THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ VIÊM MÀNG NÃO DO ENTEROVIRUS Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG (2024–2025)

Bùi Thị Hương1, Nguyễn Văn Lâm2,3, Đào Hữu Nam2,3,, Trần Minh Điển2,3
1 Bệnh viện Đa khoa Hải Hậu
2 Bệnh viện Nhi Trung ương
3 Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Viêm màng não do Enterovirus (VMN-EV) là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm màng não virus ở trẻ em, thường khó phân biệt với viêm màng não do vi khuẩn tại thời điểm nhập viện, dẫn đến sử dụng kháng sinh không cần thiết. Nghiên cứu này nhằm:Mô tả thực trạng chẩn đoán, điều trị và đề xuất một số biện pháp cải thiện điều trị viêm màng não do EV tại bệnh viện Nhi Trung ương năm 2024-2025. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả kết hợp hồi cứu (1/2024–4/2025) và tiến cứu (5–10/2025) trên trẻ từ 1 tháng đến 18 tuổi, chẩn đoán xác định VMN-EV bằng PCR dịch não tủy (DNT). Kết quả: 500 bệnh nhi được đưa vào nghiên cứu, tuổi trung bình 4,6 ± 1,2; nhóm 2–6 tuổi (43,4%). Nam(57,4%). Triệu chứng thường gặp: đau đầu (71,6%), sốt (66,0%), nôn (42,8%). Chỉ 27,4% bệnh nhân được chọc DNT tại tuyến dưới, trong đó 48,9% được làm PCR, 57,5% bệnh nhân dùng kháng sinh, chủ yếu ở nhóm không chọc DNT (75,8% so với 8,8%, p=0,02). Tuổi <6 tháng, sốt cao, DNT >100 bạch cầu/mm³ và CRP >10 mg/L liên quan đến tăng nguy cơ dùng kháng sinh, trong khi PCR <24h giúp giảm tỷ lệ này.Tỷ lệ khỏi hoàn toàn (99,6%), không khác biệt giữa nhóm dùng và không dùng kháng sinh. Kết luận: VMN-EV ở trẻ em có triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu.Tỷ lệ chọc DNT và làm PCR tại tuyến dưới còn thấp, góp phần làm tăng lạm dụng kháng sinh. Chọc DNT sớm và làm PCR DNT có vai trò quan trọng trong chẩn đoán, quản lý kháng sinh hợp lý và tối ưu hóa điều trị.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Cantu R.M. and Das J.M. (2025). Viral Meningitis. StatPearls. StatPearls Publishing, Treasure Island (FL).
2. Parasuraman T, Frenia K, and Romero J (2001). Enteroviral meningitis Pharmacoeconomics. 19, 3–12.
3. Allos H. and Hasbun R. (2025). Aseptic meningitis: a foundation review. Curr Opin Infect Dis.
4. Nguyễn Thị Hồng, Trần Thị Mai Hương, and Nguyễn Văn Lâm (2019). Giá trị của xét nghiệm PCR trong chẩn đoán viêm màng não do Enterovirus ở trẻ em. Tạp chí Y học Việt Nam, 486, 45–52.
5. Kim KS, Kim KH, and Kim DS, et al (2012). Enteroviral meningitis in children: the role of cerebrospinal fluid PCR in reducing unnecessary antibiotic use. J Korean Med Sci, 27, 1352–1356.
6. Abzug M.J. (2004). Presentation, diagnosis, and management of Enterovirus infections in neonates. Paediatr Drugs, 6(1), 1–10.
7. Sáez-Llorens X. and McCracken G.H.J. (2003). Bacterial meningitis in children. Lancet Lond Engl, 361(9375), 2139–2148.
8. Tattevin P, Minjolle S, Arvieux C, et al. (2002). Usefulness of PCR testing in the diagnosis of viral meningitis: a 2-year prospective study. Clin Infect Dis, 34, 641–645.
9. Nguyen TK and Tran TH, et al (2019). Clinical characteristics and outcomes of enteroviral meningitis in Vietnamese children. J Infect Dev Ctries, 13, :617-624.
10. Simon L., Gauvin F., Amre D.K., et al. (2004). Serum procalcitonin and C-reactive protein levels as markers of bacterial infection: a systematic review and meta-analysis. Clin Infect Dis Off Publ Infect Dis Soc Am, 39(2), 206–217.