KHẢO SÁT TỶ LỆ BỆNH LÝ VỀ CƠ XƯƠNG KHỚP VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN CƠ XƯƠNG KHỚP ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2025

Nguyễn Lưu Phú Quí1, Lê Minh Hoàng1,, Hồ Tấn Dũng1, Hồ Phương Anh1, Châu Khắc Kiệt1, Phạm Thị Ngọc Luận1
1 Trường Đại học Y dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Bệnh lý về cơ xương khớp là một trong những bệnh lý phổ biến nhất đến khám và điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Cần Thơ. Đây cũng là nguyên nhân hàng đầu làm giảm hoặc mất khả năng lao động và hiệu quả công việc ở người trưởng thành, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ các bệnh cơ xương khớp và mô tả một số đặc điểm bệnh nhân có bệnh lý cơ xương khớp nội trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Cần Thơ năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 182 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân nội trú có chẩn đoán thuộc chương XIII (ICD-10 M00-M99) từ 01/03 đến 30/12/2025 tại Bệnh viện YHCT TP. Cần Thơ năm 2025. Kết quả: Bệnh Thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng chiếm tỷ lệ cao nhất (54,39%), tiếp theo là bệnh thoái hóa đĩa đệm đốt sống thắt đứng thứ hai (31,86). Một số đặc điểm của  bệnh lý cơ xương khớp bao gồm: bệnh nhân chủ yếu từ 60 tuổi trở lên (44,4%), đa phần là nữ, đến từ nông thôn; hoàn cảnh khởi phát thường là sau lao động nhẹ hoặc không rõ nguyên nhân; đa số nhập viện với mức đau nặng (VAS trung bình 7,97), giảm còn 5,37 sau điều trị; thời gian nằm viện trung bình là 16 ± 6,1 ngày, có mối tương quan yếu giữa thời gian điều trị và mức độ giảm đau (r = -0,2552; p < 0,001); hội chứng chèn ép rễ liên quan có ý nghĩa thống kê với chẩn đoán bệnh và nhu cầu đo mật độ xương (p < 0,05). Kết luận: Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh Thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng có tỷ lệ điều trị cao nhất (54,39%), với hiệu quả cải thiện triệu chứng rõ rệt sau điều trị. Các kết quả này gợi ý tiềm năng ứng dụng Y học cổ truyền trong kiểm soát đau mạn tính trong các bệnh lý về cơ xương khớp

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Lê Anh Thư (2009), “Những thành tựu chính trong lĩnh vực thấp khớp học hai mươi năm đầu thế kỷ 21”, Tạp chí thời sự y học, số 09, tr.17-20.
2. Võ Tuyết Ngân, Lê Minh Hoàng, Nguyễn Ngọc Chi Lan, Trần Chúc Linh (2024), Tổng quan tình hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền Cần Thơ năm 2022-2023”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 534(1).
3. Nguyễn Ngọc Tiến, Trần Thị Minh Tâm, Lưu Minh Châu (2021), “Đánh giá nhu cầu sử dụng y học cổ truyền điều trị bệnh lý cơ xương khớp tại huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh năm 2019”, Tạp chí Y Dược cổ truyền Việt Nam, 34(1), tr.30-34.
4. Trương Mai Vĩnh Thoại, Nguyễn Thị Kim Liên, Châu Viết Lộc, Võ Lâm Bích Ngọc (2025), “Đặc điểm thể chất theo y học cổ truyền ở bệnh nhân có bệnh lý cơ xương khớp”, Tạp Chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế, 17(4), tr.115–121.
5. Olmarker K, Blomquist J, Stromberg J, Nannmark U, Thomsen P, Rydevik B (1995), “Inflammatogenic properties of nucleus pulposus”, Spine (Phila Pa 1976), 20(6), pp.665-9.
6. Jun Jie Niu, Min Jie Shen, Bin Meng, Yan Yang, Hui Lin Yang (2014), “Percutaneous kyphoplasty for the treatment of osteoporotic thoracolumbar fractures with neurological deficit: radicular pain can mimic disc herniation”, Int J Clin Exp Med, 7(8), pp.2360-4.