ĐẶC ĐIỂM DẤU BỎNG ĐIỆN VÀ TỔN THƯƠNG CƠ TIM Ở NẠN NHÂN TỬ VONG DO ĐIỆN TRONG GIÁM ĐỊNH PHÁP Y
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tử vong do điện vẫn còn phổ biến tại Việt Nam, nhưng việc giám định pháp y đôi khi gặp khó khăn vì có thể không hiện diện dấu bỏng điện trên đại thể và không giám định mô bệnh học toàn diện. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm mô bệnh học dấu bỏng điện da và tổn thương cơ tim ở nạn nhân tử vong do điện, đồng thời phân tích mối liên quan giữa hai đặc điểm này. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca trên 56 trường hợp tử vong do điện được giám định tại Trung tâm Pháp y TP. Hồ Chí Minh (2022–2024). Các đặc điểm được ghi nhận, phân tích thống kê bằng phần mềm STATA. Kết quả: Nam giới chiếm 87,5% (tỷ lệ nam/nữ = 7:1), tuổi trung bình 35,3 ± 15,8 (dao động từ 2–77 tuổi), chủ yếu trong độ tuổi lao động. Tai nạn lao động là thường gặp nhất (57,1%), tiếp theo là tai nạn sinh hoạt (41,1%). Tổn thương da trên đại thể, 92,9% có dấu bỏng điện với đa số là dạng lõm trung tâm, màu xám, khô (80,4%) và 7,1% không ghi nhận dấu bỏng điện. Xét nghiệm mô bệnh học tổn thương da gồm biến đổi nhân tế bào lớp đáy/gai (98,2%), bóc tách lớp da (96,4%), hốc sáng (75%), đông vón sợi collagen (96,4%), huyết tắc mạch máu (89,3%), biến đổi phần phụ da và mất nhú chân bì màng đáy (60,7%). Tim ở đại thể, xuất huyết dưới thanh mạc chiếm 64,3%, nhồi máu 25%, hoại tử 16,1%, xét nghiệmmô bệnh học ghi nhận sợi cơ tim gợn sóng (94,6%), phân đoạn (92,9%), nhân vuông (98,2%), hoại tử (62,5%). Không tìm thấy mối liên hệ giữa tổn thương cơ tim và dấu bỏng điện ở đại thể, có thể xem đây là những tổn thương xuất hiện độc lập. Kết luận: Cả dấu bỏng điện và các tổn thương cơ tim đều có giá trị quan trọng trong pháp y. Đáng chú ý, các đặc điểm mô bệnh học vẫn có thể hiện diện ngay cả khi không quan sát thấy dấu bỏng điện ở đại thể, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp đánh giá đại thể và mô bệnh học nhằm nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán tử vong do điện.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
điện giật, bỏng điện, tổn thương cơ tim, giám định pháp y.
Tài liệu tham khảo
2. Phạm Hồng Thao, Lưu Sỹ Hùng, Chung ĐT. Đặc điểm mô bệnh học của da do thương tích điện gây nên qua giám định pháp y. Tạp chí Nghiên cứu y học, Đại học Y Hà Nội. 2023; 162(1):221-8.
3. Kamaradgi P, Yaggati N, P S, K R. Histomorphological changes of skin in electrocution deaths - A study in a tertiary care hospital. IP Archives of Cytology and Histopathology Research. 2022;7:47-53. doi: 10.18231/ j.achr.2022.009.
4. Gentile G, Andreola S, Bailo P, Boracchi M, Fociani P, Piccinini A, et al. A Pilot Study on the Diagnosis of Fatal Electrocution by the Detection of Myocardial Microhemorrhages. J Forensic Sci. 2020;65(3):840-5. Epub 2019/12/11. doi: 10.1111/ 1556-4029.14255. PubMed PMID: 31821551.
5. Fineschi V, Karch SB, D'Errico S, Pomara C, Riezzo I, Turillazzi E. Cardiac pathology in death from electrocution. Int J Legal Med. 2006;120(2):79-82. Epub 2005/08/04. doi: 10.1007/ s00414-005-0011-8. PubMed PMID: 16078070.
6. Austin C, Probst TM. Masculine Gender Norms and Adverse Workplace Safety Outcomes: The Role of Sexual Orientation and Risky Safety Behaviors. 2021;7(3):55. PubMed PMID: doi:10.3390/safety7030055.
7. Koumbourlis AC. Electrical injuries. Crit Care Med. 2002;30(11 Suppl):S424-30. Epub 2003/01/17. doi: 10.1097/00003246-200211001-00007. PubMed PMID: 12528784.
8. Uzün I, Akyildiz E, Inanici MA. Histopathological differentiation of skin lesions caused by electrocution, flame burns and abrasion. Forensic Sci Int. 2008;178(2-3):157-61. Epub 2008/05/13. doi: 10.1016/ j.forsciint.2008.03.012. PubMed PMID: 18472235.
9. Shetty BS, Kanchan T, Acharya J, Naik R. Cardiac pathology in fatal electrocution. Burns. 2014; 40(7):e45-6. Epub 2014/03/13. doi: 10.1016/ j.burns.2014.02.001. PubMed PMID: 24612995.
10. Tsokos M. Forensic Pathology Reviews 5: Humana Press; 2008.