ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN NHỊP TIM TRÊN HOLTER ĐIỆN TÂM ĐỒ 24 GIỜ Ở BỆNH NHÂN SUY TIM PHÂN SUẤT TỐNG MÁU THẤT TRÁI <50% TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm rối loạn nhịp tim trên Holter điện tâm đồ 24 giờ và mối liên quan giữa một số rối loạn nhịp tim với nồng độ NT-proBNP huyết tương và phân suất tống máu thất trái (Left Ventricular Ejection Fraction - LVEF) ở bệnh nhân suy tim có LVEF <50% tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 70 bệnh nhân suy tim mạn tính có LVEF < 50% tại khoa Nội tim mạch - Bệnh viện Đa khoa Hà Đông, từ tháng 6 năm 2024 đến tháng 7 năm 2025. Thực hiện ghi và phân tích Holter điện tâm đồ 24 giờ, siêu âm tim theo phương pháp Simpson tại thời điểm nhập viện. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 64,8 ± 14,4 năm. Nhóm tuổi trên 70 chiếm tỷ lệ cao nhất (39%). Giới nam giới chiếm tỷ lệ (61,4%) cao hơn nữ (38,4%). Holter điện tâm đồ 24 giờ cho thấy 60% bệnh nhân có rối loạn nhịp trên thất. Trong các rối loạn nhịp trên thất, ngoại tâm thu trên thất chiếm tỷ lệ cao nhất (55,7%) sau đó đến rung nhĩ (32,9%) và cơn nhịp nhanh trên thất chiếm tỷ lệ thấp (5,7%). Rối loạn nhịp thất chiếm tỷ lệ cao (75,7%). Trong đó, độ 1 chiếm tỷ lệ cao nhất (27,1%) sau đó đến độ 4 (22,9), độ 2 (20,0%), độ 3 (5,7%) và không gặp bệnh nhân có rối loạn nhịp độ 5. Nồng độ NT-proBNP huyết tương ở nhóm có rối loạn nhịp trên thất (12082,79 ± 440,18 pg/ml) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm không có rối loạn nhịp trên thất (9344,75 ± 252,97 pg/ml). NT-proBNP ở nhóm có và không có rối loạn nhịp thất không có sự khác biệt. Nhóm NT-proBNP huyết tương ≥500 pg/ml có tỷ lệ rối loạn nhịp trên thất nói chung và ngoại tâm thu trên thất cao hơn nhóm có NT-proBNP < 500 pg/ml. Nhóm LVEF ≤35% có tỷ lệ rối loạn nhịp trên thất nói chung và ngoại tâm thu trên thất cao hơn nhóm có 35% < LVEF < 50%. Kết luận: 60% bệnh nhân có rối loạn nhịp trên thất, 75,7% có rối loạn nhịp thất. Nồng độ NT-proBNP huyết tương ở nhóm có rối loạn nhịp trên thất cao hơn có ý nghĩa so với nhóm không có rối loạn nhịp trên thất. Nhóm LVEF ≤35% có tỷ lệ rối loạn nhịp trên thất nói chung và ngoại tâm thu trên thất cao hơn nhóm có 35 % < LVEF < 50%.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Suy tim, Holter điện tâm đồ, Rối loạn nhịp
Tài liệu tham khảo
2. Mathew J, Hunsberger S, Fleg JL, et al. Incidence, predictive factors, and prognostic significance of supraventricular tachyarrhythmias in congestive heart failure. Chest. 2000;118(4): 914-22.
3. Nguyễn Duy Toàn. Nghiên cứu rối loạn nhịp tim và rối loạn dẫn truyền trong thất ở bệnh nhân suy tim mạn tính có giảm phân suất tống máu thất trái. Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện Quân y; 2015.
4. Nguyễn Trọng Hiếu, Bùi Văn Hoàng. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim tâm trương điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Tạp chí Khoa học & Công nghệ; 2009.
5. The SOLVD Investigators. Effect of enalapril on survival in patients with reduced left ventricular ejection fractions and congestive heart failure. N Engl J Med. 1991;325(5):293–302.
6. Tromp J, Tay WT, Ouwerkerk W, Teng T-HK, Yap J, MacDonald MR, et al. Multimorbidity in patients with heart failure from 11 Asian regions: a prospective cohort study using the ASIAN-HF registry. PLOS Med. 2018;15(3):e1002541. doi:10.1371/journal.pmed.1002541.
7. Lê Ngọc Hà. Bước đầu nghiên cứu rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim. Tạp chí Tim mạch học Việt Nam. 2000;1(1):35–40.