ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ TẠO PHÔI BẰNG PHÁC ĐỒ KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG BẮT ĐẦU NGẪU NHIÊN SỬ DỤNG PROGESTIN Ở NGƯỜI BỆNH VÔ SINH NỮ CÓ DỰ TRỮ BUỒNG TRỨNG BÌNH THƯỜNG

Trịnh Thế Sơn1,, Nguyễn Ngọc Nhất1
1 Học viện Quân y

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, dự trữ buồng trứng của người bệnh vô sinh nữ tham gia nghiên cứu và đáp ứng với phác đồ kích thích buồng trứng bắt đầu ngẫu nhiên sử dụng progestin (Random-start PPOS) trong điều trị thụ tinh ống nghiệm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu tại Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội – Học viện Quân y và Bệnh viện nam học và hiếm muộn Việt Bỉ từ tháng 01/2024 - 6/2025. Tiêu chuẩn lựa chọn: cặp vợ chồng vô sinh điều trị thụ tinh trong ống nghiệm; trữ phôi toàn bộ; dự trữ buồng trứng bình thường. Định lượng nồng độ AMH huyết thanh, số nang trứng thứ cấp AFC, nồng độ nội tiết tố ngày bắt đầu kích thích buồng trứng (FSH, LH, estradiol, progesterone, βhCG). Kích thi phác đồ kích thích buồng trứng Random start – PPOS: gonadotropin ngoại sinh và progestin được sử dụng vào thời điểm bất kỳ của chu kỳ kinh, gây trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận, tiêm tinh trùng vào bào tương noãn, nuôi phôi giai đoạn phôi nang và đánh giá chất lượng phôi. Kết quả: tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 33,46 ± 5,76 năm với AMH huyết thanh trung bình là 3,89 ± 2,35 ng/mL và AFC trung bình 12,50 ± 4,33 nang. Phác đồ đã thu được trung bình 7,60 ± 5,73 noãn trưởng thành (MII), 5,68 ± 4,59 noãn thụ tinh và 3,64 ± 3,06 phôi nang. Kết luận: Phác đồ Random-start PPOS là cho thấy sự hiệu quả và an toàn cho phụ nữ vô sinh có dự trữ buồng trứng bình thường. Phác đồ này không chỉ mang lại kết quả thu nhận noãn và phôi tương đương với các phác đồ phổ biến hiện nay.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Venetis C.A., Storr A., Chua S.J. và cộng sự. (2023). What is the optimal GnRH antagonist protocol for ovarian stimulation during ART treatment? A systematic review and network meta-analysis. Hum Reprod Update, 29(3), 307–326.
2. Kadoura S., Alhalabi M., và Nattouf A.H. (2022). Conventional GnRH antagonist protocols versus long GnRH agonist protocol in IVF/ICSI cycles of polycystic ovary syndrome women: a systematic review and meta-analysis. Sci Rep, 12(1), 4456.
3. Pereira N., Voskuilen-Gonzalez A., Hancock K. và cộng sự. (2017). Random-start ovarian stimulation in women desiring elective cryopreservation of oocytes. Reprod Biomed Online, 35(4), 400–406.
4. Wang Y., Chen Q., Wang N. và cộng sự. (2016). Controlled Ovarian Stimulation Using Medroxyprogesterone Acetate and hMG in Patients With Polycystic Ovary Syndrome Treated for IVF: A Double-Blind Randomized Crossover Clinical Trial. Medicine (Baltimore), 95(9), e2939.
5. Ye H., Shi L., Quan X. và cộng sự. (2024). Cumulative live birth rate of in vitro fertilization cycle via progestin-primed ovarian stimulation versus gonadotropin-releasing hormone antagonist protocol in infertile women with normal ovarian reserve: an open-label, randomized controlled trial. Hum Fertil Camb Engl, 27(1), 2316005.
6. Huang H., Itaya Y., Samejima K. và cộng sự. (2022). Usefulness of random-start progestin-primed ovarian stimulation for fertility preservation. J Ovarian Res, 15.
7. Zhou R., Dong M., Huang L. và cộng sự. (2023). Comparison of cumulative live birth rates between progestin-primed ovarian stimulation protocol and gonadotropin-releasing hormone antagonist protocol in different populations. Front Endocrinol, 14, 1117513.
8. Xu S., Wang X., Zhang Y. và cộng sự. (2023). Comparison the effects of progestin-primed ovarian stimulation (PPOS) protocol and GnRH-a long protocol in patients with normal ovarian reserve function. Gynecol Endocrinol Off J Int Soc Gynecol Endocrinol, 39(1), 2217263.