KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ MÀY ĐAY MẠN TÍNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẤY CHỈ TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU HÀ NỘI

Nguyễn Minh Phương1,, Nguyễn Đức Chiến1, Nguyễn Phương Trang1
1 Bệnh viện Da liễu Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị mày đay mạn tính bằng phương pháp cấy chỉ tại bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2024 và chất lượng cuộc sống của người bệnh trước và sau cấy chỉ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng được thực hiện trên 33 người bệnh mày đay mạn tính tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội năm 2024. Các huyệt cấy chỉ gồm Khúc trì, Huyết hải, Túc tam lý, Nội quan, Ôn lưu, Hợp cốc, Tam âm giao, Phi dương, Can du, Phong trì. Thủ thuật cấy chỉ 4 lần (mỗi lần cách nhau 2 tuần); theo dõi đánh giá triệu chứng lâm sàng (ngứa, số lượng sẩn phù, kích thước, tần suất, thời gian tồn tại thương tổn), mức độ nặng (TSS), hoạt động mày đay (UAS7), chất lượng cuộc sống (CU-Q2oL), mức độ hài lòng, tai biến và tái phát. Kết quả: Sau 4 và 8 tuần điều trị, các chỉ số triệu chứng đều giảm rõ rệt (p<0,001 so với trước điều trị), TSS giảm từ 9,97±0,17 xuống 3,0±0,03 (p<0,001), điểm UAS7 giảm từ 17,76±9,83 xuống 1,45±2,00 (p<0,001), điểm CU-Q2oL giảm từ 40,10±6,40 xuống 5,42±8,76 (p<0,001). Tỷ lệ người bệnh mức độ nhẹ tăng từ 0% lên 75,8%, không còn trường hợp nặng. Sau 8 tuần điều trị, có 87,9% người bệnh hài lòng – rất hài lòng. Tai biến chủ yếu là phù nề, sưng đau tại vị trí cấy chỉ (51,5%). Tái phát xảy ra ở 7,7% sau 4 tuần và 20% sau 8 tuần dừng điều trị. Kết luận: Phương pháp cấy chỉ an toàn, có hiệu quả cải thiện rõ rệt triệu chứng và chất lượng cuộc sống cho người bệnh mày đay mạn tính. Kết hợp cấy chỉ trong phác đồ điều trị mày đay mạn tính là hướng tiếp cận tốt để đạt mục tiêu giảm triệu chứng và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Zuberbier T, Balke M, Worm M, Edenharter G, Maurer M. Epidemiology of urticaria: a representative cross-sectional population survey. Clin Exp Dermatol. 2010;35(8):869-873.
2. Nguyễn Năng An. Mày đay và phù Quincke. In: Bách khoa thư bệnh học. tập 3. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa; 2000:266-269.
3. Chow SKW, Wong CKH, Leung P, et al. Management of chronic urticaria in Asia: 2010 AADV consensus guidelines. Asia Pac Allergy. 2012;2(2):149-160.
4. Bộ Y tế – Vụ Y học Cổ truyền. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh theo y học cổ truyền. Bộ Y tế; 2017:135.
5. Bộ Y tế. Quyết định số 5480/QĐ-BYT ngày 30/12/2020 ban hành Tài liệu chuyên môn Hướng dẫn Quy trình kỹ thuật chuyên ngành Y học cổ truyền. Bộ Y tế; 2020:93-95.
6. Kaplan AP. Clinical practice: Chronic urticaria and angioedema, The New England journal of medicine, 2002;346(3):175-179
7. Zuberbier T, Aberer W, Asero R, et al. The EAACI/GA(2)LEN/EDF/WAO guideline for the difinition, classification, diagnosis and managenment of urticaria. Allergy. 2018;73(7):1393-1414.
8. Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Bùi Phương Linh, Nguyễn Thị Hải Yến, Nguyễn Thanh Hà. Hiệu quả điều trị mày đay mạn tính bằng desloratadin kết hợp montelukast. Tạp chí dược lâm sàng 108. 2024;19(1):82-89.
9. Nguyễn Thị Hồng Ngọc. Nồng độ Vitamin D huyết thanh trên bệnh nhân mề đay mạn tính đến khám tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh. [Luận văn thạc sĩ Y học]. Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh; 2016.