ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM MÔ BỆNH HỌC VỚI HÌNH ẢNH X QUANG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN KHÁC Ở BỆNH NHÂN SARCOM XƯƠNG TRẺ EM
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Sarcom xương là một loại u ác tính nguyên phát của xương, đặc trưng bởi khả năng tổng hợp các chất nền xương trực tiếp từ các tế bào u. X quang giúp xác định có hay không có u để hướng tới tiến hành sinh thiết phục vụ chẩn đoán mô bệnh học. Mô bệnh học giúp xác định chẩn đoán và phân típ mô bệnh nhằm phục vụ cho công tác điều trị. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đối chiếu đặc điểm mô bệnh học với hình ảnh X quang và một số yếu tố liên quan khác ở bệnh nhân Sarcom xương trẻ em. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 78 bệnh nhân dưới 16 tuổi có kết quả chẩn đoán mô bệnh học là sarcom xương theo phân loại của TCYTTG năm 2013 tại Trung tâm Giải phẫu bệnh và Sinh học phân tử, Bệnh viện K cơ sở Tân Triều từ tháng 06 năm 2015 đến tháng 06 năm 2020. Kết quả: Sarcom xương típ thông thường: ưu thế ở nam, thường gặp ≥10 tuổi, hay gặp ở vùng hành xương các xương dài, hình ảnh X quang: chủ yếu là thể hỗn hợp hủy và tạo xương, tỉ lệ di căn xa: 15,1%. Típ giãn mạch: ưu thế ở nam, thường gặp ≥10 tuổi, hay gặp ở vùng hành xương các xương dài, hình ảnh X quang: một khối hủy xương đơn thuần. Típ tế bào nhỏ: nam:nữ là 1/1, gặp ở độ tuổi <10 tuổi, hay gặp ở vùng hành xương các xương dài, hình ảnh X quang: chủ yếu là thể hỗn hợp hủy và tạo xương. Típ bề mặt độ cao: gặp ở nữ, thường gặp ≥10 tuổi, hay gặp ở vùng thân xương các xương dài, hình ảnh X quang: một khối nằm trên bề mặt xương với hình ảnh tạo xương được khoáng hóa. Kết luận: Sarcom xương thường gặp ở lứa tuổi ≥10, ưu thế nam giới, hay khu trú tại hành xương các xương dài. Típ thông thường và tế bào nhỏ có hình ảnh X quang hỗn hợp hủy – tạo xương; típ giãn mạch là khối hủy xương đơn thuần; típ bề mặt độ cao gặp ở nữ, hình ảnh tạo xương nằm trên bề mặt xương. Phân biệt đặc điểm từng típ có giá trị trong chẩn đoán và định hướng điều trị.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Mô bệnh học, X-quang, sarcom xương trẻ em.
Tài liệu tham khảo
2. Bramwell VH, Burgers M, Sneath R, Souhami R, van Oosterom AT, Voûte PA, et al. A comparison of two short intensive adjuvant chemotherapy regimens in operable osteosarcoma of limbs in children and young adults: the first study of the European Osteosarcoma Intergroup. Journal of clinical oncology : official journal of the American Society of Clinical Oncology. 1992;10(10):1579-91. DOI: 10.1200/JCO.1992.10.10.1579
3. Grimer RJ, Briggs TW. Earlier diagnosis of bone and soft-tissue tumours. The Journal of bone and joint surgery British volume. 2010;92(11):1489-92. DOI: 10.1302/0301-620X.92B11.24326
4. Đào Thị Nguyệt. Đặc điểm mô bệnh học sarcom xương trước và sau điều trị hóa chất tiền phẫu. Luận văn thạc sĩ y học: Trường Đại học Y Hà Nội; 2018.
5. Fletcher CD, Hogendoorn P, Mertens F. WHO Classification of Tumours of Soft Tissue and Bone. 4th ed. IARC Press; 2013.
6. Liu JJ, Liu S, Wang JG, Zhu W, Hua YQ, Sun W, et al. Telangiectatic osteosarcoma: a review of literature. OncoTargets and therapy. 2013;6:593-602. doi: 10.2147/OTT.S41351.
7. Nie Z, Peng H. Osteosarcoma in patients below 25 years of age: An observational study of incidence, metastasis, treatment and outcomes. Oncology letters. 2018;16(5):6502-14. DOI: 10.3892/ol.2018.9453.