TỶ LỆ TÁI PHÁT VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN SAU ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA VIÊM RUỘT THỪA CẤP KHÔNG BIẾN CHỨNG

Lê Nguyên Khôi1, Lê Kim Long1,, Võ Đại Dũng2
1 Bộ môn Ngoại khoa, Khoa Y, Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
2 Khoa Ngoại tổng hợp, Bệnh viện Trưng Vương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Điều trị kháng sinh cho viêm ruột thừa cấp (VRTC) không biến chứng ngày càng được sử dụng như lựa chọn thay thế phẫu thuật ở nhóm người bệnh chọn lọc. Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ thành công ban đầu và nguy cơ tái phát dài hạn trong thực hành lâm sàng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ theo dõi dọc tại Bệnh viện Trưng Vương, tuyển các trường hợp VRTC không biến chứng được xác định bằng CT và điều trị kháng sinh ban đầu từ 06/2015–08/2020. Tiêu chuẩn CT không biến chứng: không thủng, không áp-xe, không đám quánh, không khí tự do và không dịch tự do nhiều; sỏi phân không loại trừ. Phác đồ: ceftriaxone + metronidazole; nếu dị ứng cephalosporin dùng ciprofloxacin + metronidazole. Người bệnh theo dõi nội trú tối thiểu 48 giờ; chuyển phẫu thuật khi đau tăng, sốt kéo dài, bạch cầu tăng, có dấu viêm phúc mạc hoặc diễn tiến xấu. Thành công ban đầu: xuất viện không phẫu thuật; thất bại: phải phẫu thuật trong đợt điều trị. Theo dõi sau xuất viện qua điện thoại; phân tích sống còn Kaplan–Meier và log-rank (p<0,05). Kết quả: Trong 5.750 trường hợp, có 222 ca điều trị nội khoa; tuổi trung bình 39,2±14,1, nam 42,7%. Tỷ lệ thành công ban đầu 95,5% (212/222), thất bại 4,5% (10/222); không tử vong. Trong 212 ca thành công, theo dõi được 164 ca (mất liên lạc 48); thời gian theo dõi trung vị 19 tháng, tối đa 75 tháng. Có 33 ca tái phát; tỷ lệ tái phát tích lũy tại 12/24/36/48 tháng lần lượt 13,7%/17,4%/21,2%/28,6%. Giới nam liên quan có ý nghĩa với tái phát (p=0,013); các yếu tố khác không khác biệt. Kết luận: Điều trị kháng sinh VRTC không biến chứng có hiệu quả ban đầu cao và an toàn, nhưng nguy cơ tái phát tăng theo thời gian; cần chọn bệnh phù hợp, theo dõi nội trú ≥48 giờ và sẵn sàng chuyển phẫu thuật khi thất bại.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Di Saverio S, Podda M, De Simone B, Ceresoli M, Augustin G, Gori A, et al. Diagnosis and treatment of acute appendicitis: 2020 update of the WSES Jerusalem guidelines. World J Emerg Surg. 2020;15(1):27. doi:10.1186/s13017-020-00306-3.
2. CODA Collaborative. A randomized trial comparing antibiotics with appendectomy for appendicitis. N Engl J Med. 2020;383(20):1907-1919. doi:10.1056/NEJMoa2014320.
3. Salminen P, Paajanen H, Rautio T, Nordström P, Aarnio M, Rantanen T, et al. Antibiotic therapy vs appendectomy for treatment of uncomplicated acute appendicitis: the APPAC randomized clinical trial. JAMA. 2015;313(23):2340-2348. doi:10.1001/jama.2015.6154.
4. Salminen P, Tuominen R, Paajanen H, Rautio T, Nordström P, Aarnio M, et al. Five-year follow-up of antibiotic therapy for uncomplicated acute appendicitis in the APPAC randomized clinical trial. JAMA. 2018;320(12):1259-1265. doi:10.1001/jama.2018.13201.
5. Herrod PJJ, Kwok AT, Lobo DN. Randomized clinical trials comparing antibiotic therapy with appendicectomy for uncomplicated acute appendicitis: meta-analysis. BJS Open. 2022;6(4):zrac100. doi:10.1093/bjsopen/zrac100.
6. Lietzén E, Salminen P, Rinta-Kiikka I, Paajanen H, Rautio T, Nordström P, et al. The accuracy of the computed tomography diagnosis of acute appendicitis: does the experience of the radiologist matter? Scand J Surg. 2018;107(1):43-47. doi:10.1177/1457496917731189.
7. Xu H, Yang S, Xing J, Wang Y, Sun W, Rong L, et al. Comparison of the efficacy and safety of antibiotic treatment and appendectomy for acute uncomplicated appendicitis: a systematic review and meta-analysis. BMC Surg. 2023;23(1):208. doi:10.1186/s12893-023-02108-1.
8. Selänne L, Haijanen J, Sippola S, Hurme S, Rautio T, Nordström P, et al. Three-year outcomes of oral antibiotics vs intravenous and oral antibiotics for uncomplicated acute appendicitis: a secondary analysis of the APPAC II randomized clinical trial. JAMA Surg. 2024;159(7):727-735. doi:10.1001/jamasurg.2023.5947.