KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐẶT MẢNH GHÉP NGOÀI PHÚC MẠC TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC NAM CẦN THƠ

Tống Hải Dương1,2, La Văn Phú1,3,
1 Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ
2 Bệnh viện Đại học Nam Cần Thơ
3 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu của phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc (TEP) trong điều trị thoát vị bẹn tại Bệnh viện Đại học Nam Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 34 bệnh nhân với 43 thoát vị bẹn được điều trị bằng kỹ thuật TEP. Các chỉ số khảo sát bao gồm đặc điểm lâm sàng, phân loại thể thoát vị, thời gian mổ, tai biến trong mổ, biến chứng sớm sau mổ, mức độ đau và kết quả theo dõi sớm sau mổ. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 59,8 ± 15,7, nam giới chiếm 97,1%. Thoát vị một bên chiếm 73,5%, hai bên 26,5%; bên phải thường gặp nhất (44,1%). Thoát vị trực tiếp chiếm 48,8%, gián tiếp 27,9% và hỗn hợp 23,3%. Thời gian mổ trung bình là 79,0 ± 21,5 phút. Rách phúc mạc gặp ở 18,6%, không có trường hợp nào phải chuyển mổ. Cố định lưới được thực hiện ở 30,2% trường hợp. Điểm đau VAS trung bình sau 48 giờ là 1,56 ± 0,5; thời gian nằm viện sau mổ trung bình 1,58 ± 0,5 ngày. Biến chứng sớm ghi nhận ở 16,3%, chủ yếu là tụ dịch (11,6%). Sau 1 tháng theo dõi, 90,7% không ghi nhận biến chứng, không có trường hợp nào nhiễm trùng lưới hay tái phát, tỷ lệ bệnh nhân hài lòng đạt 97%. Kết luận: Phẫu thuật nội soi TEP là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho thoát vị bẹn với tỷ lệ biến chứng thấp, mức độ đau nhẹ và thời gian nằm viện ngắn trong giai đoạn theo dõi sớm.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Stabilini C, van Veenendaal N, Aasvang E, Agresta F, Aufenacker T, Berrevoet F, et al. Update of the international HerniaSurge guidelines for groin hernia management. BJS Open. 2023;7(5):zrad080. doi:10.1093/ bjsopen/ zrad080.
2. Güler M, Gönüllü D. Comparison of outcomes of total extraperitoneal repair and transabdominal preperitoneal approach in inguinal hernia surgery. J Acad Res Med. 2025;15(1):17–23.
3. Hidalgo NJ, Guillaumes S, Bachero I, Butori E, Espert JJ, Ginestà C, et al. Bilateral inguinal hernia repair by laparoscopic totally extraperitoneal (TEP) versus laparoscopic transabdominal preperitoneal (TAPP). BMC Surg. 2023;23:270.
4. Andresen K, Rosenberg J. Risk of reoperation after TEP, TAPP, and Lichtenstein repairs: an observational register-based study. Hernia. 2025. doi:10.1007/s10029-025-03374-z.
5. Iossa A. TEP or TAPP: who, when, and how? Front Surg. 2024. doi:10.3389/ fsurg.2024.1352196.
6. Dong H, Zhu Y, Guo Z, et al. Safety of unfixed mesh in laparoscopic totally extraperitoneal inguinal hernia repair: a multicenter study. Turk J Surg. 2023; 39(2):132–9.
7. La Van Phu, Tong Hai Duong, Doan Anh Vu. Totally extraperitoneal inguinal hernia repair without mesh fixation: the experiences on 250 cases at Can Tho General Hospital. Vietnam J Surg Endolaparosurgery. 2024;8(1):1–7.
8. Nguyễn Anh Hoàng, Nguyễn Văn Tống, La Văn Phú, Trà Quốc Tuấn. Kết quả điều trị thoát vị bẹn bằng phương pháp nội soi đặt mảnh ghép hoàn toàn trước phúc mạc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh năm 2024–2025. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;549(4-1):215–9.