VAI TRÒ CỦA XẠ TRỊ VMAT-DIBH TRONG QUẢN LÝ ĐA CHUYÊN KHOA UNG THƯ THỰC QUẢN: KẾT QUẢ 8 NĂM TẠI BỆNH VIỆN ĐKQT VINMEC TIMES CITY

Đoàn Trung Hiệp1,, Dương Văn Nghĩa1, Lê Đức Anh1, Trần Bá Bách1, Nguyễn Đình Long1, Hà Ngọc Sơn1, Bồ Thị Minh Châm1, Phạm Thị Quỳnh1, Nguyễn Thị Thanh Huyền1
1 Bệnh viện Vinmec Times City

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá đáp ứng, độc tính  và  sống thêm của kĩ thuật xạ trị điều biến liều thể tích cung tròn và nhịn thờ thì hít vào sâu (VMAT-DIBH) trong xạ trị ung thư thực quản (UTTQ) tại bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu – theo dõi dọc trên 57 người bệnh (NB) UTTQ, 37 NB điều trị tiền phẫu và 20 NB điều trị triệt căn được xạ trị với kĩ thuật VMAT-DIBH trong giai đoạn 2017-2025. Các đặc điểm được thống kê và phân tích bao gồm: đặc điểm nhóm NB, đặc điểm điều trị, tuân thủ, dung nạp-độc tính, đáp ứng điều trị và kết quả sống thêm, phân tích các yếu tố ảnh hưởng. Kết quả: Tuổi trung bình 63,2, 100% nam giới, ung thư biểu mô tế bào vảy 96,5%,  76,8% ở giai đoạn tiến triển (III 48,2%; IVa 28,6%). 96,5% NB hoàn tất kế hoạch. Nhóm tiền phẫu, 86,4% được phẫu thuật, diện cắt R0 đạt 96,9% và 43,8% NB đạt đáp ứng hoàn toàn (pCR). Tỉ lệ độc tính độ ≥3 là 56,1% (chủ yếu độc tính huyết học, viêm thực quản độ 3: 25,3%); tỉ lệ độc tính độ 4 là 14%, tất cả là giảm lympho bào. Tất cả độc tính muộn đều ở độ nhẹ (1-2). Sau trung vị theo dõi 17,0 tháng, tỉ lệ sống thêm toàn bộ (OS), sống thêm không tiến triển (PFS) và sống thêm không tiến triển tại chỗ-tại vùng (LRPFS) 3 năm của toàn bộ quần thể lần lượt là 61,3%,  44,8%, và 54,0%. Phân tích yếu tố tiên lượng: ở nhóm triệt căn, đáp ứng hoàn toàn trên hình ảnh dự báo PFS thuận lợi (p=0,029); ở nhóm tiền phẫu, chiều dài u <5 cm dự đoán tỉ lệ pCR cao hơn (p=0,033). Kết luận: Xạ trị sử dụng kĩ thuật VMAT-DIBH trên NB UTTQ giai đoạn tiến triển tại chỗ-tại vùng cho kết quả đáp ứng tốt, với tỉ lệ độc tính liên quan điều trị ở mức chấp nhận được. Các kết quả về sống thêm sẽ cần số mẫu NB lớn và thời gian theo dõi dài hơn để có thể phân tích

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Eyck B.M. và cộng sự. Ten-Year Outcome of Neoadjuvant Chemoradiotherapy Plus Surgery for Esophageal Cancer: The Randomized Controlled CROSS Trial. J Clin Oncol, 2021, [chưa có số trang].
2. Mohamed A.A. và cộng sự. Dosimetric advantages for cardiac substructures in radiotherapy of esophageal cancer in deep-inspiration breath hold. Strahlenther Onkol, 2024, 200(7): 624–632.
3. Hoeppner J. và cộng sự. Perioperative Chemotherapy or Preoperative Chemoradiotherapy in Esophageal Cancer. N Engl J Med, 2025, 392(4): 323–335.
4. So T.H. và cộng sự. Lymphopenia and Radiation Dose to Circulating Lymphocytes With Neoadjuvant Chemoradiation in Esophageal Squamous Cell Carcinoma. Adv Radiat Oncol, 2020, 5(5): 880–888.
5. Mukherjee S. và cộng sự. NEOSCOPE: A randomised phase II study of induction chemotherapy followed by oxaliplatin/ capecitabine or carboplatin/paclitaxel based pre-operative chemoradiation for resectable oesophageal adenocarcinoma. Eur J Cancer, 2017, 74: 38–46.
6. Yang H. và cộng sự. Neoadjuvant Chemoradiotherapy Followed by Surgery Versus Surgery Alone for Locally Advanced Squamous Cell Carcinoma of the Esophagus (NEOCRTEC5010): A Phase III Multicenter, Randomized, Open-Label Clinical Trial. J Clin Oncol, 2018, 36(27): 2796–2803.
7. Crosby T. và cộng sự. Chemoradiotherapy with or without cetuximab in patients with oesophageal cancer (SCOPE1): a multicentre, phase 2/3 randomised trial. Lancet Oncol, 2013, 14(7): 627–637.
8. Suntharalingam M. và cộng sự. Effect of the Addition of Cetuximab to Paclitaxel, Cisplatin, and Radiation Therapy for Patients With Esophageal Cancer: The NRG Oncology RTOG 0436 Phase 3 Randomized Clinical Trial. JAMA Oncol, 2017, 3(11): 1520–1528.