ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BAN ĐẦU TRONG ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT TÂN BỔ TRỢ PHÁC ĐỒ CÓ BEVACIZUMAB TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ BUỒNG TRỨNG TẠI BỆNH VIỆN K

Phạm Tuấn Anh1,2,, Lê Thị Hằng1, Nguyễn Thị Phương Anh1
1 Bệnh viện K
2 Trường Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả ban đầu trong điều trị hóa chất tân bổ trợ phác đồ có Bevacizumab trên bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng tại bệnh viện K. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 53 bệnh nhân UTBMBT (Ung thư biểu mô buồng trứng) giai đoạn IIIC – IV được điều trị hóa chất tân bổ trợ phác đồ có bevacizumab tại bệnh viện K từ tháng 1/2021 đến tháng 9/2025. Kết quả: Tuổi trung bình là 57,3 ± 10,3; lớn nhất là 73 tuổi, nhỏ nhất là 31 tuổi. Nhóm tuổi < 60 chiếm 52,8%, nhóm tuổi ≥ 60 chiếm 47,2%. Bệnh nhân có chỉ số toàn trạng ECOG = 2 chiếm 34%. Triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là đau tức hạ vị (83,3%), bụng chướng (75,4%). Triệu chứng thường gặp nhất là tràn dịch màng bụng (90,5%), tiếp đến là hạch ngoại vi (28,3%). Bệnh nhân ở giai đoạn IV chiếm 45,2%. Thể mô bệnh học chủ yếu là carcinoma thanh dịch độ cao, chiếm 90,5%. Tỷ lệ đáp ứng là 98,1%, trong đó có 9,4% đạt đáp ứng hoàn, không có trường hợp nào bệnh tiến triển. Tỷ lệ phẫu thuật đạt tối ưu sau hóa trị là 85%, trong đó tỷ lệ cắt bỏ hoàn toàn đạt 56,6%. Có 8 trường hợp không đạt được phẫu thuật tối ưu, chiếm 15,1%. Trong số 48 bệnh nhân UTBM thanh dịch độ cao có 11,5% trường hợp đạt đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học; chủ yếu là đáp ứng một phần chiếm 89,5%. Tỷ lệ bệnh nhân phải truyền máu chiếm 20,8%. Có 2/53 bệnh nhân phải làm hậu môn nhân tạo chiếm 3,8%. Không có trường hợp nào phải cắt đoạn ruột hay tạng bị xâm lấn. Không có trường hợp nào gặp biến chứng chảy máu, tắc mạch sau mổ

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Bray F, Laversanne M, Sung H, et al. Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin. 2024;74(3):229-263. doi:10.3322/caac.21834
2. Vergote I, Tropé CG, Amant F, et al. Neoadjuvant chemotherapy or primary surgery in stage IIIC or IV ovarian cancer. N Engl J Med. 2010; 363(10): 943-953. doi:10.1056/ NEJMoa0908806
3. Rouzier R, Gouy S, Selle F, et al. Efficacy and safety of bevacizumab-containing neoadjuvant therapy followed by interval debulking surgery in advanced ovarian cancer: Results from the ANTHALYA trial. Eur J Cancer. 2017;70:133-142. doi:10.1016/j.ejca.2016.09.036
4. Garcia Garcia Y, De Juan A, Mendiola C, et al. Phase II randomized trial of neoadjuvant (NA) chemotherapy (CT) with or without bevacizumab (Bev) in advanced epithelial ovarian cancer (EOC)‏ (GEICO 1205/NO VA TRIA L). J Clin Oncol. 2017;35(15_suppl): 5508-5508. doi:10.1 200/ JCO.2017.35.15_suppl.5508
5. Kehoe S, Hook J, Nankivell M, et al. Primary chemotherapy versus primary surgery for newly diagnosed advanced ovarian cancer (CHORUS): an open-label, randomised, controlled, non-inferiority trial. The Lancet. 2015;386(9990):249-257. doi:10.1016/S0140-6736(1 4)622 23-6.
6. McCluggage WG, Judge MJ, Clarke BA, et al. Data set for reporting of ovary, fallopian tube and primary peritoneal carcinoma: recomme ndations from the International Collaboration on Cancer Reporting (ICCR). Mod Pathol. 2015;28(8):1101-1122.