NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN GLÔCÔM GÓC MỞ THIẾU NIÊN
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân Glôcôm góc mở thiếu niên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Đối tượng và phương pháp: Bệnh nhân được chẩn đoán là Glôcôm góc mở thiếu niên. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2025 tại Bệnh viện Mắt Trung Ương. Kết quả: Nghiên cứu được thực hiện trên 67 mắt của 34 bệnh nhân, có độ tuổi trung bình là 21.18 ± 9.42. Tỉ lệ Nam/nữ lần lượt là 47.1% và 52.9%. Tỉ lệ bệnh nhân có tiền sử gia đình là 20.6%. Đa số bệnh nhân có thị lực tốt ≥ 20/30 (59.7%) và khá từ 20/30 đến 20/70 (17.9%). Nhãn áp trước điều trị tương đối cao là 33.51 ± 10.39 mmHg. Khúc xạ cầu tương đương: -3.02 ± 2.42. Không có mắt nào có tình trạng xuất huyết đĩa thị. Mức độ teo β quanh đĩa thị: chủ yếu ≤2/4 chu vi đĩa thị (89.5%), tỉ lệ C/D theo chiều dọc tương đương chiều ngang. Có mối tương quan có ý nghĩa thống kê với nhãn áp trước điều trị với: Tuổi, thị lực (p < 0.05).Hình thái mống mắt và hình thái góc tiền phòng bình thường có mức nhãn áp trước điều trị thấp nhất và tuổi khởi phát muộn nhất, hình thái mống mắt bình thường và góc tiền phòng không quan sát rõ có tuổi khởi phát sớm nhất, hình thái chân mống mắt bám cao kèm nhiều hốc sâu ở mống mắt có nhãn áp trước điều trị cao nhất. Không có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa nhãn áp trước điều trị với: Giới tính, tiền sử gia đình, tình trạng khúc xạ cầu tương đương, diện tích vùng teo β. Kết luận: JOAG thực chất là một nhóm bệnh lý với cơ chế bệnh sinh phức tạp và còn chưa được hiểu rõ. Các đặc điểm trên lâm sàng như mống mắt, soi góc tiền phòng có thể định hướng tới cơ chế bệnh sinh như dấu hiệu chân mống mắt bám cao hướng tới cơ chế bệnh sinh tương tự Glôcôm bẩm sinh và thường liên quan đến nhãn áp rất cao. Ngược lại các mắt có hình ảnh góc tiền phòng bình thường trên soi góc thường có nhãn áp cao vừa phải tương tự Glôcôm góc mở nguyên phát.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Glôcôm góc mở thiếu niên, đặc điểm lâm sàng
Tài liệu tham khảo
2. Allingham RR, Damji KF, Freedman SF, Moroi SE, Rhee DJ, Shields MB. Shields textbook of glaucoma. 6th Ed. Lippincott Williams & Wilkins; 2012.
3. Das J, Bhomaj S, Chaudhuri Z, et al. Profile of glaucoma in a major eye hospital in North India. Indian J Ophthalmol 2001;49:25–30.
4. Birla S, Gupta D, Somarajan BI, Gupta S, Chaurasia AK, Kishan A, Gupta V. Classifying juvenile onset primary open angle glaucoma using cluster analysis. Br J Ophthalmol. 2020;104:827–35.
5. Gupta V, Srivastava RM, Rao A, Mittal M, Fingert J. Clinical correlates to the goniodysgensis among juvenile-onset primary open-angle glaucoma patients. Graefes Arch Clin Exp Ophthalmol. 2013;251:1571–6. doi: 10.1007/ s00417-013-2262-2.
6. Kwun, Y., Lee, E. J., Han, J. C., & Kee, C. (2016). Clinical characteristics of juvenile-onset open angle glaucoma. Korean Journal of Ophthalmology: KJO, 30(2), 127–133. https://doi. org/10.3341/kjo.2016.30.2.127
7. Gupta, S., Singh, A., Mahalingam, K., Selvan, H., Gupta, P., Pandey, S., Somarajan, B. I., & Gupta, V. (2021). Myopia and glaucoma progression among patients with juvenile onset open angle glaucoma: A retrospective follow up study. Ophthalmic & Physiological Optics: The Journal of the British College of Ophthalmic Opticians (Optometrists), 41(3), 475–485.
8. Jerndal, T. (1978). Goniodysgenesis: a new perspective on glaucoma (A. Bill & H.-A. Hansson, Eds.). Scriptor.
9. Jonas, J. B., & Gründler, A. (1996). Optic disc morphology in juvenile primary open-angle glaucoma. Graefe s Archive for Clinical and Experimental Ophthalmology, 234(12), 750–754. https://doi.org/10.1007/bf00189356