TÍNH KHẢ THI VÀ AN TOÀN CỦA TIẾP CẬN ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA ĐOẠN XA ĐỘNG MẠCH QUAY
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tiếp cận đoạn xa động mạch (ĐM) quay là một phương pháp tiếp cận đường vào động mạch mới trong can thiệp động mạch vành (ĐMV), có nhiều lợi ích hơn so tiếp cận qua ĐM quay truyền thống như giảm nguy cơ tắc ĐM quay, hình thành khối máu tụ thấp, bảo tồn ĐM quay cho các phẫu thuật mạch máu trong tương lai, tăng sự thoải mái cho bệnh nhân. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ thành công tiếp cận đoạn xa ĐM quay trong can thiệp ĐMV và các biến cố tại chỗ sau thủ thuật trong thời gian nằm viện. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, thu mẫu hồi cứu các BN chỉ định chụp, can thiệp ĐMV được thực hiện tiếp cận đoạn xa ĐM quay tại BV nhân dân Gia Định từ tháng 06/2023 đến tháng 06/2024. Kết quả: Thu mẫu 290 BN, trong đó hơn 50% là các BN hội chứng vành cấp, đặc biệt có 54 BN NMCT cấp ST chênh lên, chiếm 18,6%. Tỉ lệ đâm kim thành công là 94,8% (275/290), tỉ lệ hoàn thành thủ thuật là 91,7% (266/290), có 9 BN phải chuyển đổi đường tiếp cận do co thắt ĐM quay chiếm 3,3%. Tỉ lệ xảy ra các biến cố tại chỗ sau thủ thuật rất thấp chỉ 0,7% (2/290), đều là hematoma mức độ nhẹ EASY I. Tỉ lệ thực hiện can thiệp các sang thương phức tạp gồm can thiệp thân chung ĐMV trái, sang thương chia đôi, sang thương tắc mạn lần lượt là 0,9%, 2,6%, 1,7%. Tỉ lệ sử dụng phương tiện khảo sát sinh lý, hình ảnh học nội mạch vành như FFR, IVUS, OCT qua tiếp cận đoạn xa ĐM quay lần lượt là 1,5%, 1,1% và 0,7%. Kết luận: Tiếp cận đường vào mạch máu qua đoạn xa ĐM quay là một sự lựa chọn khả thi trong thủ thuật can thiệp ĐMV với tỉ lệ thành công > 90% và tỉ lệ biến cố tại chỗ do thủ thuật rất thấp. Ngoài ra có thể tiến hành can thiệp các sang thương phức tạp hoặc sử dụng các phương tiện khảo sát sinh lý, hình ảnh học nội mạch nâng cao qua đoạn xa ĐM quay
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Tim mạch can thiệp, đoạn xa động mạch quay
Tài liệu tham khảo
2. Nguyễn Khắc Linh. Kết quả sử dụng đường vào đoạn xa động mạch quay trong chụp và can thiệp động mạch vành. Tạp chí Tim mạch học Việt Nam. 2022;(100):67-73.
3. Kiemeneij F. Left distal transradial access in the anatomical snuffbox for coronary angiography (ldTRA) and interventions (ldTRI). EuroIntervention. Sep 20 2017;13(7):851-857. doi:10.4244/EIJ-D-17-00079
4. Tao Chen, et al. Comparison of long-term radial artery occlusion via distal vs. conventional transradial access (CONDITION): a randomized controlled trial. BMC Med. Feb 8 2024;22(1):62. doi:10.1186/s12916-024-03281-7
5. Tsigkas G, Papageorgiou A, Moulias A, et al. Distal or Traditional Transradial Access Site for Coronary Procedures: A Single-Center, Randomized Study. JACC Cardiovasc Interv. Jan 10 2022;15(1): 22-32. doi:10.1016/j.jcin.2021. 09.037
6. Lee JW, Kim Y, Lee BK, et al. Distal Radial Access for Coronary Procedures in a Large Prospective Multicenter Registry: The KODRA Trial. JACC Cardiovasc Interv. Feb 12 2024;17(3): 329-340. doi:10.1016/j.jcin. 2023.11.021
7. Jun-Won L. Comparison of puncture success rate between distal radial access and transradial access in patients with ST-elevation myocardial infarction (DRAMI). PCR online. 2024;
8. Kitanoski D. Comparison of distal radial with conventional radial access in patients with ST-segment elevation myocardial infarction, undergoing primary percutaneous coronary intervention. Interventional Cardiology. 2022;14(1)