ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ LÂU DÀI PHẪU THUẬT NỘI SOI HỖ TRỢ SAU PHÚC MẠC 1 TROCAR ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ HẸP KHÚC NỐI BỀ THẬN NIỆU QUẢN Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI

Nguyễn Thị Mai Thủy1,2,, Nguyễn Phương Thảo3
1 Bệnh viện Nhi Trung ương
2 Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội
3 Trường Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả lâu dài phẫu thuật nội soi hỗ trợ sau phúc mạc 1 trocar điều trị bệnh lý hẹp khúc nối bể thận niệ*u quản ở trẻ dưới 5 tuổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 70 bệnh nhân dưới 5 tuổi được chẩn đoán hẹp phần nối niệu quản bể thận và được phẫu thuật tạo hình khúc bằng phẫu thuật nội soi hỗ trợ sau phúc mạc 1 trocar từ 1/2011 đến tháng 6/2013 tại khoa Ngoại tiết niệu Bệnh viện Nhi trung ương.  Các thông số trước mổ về tuổi, giới, biểu hiện lâm sàng, đường kính trước sau của bể thận và chức năng thận trên xạ hình thận đều được ghi lại. Đánh giá kết quả sớm sau mổ 6 tháng. Kết quả điều trị lâu dài được đánh giá sau mổ trung bình 65tháng (36 tháng - 120 tháng). Kết quả: 70 trường hợp bệnh nhi dưới 5 tuổi được phẫu thuật trong đó có 65 trẻ nam (92,86%), 5 trẻ nữ (7,14%); tuổi từ 1 tháng đến 5 tuổi (tuổi trung bình là 22,9 ±18,6 tháng). Kích thước bể thận trung bình trước mổ là 34,3±8,1mm (từ 25mm đến 50mm). Có 68/70 (97,2%) bệnh nhân được mổ nội soi hoàn. 2/70 (2,8%) bệnh nhân phải mổ mở do thủng phúc mạc. Thời gian mổ trung bình là 74,8±15,2 phút (45-100 phút). Thời gian nằm viện trung bình 3,7±2,6 ngày. Có 51/68 (75%) bệnh nhân được phẫu thuật nội soi có theo dõi được sau 6 tháng; 17/68 (25%) bệnh nhân mất liên lạc. Kích thước bể thận trung bình sau mổ là 14,3±5,1mm. 45/51 (88,3%) bệnh nhân có kích thước bể thận dưới 15mm, 4/51(7,8%), bệnh nhân có kích thước bể thận dưới 25mm và 2/51 (3,9%) bệnh nhãn phái mổ lại do hẹp miệng nối. Kết quả lâu dài với thời gian theo dõi trung bình 65 tháng (36-120 tháng) ở 30/51 bệnh nhân với kết quả tốt ở 28/30 bệnh nhân, mổ lại do hẹp miệng nối 2/30 bệnh nhân. Kết luận: Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc một lỗ trocar là một phương pháp điều trị hiệu quả, phù hợp với trẻ dưới 5 tuổi.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Wickramasekara N, Ignatius J, Lamahewage A. Sonographic follow-up after pyeloplasty: a large, retrospective cohort analysis. Pediatr Surg Int. 2023;39(1):132.
2. Ji F, Chen L, Wu C, Li J, Hang Y, Yan B. Meta-Analysis of the Efficacy of Laparoscopic Pyeloplasty for Ureteropelvic Junction Obstruction via Retroperitoneal and Transperitoneal Approaches. Front Pediatr. 2021;9:707266.
3. Piepsz A. Antenatal detection of pelviureteric junction stenosis: main controversies. Semin Nucl Med. 2011;41(1):11-9.
4. Huang Y, Wu Y, Shan W, Zeng L, Huang L. An updated meta-analysis of laparoscopic versus open pyeloplasty for ureteropelvic junction obstruction in children. Int J Clin Exp Med. 2015;8(4):4922-31.
5. Mei H, Pu J, Yang C, Zhang H, Zheng L, Tong Q. Laparoscopic versus open pyeloplasty for ureteropelvic junction obstruction in children: a systematic review and meta-analysis. J Endourol. 2011;25(5):727-36.
6. Song C, Park H, Park S, Moon KH, Kim KS. The change in renal function in the supranormal hydronephrotic kidney after pyeloplasty. BJU Int. 2007;99(6):1483-6.
7. Caione P, Lais A, Nappo SG. One-port retroperitoneoscopic assisted pyeloplasty versus open dismembered pyeloplasty in young children: preliminary experience. J Urol. 2010;184(5):2109-15.
8. Lima M, Tursini S, Ruggeri G, Gargano T, Libri M, Domini M. One trocar assisted pyeloplasty (OTAP): initial experience and codification of a technique. Pediatr Med Chir. 2007;29(2):108-11.
9. Bansal R, Ansari MS, Srivastava A, Kapoor R. Long-term results of pyeloplasty in poorly functioning kidneys in the pediatric age group. J Pediatr Urol. 2012;8(1):25-8.
10. Chertin B, Pollack A, Koulikov D, Rabinowitz R, Shen O, Hain D, et al. Does renal function remain stable after puberty in children with prenatal hydronephrosis and improved renal function after pyeloplasty? J Urol. 2009;182(4 Suppl):1845-8.