ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHẪU THUẬT QUẶM MI Ở NGƯỜI LỚN TUỔI BẰNG CÁCH TÁI TẠO CHỖ BÁM CÂN CƠ MI DƯỚI VÀ TẠO HÌNH GÓC NGOÀI

Nguyễn Thanh Nam1, Biện Thị Cẩm Vân1, Tôn Tường Trí Hải2, Nguyễn Trọng Kim2,
1 Bệnh viện Mắt TPHCM
2 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Quặm mi là tình trạng bờ mi đảo ngược về phía mắt, gây ra hiện tượng hàng lông mi hướng vào bề mặt nhãn cầu, gây ra các biến chứng như trầy biểu mô giác mạc, viêm loét giác mạc và có thể dẫn đến mù loà. Những thay đổi về mắt do tuổi gây lỏng lẻo mô, cân cơ mi, dây chằng và bản sụn mi dưới là tác nhân phố biến hàng đầu trong quặm mi tuổi già. Hai nguyên nhân chính là giảm trương lực theo chiều ngang do nhão mi, tuột chỗ bám dây chằng góc ngoài và giảm trương lực theo chiều dọc do teo hoặc lỏng lẻo chỗ bám cân cơ mi dưới. Các phương pháp phẫu thuật phổ biến nhất có thể kể đến là phương pháp khâu lật mi, cắt ngắn trượt sụn mi góc ngoài, phương pháp Wheeler cải tiến. Các phương pháp trên khi được thực hiện đa phần không đạt được hiệu quả điều trị và việc theo dõi tái phát và chỉ có thể giải quyết được một trong hai nguyên nhân gây ra quặm mi theo chiều dọc hoặc chiều ngang. Hiện nay, tại khoa Tạo hình thẩm mỹ - thần kinh nhãn khoa Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh đang thực hiện phương pháp điều trị quặm mi cho người lớn tuổi bằng phương pháp phẫu thuật tái tạo chỗ bám cân cơ mi dưới và tạo hình góc ngoài đã đem lại hiệu quả điều trị rất khả quan, khi đã can thiệp vào cả hai cơ chế gây quặm ở nhóm tuổi này. Mục tiêu: Xác định tính hiệu quả và an toàn của Phẫu thuật quặm mi ở người lớn tuổi bằng phương pháp tái tạo chỗ bám cân cơ mi dưới và tạo hình góc ngoài. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu báo cáo hàng loạt ca (case series). Chúng tôi thu thập được 35 mắt thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán. Kết quả: Tỉ lệ thành công tích lũy là 97,1% sau 1 tuần điều trị, 94,3% sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng điều trị. Không ghi nhận mắt tái phát sau 6 tháng theo dõi. Tỉ lệ lật mi là 5,7%. Không ghi nhận biến chứng gần và biến chứng xa sau phẫu thuật (nhiễm trùng, sẹo xấu). Kết luận: Quặm mi dưới tuổi già cần được điều trị bằng phương pháp tái tạo chỗ bám cân cơ mi dưới và tạo hình góc ngoài để xử trí được cả hai cơ chế sinh bệnh để đạt hiệu quả cao và hạn chế tái phát.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Damasceno RW, Osaki MH, Dantas PEC, Belfort R. Involutional entropion and ectropion of the lower eyelid: prevalence and associated risk factors in the elderly population. Ophthalmic Plast Reconstr Surg. 2011;27(5):317-320. doi:10.1097/IOP.0b013e3182115229
2. Vũ TA, Trần TMT, Phạm TV. Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân quặm tại Bệnh viện Mắt Thái Bình. VMJ. 2021;503(1). doi:10.51298/vmj.v503i1.714
3. Anh LTV, Văn PT, Hiền NTT. Đánh giá sự thay đổi bề mặt nhãn cầu sau phẫu thuật quặm. VMJ. 2023;524(1B). doi:10.51298/vmj.v524i1B.4774
4. Anshu, Sune PG. Optimization of Diagnosis and Surgical Treatment of Involutional Entropion of the Lower Eyelid. Journal of Pharmaceutical Research International. Published online December 20, 2021:892-897. doi:10.9734/jpri/2021/v33i60A34563
5. Parsons SR, O’Rourke MA, Satchi K, McNab AA. Corneal Complications Secondary to Involutional Entropion at Presentation. Ophthalmic Plast Reconstr Surg. 2022;38(6):593-595. doi:10.1097/IOP.0000000000002219
6. Hành L, Liêm PH. Giáo Trình Chuyên Khoa Cơ Bàn Phẫu Thuật Tạo Hình Thẩm Mỹ. 5th ed. Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch; 2025.
7. American Academy of Ophthalmology, Jill Annette Foster, AAO. Eyelid, Orbital and Lacrimal Disease. Orbit, Eyelids, and Lacrimal System. Published online 2015.
8. Trương Gia Kỳ. Đánh giá hiệu tiêm botulinum toxin A trong điều trị quặm mi dưới tuổi già. In: Luận Văn Bác Sĩ Chuyên Khoa II. Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch; 2022.
9. Thắng TT, Hoài LT, Huỳnh NS. Đánh giá kết quả phẫu thuật quặm mi tuổi già tại Bệnh viện Mắt Nghệ An. VMJ. 2024;542(2). doi:10.51298/vmj.v542i2.11142
10. Olali C, Burton V, Samalila E. Involutional lower eyelid entropion: combined Wheeler’s and Wedge resection of tarsal plate. West Afr J Med. 2010;29(2):117-119. doi:10.4314/wajm.v29i2.68206.