KẾT CỤC VÀ ĐIỆN THẾ NỀN QUA ĐIỆN NÃO ĐỒ TÍCH HỢP BIÊN ĐỘ (AEEG) Ở TRẺ RỐI LOẠN TRI GIÁC TẠI KHOA HỒI SỨC NHIỄM - BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

Trần Thị Thuý Hằng1, Phùng Nguyễn Thế Nguyên1,2,
1 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 Bệnh viện Nhi Đồng 1

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Rối loạn tri giác (RLTG) là vấn đề thường gặp trong các đơn vị hồi sức tích cực nhi khoa (PICU) và liên quan đến tỷ lệ tử vong cao. Điện não đồ tích hợp biên độ (aEEG) là phương pháp theo dõi đơn giản giúp phát hiện co giật dưới lâm sàng (NCS), trạng thái động kinh không co giật (NCSE) và theo dõi chức năng não liên tục tại giường. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong định hướng can thiệp điều trị và cải thiện tiên lượng trong theo dõi thần kinh tại khoa hồi sức nhi. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm aEEG và kết cục điều trị trên các trẻ rối loạn tri giác tại Khoa Hồi sức Nhiễm, Bệnh viện Nhi đồng 1. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả 40 bệnh nhi từ 1 tháng đến dưới 16 tuổi có biểu hiện rối loạn tri giác và nhập viện điều trị Khoa Hồi sức Nhiễm, Bệnh viện Nhi đồng 1 từ tháng 01/2024 đến tháng 06/2025. Dữ liệu được thu thập trong quá trình ghi aEEG với thời gian tối thiểu 48 giờ. Kết quả: Trong 40 bệnh nhi có biểu hiện rối loạn tri giác với nguyên nhân chủ yếu là viêm não, viêm màng não (75%). Kết quả aEEG có hoạt động nền bất thường chiếm 45% lúc kết thúc theo dõi và phổ biến ở nhóm kết cục bất lợi (tử vong hoặc di chứng thần kinh nặng) (p < 0,05). Trong đó, nhóm bất thường nặng (dạng LV và FT chiếm 20%). Diễn tiến hoạt động nền theo Sewell cho thấy nhóm hoạt động nền bất thường nặng kéo dài chiếm 15% và nhóm tiến triển nặng từ điện thế nền (CNV, DNV) sang (BS, LV hoặc FT) chiếm 10%. Về co giật trên aEEG có 24 trẻ so với co giật quan sát trên lâm sàng là 22 trẻ. Tỷ lệ tử vong trong nhóm nghiên cứu là 25%.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Wong CP, Forsyth RJ, Kelly TP, Eyre JA. Incidence, aetiology, and outcome of non-traumatic coma: a population based study. Arch Dis Child. 2001;84(3):193-9. doi: 10.1136/adc.84.3.193. PubMed PMID: 11207161; PubMed Central PMCID: PMC1718674.
2. Towne AR, Waterhouse EJ, Boggs JG, Garnett LK, Brown AJ, Smith JR, Jr., DeLorenzo RJ. Prevalence of nonconvulsive status epilepticus in comatose patients. Neurology. 2000;54(2):340-5. doi: 10.1212/wnl. 54.2.340. PubMed PMID: 10668693.
3. Bruns N, Sanchez-Albisua I, Weiß C, Tschiedel E, Dohna-Schwake C, Felderhoff-Müser U, Müller H. Amplitude-Integrated EEG for Neurological Assessment and Seizure Detection in a German Pediatric Intensive Care Unit.
4. Zhu L, Bai ZJ, Li Y. [Value of amplitude-integrated EEG combined with Full Outline of Unresponsiveness in evaluating the prognosis of children with disturbance of consciousness]. Zhongguo Dang Dai Er Ke Za Zhi. 2020;22(11):1183-7. doi: 10.7499/j.issn.1008-8830.2005228. PubMed PMID: 33172552; PubMed Central PMCID: PMC7666397.
5. Hứa Nguyễn Anh Thư. Diễn tiến lâm sàng, aEEG và kết cục sớm trên trẻ bệnh não thiếu máu cục bộ thiếu oxy được điều trị hạ thân nhiệt tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 [luận văn thạc sĩ y học]. Thành phố Hồ Chí Minh: Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh; 2023.
6. Hellstrom-Westas L, Rosen I. Continuous brain-function monitoring: state of the art in clinical practice. Semin Fetal Neonatal Med. 2006;11(6):503-11. doi: 10.1016/j.siny. 2006.07.011. PubMed PMID: 17067863.
7. Sewell EK, Vezina G, Chang T, Tsuchida T, Harris K, Ridore M, et al. Evolution of Amplitude-Integrated Electroencephalogram as a Predictor of Outcome in Term Encephalopathic Neonates Receiving Therapeutic Hypothermia. Am J Perinatol. 2018;35(3):277-85. Epub 20170928. doi: 10.1055/s-0037-1607212. PubMed PMID: 28958093; PubMed Central PMCID: PMC7863699.
8. Hellström-Westas L, Rosén I, Svenningsen NW. Predictive value of early continuous amplitude integrated EEG recordings on outcome after severe birth asphyxia in full term infants. Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed. 1995 Jan;72(1): F34-8. doi: 10.1136/fn.72.1.f34. PMID: 7743282; PMCID: PMC2528413.