SO SÁNH AN TOÀN VÀ HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT MỞ BÈ 360° ĐƯỜNG TRONG VÀ CẮT BÈ CỦNG MẠC Ở BỆNH NHÂN GLÔCÔM GÓC MỞ NGUYÊN PHÁT

Nguyễn Quang Đại1,2,, Nguyễn Công Kiệt2, Phạm Thị Thuỷ Tiên1, Mai Đăng Tâm1, Trang Thanh Nghiệp1, Nguyễn Chí Trung Thế Truyền1
1 Bệnh viện Mắt Tp. Hồ Chí Minh
2 Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: So sánh hiệu quả và tính an toàn sau 6 tháng giữa phẫu thuật mở bè 360° đường trong bằng chỉ (mở bè) và cắt bè củng mạc có sử dụng 5-fluorouracil (CBCM) trong điều trị glôcôm góc mở nguyên phát. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu so sánh trên 80 mắt của bệnh nhân glôcôm góc mở nguyên phát được phẫu thuật mở bè (41 mắt) hoặc CBCM (39 mắt). Các chỉ số được theo dõi gồm nhãn áp, số lượng thuốc hạ nhãn áp, tỷ lệ thành công (hoàn toàn và một phần), và biến chứng trong 6 tháng sau mổ. Kết quả: Sau 6 tháng, cả hai nhóm đều ghi nhận mức giảm nhãn áp có ý nghĩa lâm sàng (mở bè: từ 28,17 ± 9,11 xuống 14,20 ± 1,96 mmHg; CBCM: từ 28,39 ± 8,55 xuống 14,78 ± 2,01 mmHg; p = 0,16). Số lượng thuốc hạ nhãn áp giảm đáng kể ở cả hai nhóm, trong đó nhóm CBCM cần ít thuốc hơn (0,62 ± 1,04 so với 1,17 ± 1,20; p < 0,05). Tỷ lệ thành công tích lũy tương đương nhau (mở bè: 95,1%; CBCM: 92,3%; p = 0,586), nhưng tỷ lệ thành công hoàn toàn cao hơn ở nhóm CBCM (66,7% so với 43,9%; p = 0,01). Biến chứng xuất huyết tiền phòng xuất hiện ở 54,8% số mắt nhóm mở bè, trong khi 15,4% số mắt nhóm CBCM ghi nhận nhãn áp thấp trong tuần đầu sau mổ. Kết luận: Cả hai phương pháp đều đạt hiệu quả kiểm soát nhãn áp tốt sau 6 tháng. CBCM cho tỷ lệ thành công hoàn toàn cao hơn và giảm nhu cầu thuốc, nhưng kèm theo nguy cơ nhãn áp thấp sớm. Mở bè là lựa chọn ít xâm lấn hơn, phù hợp trong các trường hợp cần bảo tồn kết mạc.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Tham YC, Li X, Wong TY, al. E. Global prevalence of glaucoma and projections of glaucoma burden through 2040: a systematic review and meta-analysis. Ophthalmology. Nov 2014;121(11):2081-90.
2. Heijl A, Leske MC, Bengtsson B, al. e. Reduction of intraocular pressure and glaucoma progression: results from the Early Manifest Glaucoma Trial. Arch Ophthalmol. Oct 2002;120(10):1268-79.
3. Weinreb RN, Aung T, FA. M. The pathophysiology and treatment of glaucoma: a review. JAMA. May 14 2014;311(18):1901-11.
4. Cakir I, Balci AS, Alagoz N, al. e. Efficacy of gonioscopy-assisted transluminal trabeculotomy and trabeculectomy in patients with primary open-angle glaucoma and pseudoexfoliative glaucoma: A single surgeon's experience. Indian J Ophthalmol. Nov 1 2024;72(Suppl 5):S821-s826.
5. Grover DS, Smith O, Fellman RL, al. e. Gonioscopy-assisted Transluminal Trabeculotomy: An Ab Interno Circumferential Trabeculotomy: 24 Months Follow-up. J Glaucoma. May 2018; 27(5): 393-401.
6. Fontana L, De Maria M, Caristia A, al. e. Comparison of Gonioscopy-assisted Transluminal Trabeculotomy Versus Trabeculectomy With Mitomycin C in Patients With Open-angle Glaucoma. J Glaucoma. Jan 1 2021;30(1):101-108.
7. Wang L, Wang C, Wang P, al. e. Comparison of efficacy and safety between gonioscopy-assisted transluminal trabeculotomy and trabeculectomy for primary open-angle glaucoma treatment: a retrospective cohort study. BMC Ophthalmol. Dec 20 2024;24(1):533.
8. Konuganti PY, Rajamani M, Grover DS, al. e. Short-Term Outcomes of Gonioscopy-Assisted Transluminal Trabeculotomy in Patients with Advanced Glaucoma. J Curr Ophthalmol. Oct-Dec 2024;36(4):373-380.
9. Dar N, Naftali Ben Haim L, Yehezkeli V, al. e. Gonioscopy-assisted transluminal trabeculotomy in patients with advanced glaucoma. Indian J Ophthalmol. Aug 2023;71(8):3024-3030.
10. Đỗ Tấn, Bùi Thị Vân Anh, Đạt. NT. Kết quả bước đầu của phẫu thuật mở bè từ bên trong (Ab Interno). Tạp chí y học Việt Nam. 2023;1(1):262-266.