ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG GÒ MÁ CUNG TIẾP ĐẾN MUỘN CÓ SỬ DỤNG ĐƯỜNG RẠCH CORONAL: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG

Tạ Minh Thành1,, Trương Mạnh Nguyên1, Lê Ngọc Tuyến2, Đặng Triệu Hùng1, Nguyễn Trường Minh1, Tạ Anh Tuấn1, Dương Chí Hiếu1, Hoàng Văn Minh1, Hoàng Tuấn Hiệp3, Bạc Tiểu Linh4
1 Trường Đại học Y Hà Nội
2 Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội
3 Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Báo cáo một trường hợp gãy xương gò má cung tiếp phải đến muộn (30 ngày), được phẫu thuật nắn chỉnh hở tiếp cận qua đường rạch Coronal và cố định bằng nẹp vít titanium. Người bệnh được theo dõi và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật qua các thời điểm sau mổ 1 ngày, thời điểm ra viện, thời điểm 2 tuần sau mổ, 3 tháng sau mổ, 6 tháng sau mổ; tập trung vào đánh giá phục hồi chức năng, thẩm mỹ ngoài mặt, giải phẫu trên phim cắt lớp vi tính và đánh giá về các biến chứng có thể xảy ra sau mổ. Trình bày ca lâm sàng: Người bệnh nữ 18 tuổi, đến khám tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội ở thời điểm 3 tuần sau chấn thương với triệu chứng há miệng hạn chế 1cm. Sau thăm khám lâm sàng và chụp phim cắt lớp vi tính, người bệnh được chẩn đoán: Gãy xương gò má-cung tiếp phải đến muộn (gãy xương theo phân loại IVa – Knight & North 1961, diễn biến bệnh ngày thứ 30 ở thời điểm phẫu thuật). Người bệnh được phẫu thuật sử dụng đường rạch coronal để nắn chỉnh hở, cố định xương gãy bằng nẹp vít titanium. Ngày đầu tiên sau mổ, bệnh nhân há miệng được 2,5 cm, nhăn trán bên phải được. Thời điểm ra viện, bệnh nhân há miệng được 3cm, nhăn trán được hoàn toàn bình thường, má phải còn sưng ít. Thời điểm 2 tuần sau phẫu thuật, bệnh nhân há miệng được 4cm, má phải còn sưng ít. Thời điểm 3 tháng sau mổ, bệnh nhân há miệng được 5cm, mặt cân đối; có hiện tượng rụng ít tóc quanh vết mổ coronal. Thời điểm 6 tháng sau mổ, bệnh nhân há miệng được 5,5cm; tóc vùng trước bị rụng đã mọc lại; mặt cân đối; vùng thái dương không bị lõm. Kết luận: Đường rạch coronal có ưu điểm bộc lộ được phẫu trường đủ rộng, rõ ràng để tiếp cận và phục hồi ổ gãy xương gò má-cung tiếp một cách toàn diện về chức năng và thẩm mỹ trong trường hợp gãy đến muộn. Nếu thực hiện các thao tác tỉ mỉ, tránh các sang chấn lớn vào các cấu trúc giải phẫu vùng da đầu, các nguy cơ để lại các biến chứng về thẩm mỹ ngoài mặt sẽ được hạn chế tối đa. Tổn thương gãy xương gò má-cung tiếp đến muộn gây ra rất nhiều khó khăn trong việc phục hồi của người bệnh cả về giải phẫu và chức năng. Trong trường hợp gãy xương gò má-cung tiếp, tùy vào hình thái gãy xương và triệu chứng thực thể của người bệnh, đường rạch coronal có thể được cân nhắc sử dụng để tối đa hóa kết quả điều trị.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Howard D Wang, Jasjit Dillon. Contemporary Management of Zygomaticomaxillary Complex Fractures. Semin Plast Surg. 2021. 35 (4): 256-262.
2. Maximiliano Alberto Nunez, et al. Reappraisal of the anatomy of the frontotemporal branches of the facial nerve. Journal of Neurosurgery. 2023. 139 (4): 1160-1168.
3. Santiago Pedroza Gómez S, et al. Scalp complications of craniofacial surgery: review and classification. European Journal of Plastic Surgery. 2023. 46: 315-325.
4. Mohammed A. Azab, et al. Technical approaches for preservation of the temporalis muscle in neurosurgery: a systematic review. Annals of Medicine & Surgery. 2025. 87 (7): 4442-4451.
5. Majeed Rana, et al. Patient-Specific Solutions for Cranial, Midface, and Mandible Reconstruction Following Ablative Surgery: Expert Opinion and a Consensus on the Guidelines and Workflow. Craniomaxillofac.Trauma Reconstr.2025,18(1): 15.
6. Thomas Starch-Jensen, et al. Treatment of Zygomatic Complex Fractures with Surgical or Nonsurgical Intervention: A Retrospective Study. Open Dent J. 2018. 12: 377-387.