ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG ĐAU SAU PHẪU THUẬT BƠM XI MĂNG THÂN ĐỐT SỐNG THẮT LƯNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC ĐAU CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA NGOẠI THẦN KINH BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG NĂM 2025

Đoàn Văn Thủy1,
1 Bệnh viện Đa khoa Hà Đông

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá tình trạng đau sau mổ người bệnh phẫu thuật bơm xi măng thân đốt sống thắt lưng; phân tích một số yếu tố liên quan giữa tình trạng đau sau mổ và hoạt động chăm sóc đau của điều dưỡng trên người bệnh. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu thực hiện trên 42 bệnh nhân đang điều trị tại Khoa ngoại thần kinh Bệnh viện Đa khoa Hà Đông từ 4/2025-9/2025. Kết quả: Nghiên cứu trên 42 người bệnh phẫu thuật bơm xi măng thân đốt sống thắt lưng tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông cho thấy: Điểm đau VAS giảm rõ rệt từ 3,9 ± 0,7 sau mổ 24 giờ xuống 1,1 ± 0,5 khi ra viện; đau khi vận động cao hơn đáng kể so với khi nghỉ ngơi (p < 0,05). Sau mổ, điểm đau lưng và chân đều giảm dần theo thời gian (p < 0,05). Tại thời điểm ra viện, 37/42 người bệnh VAS lưng ở mức đau nhẹ (1-3) chiếm 88,1% và có 35/42 người bệnh có VAS chân ở mức không đau (0) chiếm 83,3%. Người bệnh đánh giá cao các hoạt động chăm sóc đau của điều dưỡng như: thực hiện bài tập phục hồi chức năng, quan tâm khi người bệnh báo đau, cung cấp thông tin cho bác sĩ hỗ trợ giảm đau. Hầu hết hoạt động chăm sóc đau của điều dưỡng không ảnh hưởng đáng kể đến điểm VAS sau mổ, ngoại trừ việc đánh giá giảm đau khi ra viện có ý nghĩa (p = 0,04). Kết luận: Điểm đau VAS giảm rõ rệt sau mổ. Hoạt động chăm sóc đau của điều dưỡng được người bệnh đánh giá cao. Cần tăng cường đào tạo và chuẩn hóa chăm sóc đau, nâng cao tư vấn cho người bệnh, khuyến khích và phát huy sự tham gia của các điều dưỡng giàu kinh nghiệm.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Gerbershagen, H. J., & Peelen, L. M. (n.d.). Pain Intensity on the First Day after Surgery. PAIN MEDICINE, 11.
2. Ghori, M. K., Zhang, Y.-F. (Robert), & Sinatra, R. S. (2009). Pathophysiology of Acute Pain. In B. Ginsberg, E. R. Viscusi, O. A. de Leon-Cassasola, & R. S. Sinatra (Eds.), Acute Pain Management (pp. 21–32). Cambridge: Cambridge University Press. https://doi.org/10.1017/ CBO9780511576706.004
3. Sommer, M., de Rijke, J. M., van Kleef, M., Kessels, A. G. H., & Peters, M. L. (2007). The prevalence of postoperative pain in a sample of 1490 surgical inpatients. European Journal of Anaesthesiology, 9.
4. Nguyễn Hữu Tú (2010). Dự phòng và chống đau sau mổ, Sinh hoạt khoa học chuyên đề chống đau sau mổ, Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội, tr. 3-27.
5. Đỗ Mạnh Hùng, Vũ Văn Cường, Hoàng Hữu Đức, Nguyễn Đình Đức, & Lê Trung Anh. (2024). Đánh giá kết quả bơm xi măng sinh học có bóng điều trị người bệnh xẹp đốt sống thắt lưng thấp có loãng xương nặng. Tạp chí Y học Việt Nam, 538(3). https://doi.org/10.51298/ vmj.v538i3.9570
6. Kaptain, K., Bregnballe, V., & Dreyer, P. (2017). Patient participation in postoperative pain assessment after spine surgery in a recovery unit. Journal of clinical nursing, 26(19–20), 2986–2994.
7. Hoàng Gia Du, Đặng Hoàng Giang, & Doãn Ngọc Linh. (2022). Đánh giá mức độ đau và các yếu tố liên quan sau phẫu thuật ít xâm lấn cố định cột sống thắt lưng tại Khoa chấn thương chỉnh hình và cột sống – Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Việt Nam, 520(1A). https://doi.org/10. 51298/vmj.v520i1A.3792
8. Nguyễn Thị Thiện, Lưu Quang Thùy, Vương Thị Hòa, Vũ Thị Hằng, Nguyễn Phúc Phóng, Hoàng Thị Sinh,… Nguyễn Thị Hiếu. (2023). Kết quả chăm sóc giảm đau của điều dưỡng trên người bệnh phẫu thuật thay khớp háng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2022. Tạp chí Y học Việt Nam, 533(1B). https://doi.org/10.51298/vmj. v533i1B.7890.