ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ NGHE KÉM Ở TRẺ NHŨ NHI QUA CHƯƠNG TRÌNH TẦM SOÁT HAI GIAI ĐOẠN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lý Xuân Quang1,2,, Phan Thảo Định1
1 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mở đầu: Nghe kém bẩm sinh là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng. Việc tầm soát sớm đóng vai trò then chốt trong việc can thiệp kịp thời nhằm tối ưu hóa sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ nghe kém ở trẻ nhũ nhi thông qua chương trình tầm soát thính lực hai giai đoạn bằng phương pháp đo âm ốc tai kích thích thoáng qua (Transitory evoked otoacoustic emission - TEOAE) và điện thính giác thân não tự động (Automated auditory brainstem response - AABR) tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 919 trẻ nhũ nhi được sinh và tầm soát thính lực tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ tháng 09/2024 đến tháng 05/2025. Trẻ được tầm soát giai đoạn 1 bằng TEOAE. Những trường hợp có kết quả "Không đạt" sẽ được hẹn tầm soát giai đoạn 2 bằng AABR. Tỷ lệ nghe kém và tỷ lệ hoàn tất tầm soát được phân tích bằng thống kê mô tả. Kết quả: Tỷ lệ trẻ có kết quả "Không đạt" sau tầm soát giai đoạn 1 bằng TEOAE là 5,2% (48/919). Trong số 48 trẻ này, chỉ có 18 trẻ quay lại thực hiện tầm soát giai đoạn 2 bằng AABR, đạt tỷ lệ hoàn tất là 37,5%. Sau khi đo AABR, có 7 trẻ cho kết quả "Không đạt". Tỷ lệ trẻ nghi ngờ nghe kém chung cuộc sau quy trình tầm soát hai giai đoạn là 0,8% (7/919). Kết luận: Tỷ lệ trẻ nghi ngờ nghe kém trong nghiên cứu là 0,8%, phù hợp với các dữ liệu trong khu vực châu Á. Tuy nhiên, tỷ lệ mất theo dõi sau tầm soát giai đoạn 1 còn rất cao (62,5%), đây là một thách thức lớn cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả của chương trình tầm soát

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. World Health Organization. Newborn and infant hearing screening: current issues and guiding principles for action. WHO, editor. Geneva: World Health Organization; 2010.
2. Emma Butcher CD, Mario Cortina-Borja, Rachel L Knowles. Prevalence of permanent childhood hearing loss detected at the universal newborn hearing screen: Systematic review and meta-analysis. PLoS One. 2019;14(7):e0219600.
3. Lê Diễm Hương, Phạm Quang Ánh. Tầm soát khiếm thính trẻ sơ sinh tại bệnh viện phụ sản quốc tế sài gòn 2007. Available from: https://www.tudu.com.vn/cache/0759579_Khiemthinhotresosinh.pdf
4. World Health Organization. World report on hearing. Geneva2021. p. 252.
5. American Academy of Pediatrics JCoIH. Principles and guidelines for early hearing detection and intervention programs. Pediatrics. 2019;144(2):e2019–1357.
6. Lin HC, Shu, M. T. reducing false positives in newborn hearing screening program: how and why. Otol Neurotol. 2007;28(6):788–92.
7. Pitathawatchai P, Khaimook W, Kirtsreesakul V. Pilot implementation of newborn hearing screening programme at four hospitals in southern Thailand. Bull World Health Organ. 2019;97(10):663–671.
8. Mazlan RR, Kausallya Abdullah. A 10-year retrospective analysis of newborn hearing screening in a tertiary hospital in Malaysia. The Egyptian Journal of Otolaryngology. 2022;38:135.