SO SÁNH VAI TRÒ CỦA KHOẢNG TRỐNG ANION ƯỚC TÍNH VỚI THANG ĐIỂM SOFA, THANG ĐIỂM APACHE II VÀ NỒNG ĐỘ LACTAT TRONG TIÊN LƯỢNG TỬ VONG Ở BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN NẶNG (SEPSIS) TẠI TRUNG TÂM CẤP CỨU A9 - BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Trần Hữu Thông1,, Nguyễn Thanh Tùng1,2
1 Bệnh viện Bạch Mai
2 Trường Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: So sánh vai trò của khoảng trống anion ước tính với thang điểm SOFA, thang điểm APACHE II và nồng độ lactat máu trong tiên lượng tử vong trong vòng 30 ngày ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng (sepsis) tại Trung tâm Cấp cứu A9 – Bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu 206 bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng từ tháng 10/2024 đến tháng 3/2025. Tiêu chí lựa chọn gồm: Bệnh nhân ≥ 16 tuổi, được chuẩn đoán nhiễm khuẩn nặng theo tiêu chuẩn Sepsis 3- 2016 của Surviving Sepsis Campaign. Kết quả: Đường cong ROC của khoảng trống anion (AG) ước tính trong tiên lượng tử vong 30 ngày có AUC = 0,758 (95% CI: 0,691-0,825), với điểm cut-off tối ưu là 17,85 mEq/L, độ nhạy 76,2% và độ đặc hiệu 68,0%. AG ước tính có giá trị tiên lượng tử vong trong vòng 30 ngày tốt hơn so với thang điểm SOFA (AUC = 0,726), nồng độ lactat máu (AUC = 0,691) và thang điểm APACHE II (AUC = 0,648). Trong phân tích hồi quy đa biến, AG vẫn là yếu tố tiên lượng tử vong mạnh nhất với OR điều chỉnh = 3,57 (95% CI: 1,73-7,38; p = 0,001), cao hơn lactat (OR = 2,12), SOFA (OR = 2,09) và APACHE II (OR = 1,83). Kết luận: Có thể dùng khoảng trống anion ước tính như một tham số thay thế để dự đoán nguy cơ tử vong cho bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng (Sepsis) cùng với các chỉ số Lactat máu, thang điểm SOFA, thang điểm APACHE II khi các phương tiện khác không có sẵn ngay lập tức.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Buensalido JAL, MacArthur RD. Sepsis, severe sepsis, and septic shock. In: Schlossberg D, ed. Clinical Infectious Disease. 2nd ed. Cambridge University Press; 2015:13-23. doi:10.1017/CBO9781139855952.004
2. Mohr NM, Vakkalanka JP, Faine BA, et al. Serum anion gap predicts lactate poorly, but may be used to identify sepsis patients at risk for death: A cohort study. J Crit Care. 2018;44:223-228. doi:10.1016/j.jcrc.2017.10.043
3. Đào Xuân Phương. Đánh giá kết quả áp dụng gói điều trị nhiễm khuẩn và sốc nhiễm khuẩn trong giờ đầu tại khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bạch Mai. Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội.2022.
4. Jung B, Rimmele T, Le Goff C, et al. Severe metabolic or mixed acidemia on intensive care unit admission: incidence, prognosis and administration of buffer therapy. A prospective, multiple-center study. Crit Care. 2011;15(5):R238. doi:10.1186/cc10487
5. Iberti TJ, Leibowitz AB, Papadakos PJ, Fischer EP. Low sensitivity of the anion gap as a screen to detect hyperlactatemia in critically ill patients. Crit Care Med. 1990;18(3):275-277. doi:10.1097/00003246-199003000-00005
6. Kraut JA, Madias NE. Lactic Acidosis. New England Journal of Medicine. 2014;371(24):2309-2319. doi:10.1056/NEJMra1309483
7. Banks DD, Gloss LM. Folding mechanism of the (H3-H4)2 histone tetramer of the core nucleosome. Protein Sci. 2004;13(5):1304-1316. doi:10.1110/ps.03535504
8. Lucchinetti C, Brück W, Noseworthy J. Multiple sclerosis: recent developments in neuropathology, pathogenesis, magnetic resonance imaging studies and treatment. Curr Opin Neurol. 2001;14(3):259-269. doi:10.1097/00019052-200106000-00002
9. Gage BF, Waterman AD, Shannon W, Boechler M, Rich MW, Radford MJ. Validation of clinical classification schemes for predicting stroke: results from the National Registry of Atrial Fibrillation. JAMA. 2001;285(22):2864-2870. doi:10.1001/jama.285.22.2864
10. Meqdam MM, Subaih SH, Thwiny IR. Rapid detection and clinical features of influenza and parainfluenza in infants and young children hospitalized with acute lower respiratory illnesses. J Trop Pediatr. 2005;51(3):160-165. doi:10.1093/tropej/fmi002