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Trong đó, đái tháo đường góp phần làm tăng nguy cơ gãy xương thông qua nhiều cơ chế khác nhau. Nghiên cứu này nhằm làm rõ đặc điểm gãy xương đốt sống và các yếu tố nguy cơ liên quan ở phụ nữ mãn kinh mắc đái tháo đường típ 2, từ đó góp phần phát hiện sớm và can thiệp kịp thời nhằm hạn chế các biến chứng tàn phế. Mục tiêu: Nghiên cứu đặt ra hai mục tiêu: (1) So sánh một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng giữa hai nhóm có và không có gãy xương đốt sống ở phụ nữ mãn kinh mắc đái tháo đường típ 2; (2) Xác định các yếu tố nguy cơ của gãy xương đốt sống ở phụ nữ mãn kinh mắc đái tháo đường típ 2. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2024 trên các phụ nữ mãn kinh mắc đái tháo đường típ 2 đang điều trị tại Khoa Nội tiết và Khoa Cơ xương khớp, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng được thu thập để so sánh giữa hai nhóm có và không có gãy xương đốt sống, đồng thời xác định các yếu tố nguy cơ liên quan. Gãy xương đốt sống được chẩn đoán dựa trên X-quang cột sống ngực – thắt lưng ở hai tư thế thẳng và nghiêng. Kết quả: Trong tổng số 128 phụ nữ tham gia, 29 trường hợp được xác định có gãy xương đốt sống trên phim X-quang. Nhóm có gãy xương có tuổi, thời gian mãn kinh và thời gian mắc đái tháo đường cao hơn, cùng tỷ lệ biến chứng võng mạc mắt cao hơn đáng kể so với nhóm không gãy (p < 0,05). Chỉ số T tại cổ xương đùi ở nhóm gãy cũng thấp hơn rõ rệt (p < 0,05). Phân tích hồi quy logistic cho thấy biến chứng võng mạc làm tăng nguy cơ gãy xương đốt sống gấp 6,4 lần (KTC 95%: 2,29–17,91; p < 0,001), và cứ mỗi 5 năm mắc đái tháo đường, nguy cơ tăng thêm 1,53 lần (KTC 95%: 1,05–2,23; p = 0,025). Mật độ xương tại cổ xương đùi và CSTL không liên quan có ý nghĩa thống kê với gãy xương đốt sống. Kết luận: Phụ nữ mãn kinh mắc đái tháo đường típ 2 thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ cao bị gãy xương đốt sống. Vì vậy, việc xây dựng các chiến lược tầm soát và can thiệp kịp thời là vô cùng cần thiết đối với nhóm bệnh nhân này, đặc biệt là những người có kèm theo biến chứng võng mạc và thời gian mắc đái tháo đường kéo dài.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Alexandru D, So W. Evaluation and management of vertebral compression fractures. Perm J. 2012;16(4):46-51.
2. Fajardo RJ. Is Diabetic Skeletal Fragility Associated with Microvascular Complications in Bone? Curr Osteoporos Rep. 2017;15(1):1-8.
3. Fan Y, Wei F, Lang Y, et al. Diabetes mellitus and risk of hip fractures: a meta-analysis. Osteoporos Int. 2016;27(1):219-28.
4. Genant HK, Wu CY, van Kuijk C, et al. Vertebral fracture assessment using a semiquantitative technique. J Bone Miner Res. 1993; 8(9):1137-48.
5. Hygum K, Starup-Linde J, Harslof T, et al. Mechanisms in endocrinology: Diabetes mellitus, a state of low bone turnover—a systematic review and meta-analysis. Eur J Endocrinol. 2017;176(3):R137-R157.
6. Ivers RQ, Cumming RG, Mitchell P, et al. Diabetes and risk of fracture: The Blue Mountains Eye Study. Diabetes Care. 2001;24(7):1198-203.
7. Janghorbani M, Van Dam RM, Willett WC, et al. Systematic review of type 1 and type 2 diabetes mellitus and risk of fracture. Am J Epidemiol. 1 2007;166(5):495-505.
8. Koromani F, Oei L, Shevroja E, et al. Vertebral Fractures in Individuals With Type 2 Diabetes: More Than Skeletal Complications Alone. Diabetes Care. 2020;43(1):137-144.
9. Melton LJ, 3rd, Leibson CL, Achenbach SJ, et al. Fracture risk in type 2 diabetes: update of a population-based study. J Bone Miner Res. 2008;23(8):1334-42.
10. Moghtaderi A, Bakhshipour A, Rashidi H. Validation of Michigan neuropathy screening instrument for diabetic peripheral neuropathy. Clin Neurol Neurosurg. Jul 2006;108(5):477-81.