NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM VÀ BIẾN THỂ SỐ BẢN SAO TRONG CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH THAI CÓ BẤT THƯỜNG CẤU TRÚC NÃO

Nguyễn Hữu Đức Anh1,2,, Trần Danh Cường1,2,3, Trần Đức Phấn4, Lương Thị Lan Anh1,2, Đoàn Thị Kim Phượng1,2,3, Hoàng Thị Ngọc Lan1,2,3, Trần Thùy Linh3, Mai Trọng Hưng5, Đinh Thúy Linh5, Phạm Thế Vương5, Phan Thị Thu Giang3, Đào Thị Trang1,2, Nguyễn Thị Minh Ngọc1, Đinh Hồng Phúc2
1 Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
2 Trường Đại học Y Hà Nội
3 Bệnh viện Phụ sản Trung ương
4 Đại học Phenikaa
5 Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm bất thường cấu trúc não trên siêu âm ở thai và phân tích biến thể số bản sao (CNV) liên quan đến bất thường cấu trúc não của thai trên siêu âm. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 207 thai có bất thường não phát hiện qua siêu âm và/hoặc MRI, được chọc ối phân tích CNV tại ba bệnh viện (Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội) từ tháng 01/2023 đến 12/2024. Dữ liệu thu thập bao gồm đặc điểm lâm sàng và kết quả xét nghiệm CNV, được phân tích mô tả bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả: Tuổi trung bình thai phụ 29,6 ± 5,4 tuổi, tuổi thai trung bình 20,3 ± 3,4 tuần; đa số các bất thường não được phát hiện ở quý II. Trong 207 trường hợp, dị tật u/nang não chiếm tỷ lệ cao nhất (39,6%), tiếp theo là các dấu hiệu cần chẩn đoán phân biệt (35,2%), dị tật đường giữa (9,7%), dị tật hố sau (9,2%), nhiều dị dạng (3,9%) và dị tật vỏ não (2,4%). Có 35,7% thai có kèm bất thường cơ quan khác. Tỷ lệ phát hiện CNV bất thường là 26,6% (55/207), tổng cộng có 65 CNV; trong đó 45 trường hợp có 1 CNV và 10 trường hợp có 2 CNV. Nhóm có dị tật kèm có tỷ lệ CNV bất thường cao hơn đáng kể so với nhóm đơn độc (p < 0,001). Trong các CNV phát hiện, 70,8% được phân loại gây bệnh, 7,7% khả năng gây bệnh, 15,4% chưa rõ ý nghĩa và 6,1% lành tính/khả năng lành tính. Kết luận: Bất thường cấu trúc não thai là nhóm dị tật đa dạng, trong đó tổn thương dạng u/nang và các dấu hiệu cần chẩn đoán phân biệt thường gặp nhất. Phân tích CNV là công cụ quan trọng trong chẩn đoán trước sinh bất thường não, đặc biệt ở các trường hợp có bất thường cơ quan khác. Hơn 70% CNV phát hiện được phân loại là gây bệnh hoặc có khả năng gây bệnh, nhấn mạnh vai trò của phân loại CNV theo mức độ tác động lâm sàng nhằm tư vấn và chẩn đoán cá thể hóa các dị tật phát hiện qua siêu âm.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Wälchli T, Ghobrial M, Schwab M, et al. Single-cell atlas of the human brain vasculature across development, adulthood and disease. Nature. 2024;632(8025):603-613. doi:10.1038/ s41586-024-07493-y
2. The Nobel Prize in Physiology or Medicine 1906. NobelPrize.org. Accessed August 22, 2024. https://www.nobelprize.org/prizes/medicine/1906/golgi/facts/?fbclid=IwY2xjawEz2NJleHRuA2FlbQIxMAABHRKMUT1XKFTcpvexNUMXSj0DDnzg814oocmmaY7qaKm8LSo6ab9BLzZ9dw_aem_vGx07Duuq3qC8E5n2f66_Q
3. Sha Z, Francks C. Large-scale genetic mapping for human brain asymmetry. Handb Clin Neurol. 2025;208:241-254. doi:10.1016/B978-0-443-15646-5.00029-4
4. Zhuang J, Zhang N, Chen Y, et al. Prenatal diagnosis and molecular cytogenetic characterization of fetuses with central nervous system anomalies using chromosomal microarray analysis: a seven-year single-center retrospective study. Sci Rep. 2024;14(1):2271. doi:10.1038/ s41598-024-52831-9
5. Commission on Novel Technologies for Neurodevelopmental Copy Number Variants. Neurodevelopmental copy-number variants: A roadmap to improving outcomes by uniting patient advocates, researchers, and clinicians for collective impact. Am J Hum Genet. 2022;109(8):1353-1365. doi:10.1016/j.ajhg.2022. 07.003
6. Wang X, Sha J, Han Y, et al. Efficiency of copy number variation sequencing combined with karyotyping in fetuses with congenital heart disease and the following outcomes. Mol Cytogenet. 2024;17(1):12. doi:10.1186/s13039-024-00681-5
7. The Fetal Medicine Foundation. Accessed November 25, 2025. https://fetalmedicine.org/ education/fetal-abnormalities
8. Shi P, Liang H, Hou Y, et al. The uncertainty of copy number variants: pregnancy decisions and clinical follow-up. American Journal of Obstetrics and Gynecology. 2023;229(2):170.e1-170.e8. doi:10.1016/j.ajog.2023.01.022