KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SẸO HẸP THANH – KHÍ QUẢN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH

Lý Xuân Quang1,2,, Nguyễn Thị Như Trang1
1 Trường Y, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Hẹp thanh – khí quản (laryngotracheal stenosis – LTS) ở người trưởng thành là một bệnh lý phức tạp do nhiều nguyên nhân khác nhau và thường gặp nhất là do đặt ống nội khí quản kéo dài hoặc sau mở khí quản. Ngoài ra, bệnh còn có thể xuất hiện sau phẫu thuật vùng thanh – khí quản, chấn thương đầu cổ, hoặc nhiễm trùng. Tại Việt Nam, hẹp thanh – khí quản ngày càng được ghi nhận nhiều hơn do sự gia tăng các trường hợp đặt nội khí quản kéo dài trong hồi sức. Tuy nhiên, báo cáo hệ thống về đặc điểm bệnh và kết quả điều trị còn hạn chế. Nghiên cứu này nhằm phân tích đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị sẹo hẹp thanh – khí quản tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2019–2024. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm sẹo hẹp trên lâm sàng, nội soi, CT-scan và mô tả kết quả điều trị sẹo hẹp thanh – khí quản tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2019–2025. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện trên bệnh nhân được chẩn đoán LTS và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ tháng 01/2019 đến tháng 03/2025. Bệnh nhân được đánh giá lâm sàng thông qua khai thác bệnh sử chi tiết và phân tích hồ sơ bệnh án trước đó. Đặc điểm tổn thương sẹo hẹp được xác định dựa trên nội soi thanh – khí quản và chụp cắt lớp vi tính (CT-scan), đồng thời so sánh với quan sát trực tiếp trong phẫu thuật. Kết quả quả được đánh giá sau can thiệp phẫu thuật trên lâm sàng qua khả năng thông khí và chất lượng giọng nói của bệnh nhân trong giai đoạn theo dõi sau điều trị 3 tháng. Kết quả: Có tổng cộng 47 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, trong đó có 12 trường hợp hẹp thanh môn (glottic stenosis – GS) và 35 trường hợp hẹp hạ thanh môn – khí quản (subglottic tracheal stenosis – SGTS). Tỷ lệ nam và nữ tương đương nhau (51,1% và 48,9%). Nguyên nhân thường gặp nhất là chấn thương sau đặt nội khí quản kéo dài hoặc mở khí quản, ghi nhận ở 29 trường hợp (61,7%). Về đặc điểm tính chất sẹo, sẹo xơ cứng chiếm tỷ lệ cao nhất (61,7%). Theo phân loại Cohen, GS chủ yếu là độ II (50%), trong khi theo Myer - Cotton, GSTS độ III chiếm đa số (51,4%). Đa số hai dây thanh di động bình thường (80,9%). Đánh giá mức độ hẹp bằng nội soi cho kết quả tương ứng với phẫu thuật trong nhóm GS là 100%, và trong nhóm SGTS là 88,6%. Các thông số đo lường trên CT-scan (đường kính và chiều dài đoạn hẹp) có tương quan chặt chẽ với kết quả trong phẫu thuật (r = 0,932 và r = 0,967, p < 0,01). Bệnh nhân được điều trị bằng các phương pháp phẫu thuật cắt nối khí quản, đặt stent hoặc can thiệp nội soi. Kết quả sau điều trị cho thấy tỷ lệ rút ống hoặc rút mở khí quản thành công đạt 76,6%. Tỷ lệ bệnh nhân không rối loạn giọng sau điều trị là 70,2%, trong khi rối loạn giọng còn lại chiếm 29,8%. Kết luận: Nội soi, CT-scan là những phương tiện chẩn đoán và đánh giá có độ chính xác cao trong xác định đặc điểm LTS, hỗ trợ hiệu quả cho lập kế hoạch điều trị. Kết quả điều trị không chỉ thể hiện ở khả năng tái lập lưu thông đường thở, mà còn ở việc bảo tồn và phục hồi chức năng giọng nói cho bệnh nhân.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Thị Thanh Thuý, Trần Phan Chung Thuỷ, Lương Nguyễn Thanh Thảo. Khảo sát tình hình điều trị sẹo hẹp thanh khí quản tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM. Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam. 2019 Jul;68(60):60–69. doi:10.60137/ tmhvn.v68i60.30
2. Cohen SR. Congenital glottic webs in children: A retrospective review of 51 patients. Ann Otol Rhinol Laryngol Suppl. 1985 Nov-Dec;121:2–16.
3. Crimlisk JT, Horn MH, Wilson DJ, Marino B. Artificial airways: a survey of cuff management practices. Heart Lung.1996 May-Jun;25(3):225–235. doi:10.1016/s0147-9563(96)80033-1
4. Evermann M, Roesner I, Denk-Linnert DM, Klepetko W, Schweiger T, Hoetzenecker K. In-depth analysis of pre- and postoperative functional outcome parameters in patients receiving laryngotracheal surgery. Eur J Cardiothorac Surg.2024 May 3;65(5):ezae171. doi:10.1093/ejcts/ezae171
5. Miles ER, Krishna PD, Dehom S, et al. Voice and Airway Outcomes of Montgomery T-tube Placement in Laryngotracheal Stenosis. J Voice. 2022 Jul 17; doi:10.1016/j.jvoice.2022. 06.009
6. Myer CM III, O'Connor DM, Cotton RT. Proposed grading system for subglottic stenosis based on endotracheal tube sizes. Ann Otol Rhinol Laryngol. 1994 Apr;103(4 Pt 1):319–323. doi:10.1177/000348949410300410
7. Puri HV, Asaf BB, Mundale VV, et al. Predictors of Anastomotic Complications After Resection and Anastomosis for Tracheal Stenosis. Indian J Otolaryngol Head Neck Surg. 2021 Dec;73(4): 447–454. doi:10.1007/ s12070-020-02238-5
8. Rangachari V, Sundararajan I, Sumathi V, Kumar KK. Laryngeal sequelae following prolonged intubation: a prospective study. Indian J Crit Care Med. 2006;10(3):171–175.