ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NHIỄM CYTOMEGALOVIRUS Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Nhiễm cytomegalovirus (CMV) ở trẻ sơ sinh có thể dẫn đến các di chứng nghiêm trọng, đặc biệt là ảnh hưởng đến thính lực và sự phát triển thần kinh. Trong một số trường hợp, nhiễm CMV có thể gây suy hô hấp nặng, giảm tiểu cầu nặng và tổn thương gan không đáp ứng với điều trị thông thường, làm tăng nguy cơ tử vong hoặc các biến chứng lâu dài. Hiểu biết các đặc điểm của nhiễm CMV ở trẻ sơ sinh đóng vai trò quan trọng trong thực hành lâm sàng. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ phần trăm các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, và kết quả điều trị nhiễm CMV ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, đặc biệt là đối với nhóm nhiễm CMV mức độ trung bình đến nặng. Phương pháp: Mô tả loạt ca từ 01/01/2022 đến 31/03/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, với việc sử dụng CMV DNA trong nước tiểu để xác định chẩn đoán và chỉ định điều trị cho nhóm trẻ sơ sinh nhiễm CMV có mức độ từ trung bình đến nặng. Kết quả: Có 42 trường hợp nhiễm CMV ở trẻ sơ sinh trong thời gian nghiên cứu. Tuổi thai có trung vị 30,0 tuần (27,0 – 33,0 tuần), cân nặng lúc sinh có trung vị 1165,0g (1000,0 – 1800,0 g), tỷ lệ trẻ sinh non là 85,7%. Triệu chứng lâm sàng chính là vàng da (45,2%), bất thường thính lực (40,5%), gan to (26,2%), và tật đầu nhỏ (23,8%). Bất thường cận lâm sàng chính là giảm tiểu cầu (69,0%), tăng men gan (57,1%), tăng bilirubin trực tiếp (47,6%) và giảm neutrophil (28,6%). Trong đó tỷ lệ suy hô hấp nặng phải thở máy chiếm 31%, giảm tiểu cầu nặng (dưới 50x109/L) ghi nhận ở 33,3% trường hợp. Giá trị trung vị của tải lượng CMV DNA trong nước tiểu là 3,5×10⁵ bản sao/ml (6,9×10⁴ – 2,0×10⁶). Tỷ lệ trẻ được điều trị bằng thuốc kháng virus là 85,7%, với thời gian điều trị trung vị là 42,0 ngày; trong đó, 36,1% trẻ gặp biến chứng liên quan thuốc kháng virus. Tỷ lệ tử vong là 14,3%, phản ánh mức độ nghiêm trọng của bệnh. Kết luận: Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng CMV DNA trong nước tiểu để xác định chẩn đoán và chỉ điều trị cho nhóm nhiễm CMV ở trẻ sơ sinh với mức độ bệnh từ trung bình đến nặng, giúp tối ưu hóa việc quản lý và theo dõi các trẻ nguy cơ biến chứng cao, bao gồm suy hô hấp, giảm tiểu cầu nặng, giảm thính lực, tổn thương gan không đáp ứng điều trị thông thường.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
nhiễm cytomegalovirus (CMV), trẻ sơ sinh
Tài liệu tham khảo
2. Harrison GJ. Cytomegalovirus. In: Cherry JD, Harrison GJ, Kaplan SL, Steinbach WJ, Hotez PJ, eds. Feigin and Cherry’s Textbook of Pediatric Infectious Diseases. Eighth edition ed. Elsevier; 2019:1429-1450:chap 159.
3. Hồ Quang Minh Phúc. Đặc điểm trẻ nhiễm nhiễm Cytomegalovirus tại Khoa Hồi sức sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng 1. 2019.
4. Leung J, Grosse SD, Yockey B, Lanzieri TM. Ganciclovir and Valganciclovir Use Among Infants With Congenital Cytomegalovirus: Data From a Multicenter Electronic Health Record Dataset in the United States. J Pediatric Infect Dis Soc. 2022;11(8):379-382.
5. Nguyễn Thị Quỳnh Nga, Cao Thị Mai Lê. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhiễm Cytomegalovirus bẩm sinh tại Trung tâm sơ sinh Bệnh viện Nhi Trung Ương. Đại học Y Hà Nội. 2021.
6. Ssentongo P, Hehnly C, Birungi P, et al. Congenital Cytomegalovirus Infection Burden and Epidemiologic Risk Factors in Countries With Universal Screening: A Systematic Review and Meta-analysis. JAMA Netw Open. Aug 2 2021;4(8):e2120736.
7. Yamaguchi A, Oh-Ishi T, Arai T, et al. Screening for seemingly healthy newborns with congenital cytomegalovirus infection by quantitative real-time polymerase chain reaction using newborn urine: an observational study. BMJ Open. Jan 20 2017;7(1):e013810