ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN ĐẶT TẤM LƯỚI NHÂN TẠO TRƯỚC PHÚC MẠC ĐƯỜNG VÀO Ổ BỤNG

Cao Minh Tiệp1,, Đặng Vặn Huấn1, Đoàn Ngọc Giao2, Phùng Thế Khang1, Nguyễn Quốc Thành1
1 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp
2 Bệnh viện Chợ Rẫy

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả sau phẫu thuật nội soi đặt tấm lưới nhân tạo trước phúc mạc qua đường vào ổ bụng điều trị thoát vị bẹn. Đối tượng và phương pháp: Bao gồm 65 bệnh nhân được chẩn đoán thoát vị bẹn được điều trị bằng phương pháp nội soi đặt tấm lưới nhân tạo trước phúc mạc qua đường vào ổ bụng tại khoa Ngoại tiêu hoá Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp từ 01/2025 đến 10/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 58,2±17,8 tuổi. Tỉ lệ nam giới chiếm ưu thế với tỉ lệ nam:nữ là 57:8. Tổng cộng 53 bệnh nhân được chẩn đoán thoát vị bẹn một bên (81,5%) và 12 bệnh nhân thoát vị bẹn hai bên (18,5%). Thời gian phẫu thuật trung bình chung là 53,5±13,7 phút. Thời gian phẫu thuật TAPP của nhóm thoát vị bẹn biến chứng (nghẹt) dài hơn nhóm không biến chứng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,019). Sau phẫu thuật TAPP, bệnh nhân đau ít với điểm VAS trung bình <24 giờ là 3,5±0,6 và mức độ đau giảm dần. Thời gian nằm viện sau phẫu thuật trung bình là 4,4±1,3 ngày. Trong vòng 1 tháng sau mổ, chúng tôi ghi nhận 87,7% bệnh nhân không có biến chứng, 7,7% (5 bệnh nhân) bị tụ dịch sau mổ, 3,1% (2 bệnh nhân) bị viêm tinh hoàn và 1,5% (1 bệnh nhân) bị tê bẹn bìu. Kết quả gần sau 1 tháng phẫu thuật, 87,7% (57 bệnh nhân) đạt kết quả Tốt. Sau 6 tháng, kết quả Tốt đạt 100% (65 bệnh nhân). Kết luận: Phẫu thuật nội soi đặt tấm lưới nhân tạo trước phúc mạc qua đường vào ổ bụng điều trị thoát vị bẹn có nhiều ưu điểm, là một kỹ thuật được lựa chọn trong điều trị thoát vị bẹn ở người trưởng thành

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Phan Đình Tuấn Dũng (2017), “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc với tấm lưới nhân tạo 2D và 3D trong điều trị thoát vị bẹn trực tiếp”, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Dược – Đại học Huế.
2. Nguyễn Đoàn Văn Phú (2015), “Nghiên cứu ứng dụng điều trị phẫu thuật thoát vị bẹn bằng tấm lưới nhân tạo có nút (mesh-plug)”, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Dược – Đại học Huế.
3. Đỗ Mạnh Toàn (2019), “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi qua ổ phúc mạc đặt lưới nhân tạo điều trị thoát vị bẹn tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức”, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Hà Nội.
4. Andresen K., Fenger A., Burcharth J. et al. (2017), “Mesh fixation methods and chronic pain after transabdominal preperitoneal (TAPP) inguinal hernia surgery: a comparison between fibrin sealant and tacks”, Surgical Endoscopy, 31 (10), pp. 4077-4084.
5. Arafat S., Alsabek M.B. (2017), “Simultaneous laparoscopic cholecystectomy and transabdominal preperitoneal hernioplasty: two case reports evaluate the safety and surgical complications”, Clinical Case Reports, 5 (12), pp. 2093-2096.
6. Arregui M. (2018), “Chain of events leading to the development of the current techniques of laparoscopic inguinal hernia repair: The time was ripe”, Laparo-endoscopic Hernia Surgery: Evidence Based Clinical Practice, Springer Berlin Heidelberg, pp. 31-36.
7. American Society of Anesthesiologists, “ASA Physical Status Classification System”. Địachỉ: https://www.asahq.org/standards-and-guidelines/asa-physical-status-classification-system.
8. Bansal V.K., Krishna A., Ghosh N. et al. (2018), “Comparison TAPP vs. TEP: Which Technique Is Better?”, Laparo-endoscopic Hernia Surgery: Evidence Based Clinical Practice, Springer Berlin Heidelberg, pp.