VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM TRỤC THẦN KINH TRONG GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG ĐOẠN NGỰC

Nguyễn Thị Phương Dung1, Nguyễn Trọng Thắng2,, Hà Lữ Ngọc Linh1, Nguyễn Thành Tiến Dũng2, Trần Ngọc Trung1,2, Nguyễn Thị Thanh1
1 Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 Bệnh viện Nhân dân Gia Định

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Xác định vị trí khe gian đốt sống ngực bằng mốc giải phẫu rất khó khăn vì mỏm gai chúc xuống và chồng lên nhau. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ thành công trong lần đi kim đầu tiên khi gây tê ngoài màng cứng đoạn ngực có siêu âm hỗ trợ. Mô tả khoảng cách da – khoang ngoài màng cứng trên siêu âm, khoảng cách da – khoang màng cứng thực tế và độ dốc của mỏm gai đốt sống ngực. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại bệnh viện Nhân dân Gia Định. Từ tháng 11/2023 đến tháng 05/2024, 30 người bệnh có chỉ định gây tê ngoài màng cứng đoạn ngực trong phẫu thuật chương được siêu âm kiểm tra các cấu trúc giải phẫu cột sống và xác định khe gian đốt sống phù hợp. Gây tê ngoài màng cứng tiến hành tại vị trí đã đánh dấu với test mất sức cản bằng nước muối sinh lý. Kết quả: Tỷ lệ thành công trong lần đi kim đầu tiên là 56,7%. Khoảng cách da – khoang ngoài màng cứng trên siêu âm tại T5 – T6 có 2 trường hợp là 3,4 cm và 4,5 cm, T7 – T8 là 3,9 ± 0,7 cm và T8 – T9 là 3,6 ± 0,6 cm. Khoảng cách da – khoang ngoài màng cứng thực tế tại T5 – T6 có 2 trường hợp là 6 cm và 7 cm, T7 – T8 là 5,3 ± 0,8 cm và T8 – T9 là 5,0 ± 1,0 cm. Độ dốc của mỏm gai ở T5 – T6 với 2 trường hợp là 74 độ và 75 độ, T7 – T8 là 76 ± 3,4 độ và T8 – T9 là 77,5 ± 3,4 độ. Kết luận: Gây tê ngoài màng cứng đoạn ngực có khe gian đốt sống xác định bằng siêu âm thì tỷ lệ thành công trong lần đi kim đầu tiên là 56,7%. Siêu âm cung cấp các chỉ số hỗ trợ cho quá trình gây tê ngoài màng cứng đoạn ngực.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Auyong DB, Hostetter L, Yuan SC, et al. Evaluation of Ultrasound-Assisted Thoracic Epidural Placement in Patients Undergoing Upper Abdominal and Thoracic Surgery: A Randomized,
2. Double-Blind Study. Reg Anesth Pain Med. 2017; 42(2): 204-209. doi:10.1097/AAP. 0000000000000540
3. Boselli E, Hopkins P, Lamperti M, et al. European Society of Anaesthesiology and Intensive Care Guidelines on peri-operative use of ultrasound for regional anaesthesia (PERSEUS regional anesthesia): Peripheral nerves blocks and neuraxial anaesthesia. Anesth EJournal. 2021;38(3): 219-250. doi:doi:10.1097/EJA. 0000000000001383
4. Đỗ Phương Linh, Nguyễn Hữu Tú. Đánh giá kết quả của kỹ thuật gây tê ngoài màng cứng ngực có hỗ trợ của siêu âm trong giảm đau sau phẫu thuật bụng trên. Tạp Chí Nghiên cứu Y học. 2021;138(2):140-147. doi:https://doi.org/10. 52852/tcncyh.v138i2.88
5. Grau T, Leipold R, Delorme S, et al. Ultrasound imaging of the thoracic epidural space. Reg Anesth Pain Med. 2002;27(2):200-206. doi:10.1053/rapm.2002.29239
6. Hasanin A, Mokhtar A, Amin S, et al. Preprocedural ultrasound examination versus manual palpation for thoracic epidural catheter insertion. Saudi J Anaesth. 2017;11(1):62. doi:10.41 03/1658-354X.197345
7. Hoàng Quốc Thắng, Nguyễn Thị Thanh. Siêu âm cột sống thắt lưng trong xác định vị trí gây tê tủy sống. Tạp chí Y học TPHCM. 2021;25(5):125-132.
8. Jadhav KK, Nath G. Ultrasound guided paramedian approach compared with landmark based paramedian approach for thoracic epidural. IJCA. 2020;5(1):75-79. doi:10.18231/ 23944994. 2018.0013
9. Mã Thanh Tùng, Trương Quốc Việt, Nguyễn Văn Chừng. So sánh khoảng cách từ da đến khoang ngoài màng cứng trên siêu âm cột sống và chiều dài thực tế kim Tuohy. Tạp chí Y học TPHCM. 2011;15(3):173-178.
10. Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Thanh. Vai trò của siêu âm trục thần kinh trong gây tê tuỷ sống. Tạp chí Y học TPHCM. 2020;24(3):88-93.