ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, XÉT NGHIỆM VÀ SO SÁNH KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN SỎI THẬN GIỮA CÁC PHƯƠNG TIỆN HÌNH ẢNH HỌC

Quách Võ Tấn Phát1,, Đàm Văn Cương2
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2 Bệnh viện Đại học Nam Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Sỏi tiết niệu là bệnh lý thường gặp, có thể gây biến chứng tắc nghẽn, nhiễm khuẩn và suy giảm chức năng thận. Việc lựa chọn phương tiện chẩn đoán hình ảnh phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong phát hiện sớm và định hướng điều trị. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và so sánh khả năng phát hiện sỏi thận giữa các phương tiện chẩn đoán hình ảnh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 175 bệnh nhân sỏi thận được chẩn đoán xác định bằng chụp cắt lớp vi tính hệ tiết niệu có tiêm thuốc cản quang. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 50,45 ± 10,72, nam giới chiếm 54,9%. Đau lưng âm ỉ là triệu chứng phổ biến nhất. Đa số các chỉ số xét nghiệm nằm trong giới hạn bình thường. Đài thận trên là vị trí sỏi thường gặp nhất (53,7%), tỷ lệ sỏi hai bên chiếm khoảng 7%, và đa số chỉ có một viên sỏi đơn độc (69,1%). Siêu âm hệ tiết niệu phát hiện sỏi thận với tỷ lệ 97,1%, cao hơn X-quang hệ tiết niệu không chuẩn bị (87,4%). Kích thước sỏi đo trên siêu âm chênh lệch trung bình 1,79 mm so với chụp cắt lớp vi tính. Kết luận: Siêu âm giúp phát hiện nhiều trường hợp sỏi thận hơn so với X-quang hệ tiết niệu không chuẩn bị. Kích thước sỏi đo được trên siêu âm có sự tương hợp tốt với kết quả trên chụp cắt lớp vi tính, với chênh lệch nhỏ và chấp nhận được.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bargagli M., Scoglio M., Howles S. A., et al (2025), "Kidney stone disease: risk factors, pathophysiology and management", Nature Reviews Nephrology, 21(11), pp. 794-808.
2. Dell'Aversana F., Pezzullo M., Scaglione M. (2025), "Imaging in Urolithiasis", Urol Clin North Am, 52(1), pp. 51-59.
3. Kanno T., Kubota M., Funada S., et al (2017), "The Utility of the Kidneys-ureters-bladder Radiograph as the Sole Imaging Modality and Its Combination With Ultrasonography for the Detection of Renal Stones", Urology, 104, pp. 40-44.
4. Middleton W. D., Dodds W. J., Lawson T. L., et al (1988), "Renal calculi: sensitivity for detection with US", Radiology, 167(1), pp. 239-44.
5. Smith D., Patel U. (2017), "Ultrasonography vs computed tomography for stone size", BJU Int, 119(3), pp. 361-362.
6. Huỳnh Nguyễn Trường Vinh, Nguyễn Vĩnh Bình, Phan Đức Hữu, et al (2022), "Đánh giá kết quả sớm điều trị sỏi thận bằng phẫu thuật tán sỏi qua da đường hầm nhỏ tại Bệnh viện Xuyên Á 2021-2022", Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, (55), pp. 122-130.
7. Putri D. Y., Azri I. B. (2025), "Comparison of CT Scan, X-Ray and Ultrasound in Sensitivity and Specificity for Identifying Kidney Stones in Clinical Settings?: A Comprehensive Systematic Review", The Indonesian Journal of General Medicine, 12(1), pp. 1-39.
8. Trần Hoài Nam, Nguyễn Trần Thành (2023), "Kết quả tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm điều trị sỏi thận tại Bệnh viện 19-8, Bộ Công an", Tạp chí Y học Việt Nam, 533(2), pp.229-223.
9. Trương Hoàng Minh (2025), "Nhận xét kết quả sớm tán sỏi thận ngược dòng bằng nội soi ống mềm có kiểm soát áp lực bể thận tại Bệnh viện Nhân Dân 115", Tạp chí Y học Việt Nam, 551(2), pp. 241-246.