ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU ĐỘNG MẠCH MẶT TRÊN HÌNH ẢNH CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH MẠCH MÁU VÙNG HÀM MẶT
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Việc hiểu rõ đặc điểm giải phẫu về động mạch mặt có ý nghĩa quyết định đối với tính an toàn và hiệu quả của các thủ thuật, phẫu thuật vùng mặt như tiêm chất làm đầy, tạo hình - tái tạo vạt, hay các phẫu thuật hàm mặt phức tạp. Do đó, đề tài được thực hiện nhằm nghiên cứu đặc điểm động mạch mặt ở người Việt Nam, góp phần nâng cao độ chính xác và an toàn trong thực hành lâm sàng. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả: Nghiên cứu thực hiện trên 35 bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính mạch máu vùng hàm mặt tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 12/2024 đến tháng 06/2025. Trong đó, động mạch mặt xuất phát độc lập từ động mạch cảnh ngoài chiếm 80%, từ thân chung lưỡi - mặt chiếm 20%. Đường kính trung bình tại nguyên uỷ và tại bờ dưới xương hàm dưới lần lượt là 2,82 ± 0,38 mm và 1,99 ± 0,34 mm. Đường kính trung bình ở nam lớn hơn nữ có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Động mạch mặt cho từ 1-5 nhánh bên ở vùng mặt, thường gặp nhất là động mạch môi dưới (91,43%) và động mạch môi trên (74,29%). Động mạch góc có tỉ lệ ít nhất (14,28%), trong đó, dạng động mạch góc biến thể có nhánh bên trội chiếm 2,86%. Có 5 dạng phân nhánh tận, trong đó dạng I (41,42%) và dạng II (42,86%) là hai dạng phổ biến. Ghi nhận 1 trường hợp động mạch mặt dạng thiểu sản - dạng V (1,43%). Liên quan giữa động mạch mặt và rãnh mũi - má ghi nhận được có cả 4 vị trí, trong đó động mạch mặt đi phía trong rãnh mũi má chiếm tỉ lệ cao nhất (64,29%). Khoảng cách trung bình từ động mạch mặt đến góc hàm cùng bên là 25,6 ± 5 mm, khác biệt giữa nam và nữ (p<0,05). Kết luận: Động mạch mặt biến thiên đa dạng về nguyên uỷ, phân nhánh, đường đi và dạng kết thúc. Do đó, việc ứng dụng các phương tiện hình ảnh học hiện đại như chụp cắt lớp vi tính mạch máu trong nghiên cứu lâm sàng không chỉ dừng lại ở việc mô tả đặc điểm giải phẫu, mà còn mở rộng thành công cụ hỗ trợ thiết thực cho phẫu thuật và điều trị.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
động mạch mặt, cắt lớp vi tính mạch máu, giải phẫu mạch máu, biến thể giải phẫu, mô tả cắt ngang
Tài liệu tham khảo
2. Wang D, Xiong S, Zeng N, Wu Y. Facial arterial variations in Asians: a study on computed tomographic angiography. Aesthetic Surgery Journal. 2022;42(5):527–34. doi: 10.1093/asj/ sjab380.
3. Delić J, Savković A, Bajtarević A, Isaković E. Variations of ramification of external carotid artery–common trunks of collateral branches. Periodicum biologorum. 2010;112(1):117–9
4. Cái Hữu Ngọc Thảo Trang. Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu động mạch mặt trên người Việt Nam [Luận án]. [Thành phố Hồ Chí Minh]: Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh; 2024. 164 p.
5. Hong SJ, Park SE, Jo JW, Jeong DS, Choi DS, Won JH, et al. Variant facial artery anatomy revisited: conventional angiography performed in 284 cases. Medicine. 2020;99(28):e21048. doi: 10.1097/MD.0000000000021048.
6. Furukawa M, Mathes DW, Anzai Y. Evaluation of the facial artery on computed tomographic angiography using 64-slice multidetector computed tomography: implications for facial reconstruction in plastic surgery. Plastic and reconstructive surgery. 2013;131(3):526–35. doi: 10.1097/PRS.0b013e3-1827c6f18.
7. Koziej M, Trybus M, Hołda M, Polak J, Wnuk J, Brzegowy P, et al. Anatomical map of the facial artery for facial reconstruction and aesthetic procedures. Aesthetic Surgery Journal. 2019;39(11):1151–62. doi: 10.1093/asj/sjz028
8. Koziej M, Bonczar M, Ostrowski P, Piątek‐Koziej K, Bonczar T, Pasternak A, et al. Termination points of the facial artery—A meta‐analysis. Clinical Anatomy. 2022;35(4):469–76. doi: 10.1002/ca.23817
9. Koh KS, Kim H, Oh C, Chung I. Branching patterns and symmetry of the course of the facial artery in Koreans. International journal of oral and maxillofacial surgery. 2003;32(4):414–8. doi: 10.1054/ijom.2002.0372