ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN HẸP KHÍ QUẢN SAU ĐẶT ỐNG NỘI KHÍ QUẢN, MỞ KHÍ QUẢN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG NỘI SOI CAN THIỆP TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG NĂM 2020 – 2024
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân (BN) hẹp khí quản sau đặt ống nội khí quản (PITS) và mở khí quản (PTTS) tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2020 – 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 92 BN được chẩn đoán PITS/PTTS được điều trị bằng nội soi can thiệp (NSCT) tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 1/2020 đến hết tháng 12/2024. Kết quả nghiên cứu: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 54, nhóm > 60 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (41,3%). Nam giới chiếm đa số (70,7%). Nguyên nhân can thiệp đường thở có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm, PITS – hô hấp (35,7%), PTTS – thần kinh (40%) với p=0,001. Thời gian đặt ống nội khí quản (NKQ) và mở khí quản (MKQ) trung bình là 14,3 ngày và 184,3 ngày, p = 0,000. Triệu chứng thường gặp nhất là khó thở (100%), thở rít (66,3%), ho (41,3%). Vị trí hẹp thường gặp nhất là 1/3 trên khí quản (77,2%), có 6 ca hẹp nhiều đoạn (6,5%). Chiều dài đoạn hẹp trung bình 16,3mm. Hình thái tổn thương có sự khác biệt giữa hai nhóm (p=0,012) với PITS là tổn thương co kéo (69%), PTTS là tổn thương u sùi trong lòng khí quản chiếm đa số (52%). Mức độ hẹp theo phân loại Freitag: hẹp độ 0-2 (8,7%), hẹp độ 3-4 (29,3%), hẹp độ 5 (62%); theo phân loại Cotton – Myer: hẹp độ I-II (34,8%), hẹp độ III-IV (65,2%). Kết luận: PITS và PTTS là một bệnh lý hẹp khí quản mắc phải cần được quan tâm. Chẩn đoán bệnh là một thách thức khi các triệu chứng lâm sàng giống các bệnh lý tắc nghẽn đường thở khác. Sử dụng nội soi phế quản và chụp cắt lớp vi tính ngực dựng hình khí phế quản giúp chẩn đoán, đánh giá tổn thương, đưa ra phương án điều trị phù hợp. Có nhiều phương pháp điều trị, trong đó NSCT là phương pháp lí tưởng khi BN không thể phẫu thuật ngoại khoa.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
hẹp khí quản, nội soi can thiệp, mở khí quản, đặt ống nội khí quản
Tài liệu tham khảo
2. Freitag L, Ernst A, Unger M, Kovitz K, Marquette CH. A proposed classification system of central airway stenosis. Eur Respir J.2007;30(1):7-12.
3. García-Martínez L, Laín Fernández A, Iglesias-Serrano I, Giné Prades C, Soriano-Arandes A, López M. Endobronchial tuberculosis in children: Defining the role of interventional bronchoscopy. Pediatr Pulmonol. 2022;57(11): 2688-2695.
4. Küçük O, Aydemir S, Zengіn M, Alagöz A. Long-term results of intensive care patients with post-intubation tracheal stenosis: 7 years follow-up. BMC Pulm Med. 2024;24(1):561.
5. Liu XF, Nan FY, Li L, et al. Comparison of the difference between post-intubation tracheal stenosis and post-tracheostomy tracheal stenosis: a cross-sectional study. J Thorac Dis. 2025;0(0).
6. Myer CM, O’Connor DM, Cotton RT. Proposed Grading System for Subglottic Stenosis Based on Endotracheal Tube Sizes. Ann Otol Rhinol Laryngol. 1994;103(4):319-323.
7. Sezer HF, Eliçora A. How long should it be insisted on rigid bronchoscopy in the treatment of postintubation tracheal stenosis in accordance with different stenosis classification systems? Turk J Thorac Cardiovasc Surg. 2022;30(3):410-420.
8. Wynn R, Har-El G, Lim JW. Tracheal Resection with End-to-End Anastomosis for Benign Tracheal Stenosis. Ann Otol Rhinol Laryngol. 2004;113(8): 613-617.