ĐẶC ĐIỂM TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC KHÁNG VI RÚT Ở NGƯỜI BỆNH HIV/AIDS TỪ 40 TUỔI TRỞ LÊN ĐANG ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI XÃ GIỒNG RIỀNG, TỈNH AN GIANG

Nguyễn Duy Trinh1, Nguyễn Lan Thùy Ty1, Huỳnh Văn Tiền2,
1 Trường Đại học y dược Cần Thơ
2 Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm, Đại học Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Tuân thủ điều trị thuốc kháng vi rút (ARV) giữ vai trò then chốt trong việc kiểm soát tải lượng HIV, phòng ngừa kháng thuốc và cải thiện chất lượng sống của người bệnh HIV/AIDS.. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm tuân thủ điều trị thuốc kháng vi rút ở người bệnh HIV/AIDS từ 40 tuổi trở lên đang điều trị ngoại trú tại xã Giồng Riềng, tỉnh An Giang. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 100 người bệnh HIV/AIDS từ 40 tuổi trở lên đang điều trị ARV ngoại trú tại xã Giồng Riềng, tỉnh An Giang. Số liệu được thu thập bằng phiếu phỏng vấn cấu trúc, bao gồm thông tin nhân khẩu – xã hội, kiến thức về HIV/ARV, đặc điểm điều trị và đánh giá tuân thủ điều trị bằng thang đo GMAS. Kết quả: Người bệnh chủ yếu là nam giới, có trình độ học vấn và thu nhập còn hạn chế. Phần lớn người bệnh đã điều trị ARV trên 3 năm và đang sử dụng phác đồ bậc 1. Tỷ lệ người bệnh có tải lượng HIV dưới ngưỡng phát hiện đạt mức tương đối khả quan. Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV chung chưa đạt mức tối ưu, vẫn còn một bộ phận người bệnh gặp khó khăn trong quá trình điều trị kéo dài. Kết luận: Tuân thủ điều trị thuốc kháng vi rút ở người bệnh HIV/AIDS từ 40 tuổi trở lên tại xã Giồng Riềng, tỉnh An Giang chưa đạt mức tối ưu. Cần tăng cường các biện pháp hỗ trợ phù hợp nhằm nâng cao tuân thủ điều trị ARV ở nhóm người bệnh này.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Joint United Nations Programme on HIV/AIDS (UNAIDS) (2023), Global HIV & AIDS statistics – Fact sheet 2023, Geneva.
2. Bộ Y tế (2019), Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS (ban hành kèm theo Quyết định số 5456/QĐ-BYT ngày 20/11/2019), Hà Nội.
3. World Health Organization (2022), Consolidated guidelines on HIV, viral hepatitis and STI prevention, diagnosis, treatment and care, WHO, Geneva.
4. Thompson MA, Mugavero MJ, Amico KR, Cargill VA, Chang LW, Gross R và cộng sự (2012), “Guidelines for improving entry into and retention in care and antiretroviral adherence for persons with HIV”, Annals of Internal Medicine, 156(11), tr. 817–833.
5. Guaraldi G, Orlando G, Zona S, Menozzi M, Carli F, Garlassi E và cộng sự (2011), “Premature age-related comorbidities among HIV-infected persons compared with the general population”, Clinical Infectious Diseases, 53(11), tr. 1120–1126.
6. Hulley SB, Cummings SR, Browner WS, Grady DG, Newman TB (2013), Designing Clinical Research, 4th edition, Lippincott Williams & Wilkins, Philadelphia.
7. Naqvi AA, Hassali MA, Rizvi M, Zehra A, Iffat W, Haseeb A và cộng sự (2018), “Development and validation of a novel General Medication Adherence Scale (GMAS) for chronic illness patients in Pakistan”, Frontiers in Pharmacology, 9, tr. 1124.
8. Ortego C, Huedo-Medina TB, Llorca J, Sevilla L, Santos P, Rodríguez E và cộng sự (2011), “Adherence to highly active antiretroviral therapy (HAART): A meta-analysis”, AIDS and Behavior, 15(7), tr. 1381–1396.