ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT CỤC THAI KỲ CÁC TRƯỜNG HỢP NHAU BONG NON TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG

Nguyễn Trương Bảo Long 1, Trịnh Duy Thức2,, Trịnh Tiến Đạt 3, Hồ Đăng Chung4, Hoàng Thị Thanh Thảo1, Phạm Hùng Cường4
1 Bệnh viện Hùng Vương
2 Đại học Washington
3 Đại học Hutech
4 Đại học Y Dược TPHCM

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Nhau bong non (NBN) là cấp cứu sản khoa tuy có tỉ lệ bệnh không cao (0,6 – 1%), nhưng gây tử vong cho thai nhi và mẹ rất cao nếu không xử trí kịp thời. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của từng thể nhau bong non khác nhau với hi vọng tìm ra các yếu tố có thể tiên lượng mức độ nặng của nhau bong non, hướng tới mục tiêu hạn chế các biến chứng do nhau bong non gây ra. Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục thai kỳ của từng thể nhau bong non được chẩn đoán sau mổ tại bệnh viện Hùng Vương. Phương pháp: Báo cáo loạt ca hồi cứu tất cả thai phụ được chẩn đoán nhau bong non sau mổ tại Bệnh viện Hùng Vương trong vòng 5 năm từ 01/2017 đến 12/2021. Kết quả: Trong 290 trường hợp nghiên cứu, đặc điểm lâm sàng gồm đau bụng 84,5%, xuất huyết âm đạo 55,9%, tiền sản giật nặng 64,9%, siêu âm ghi nhận khối máu tụ sau nhau 30,7%. Kết cục mẹ gồm tổn thương cơ tử cung nặng và lan rộng 1,8%, máu mất trung bình 458,3 ± 237,56ml, rối loạn đông máu 3,5%, thời gian nằm viện trung bình 4,5 ± 1,78 ngày. Kết cục con gồm cân nặng lúc sinh 2311 ± 779 gram, tỉ lệ trẻ sống 86,2%, nhập khoa sơ sinh: 32,7%. Các yếu tố liên quan đến NBN thể nặng bao gồm tuổi mẹ: tuổi mẹ ≥ 35 OR = 0,27 [KTC 95% 0.1-0.72], p = 0,01; tiền sản giật OR = 2,30 [KTC 95% 1.05-5.03], p = 0,04; thời gian từ lúc có chẩn đoán đến lúc được mổ ≥ 20 phút OR =2,32 [KTC 95% 1.13-4.77], p = 0,02. Kết luận: NBN là một cấp cứu sản khoa, cần chẩn đoán và can thiệp kịp thời để làm giảm các kết cục xấu cho mẹ và con.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Ananth CV, Friedman AM, Lavery JA, VanderWeele TJ, Keim S, Williams MA. Neurodevelopmental outcomes in children in relation to placental abruption. BJOG: An International Journal of Obstetricts & Gynaecology. 2017; 124(3):463-472.
2. Colau JC et Uzan. Hématome rétroplacentaire ou DPPNI, Med.Chir, Obstétrique. 1985: 5071.
3. Đinh Tiến Đức. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xử trí rau bong non tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Luận văn Bác sĩ chuyên khoa cấp II. Trường Đại học Y Hà Nội.2015, 30-74.
4. Nguyễn Thị Minh Huệ. Nghiên cứu về chẩn đoán và xử trí rau bong non tại bệnh viện phụ sản trung ương. Luận văn thạc sỹ Y học.Trường Đại học Y Hà Nội.2011, 28-84.
5. Mukherjee Soma, Bawa Amarjeet Kaur, Sharma Surbhi, Nandanwar Yogeshwar S, Gadam Mohan. Retrospective study of risk factors and maternal and fetal outcome in patients with abruption placetac. Journal of natural science, biology, and medicine. 2014; 5(2):425.
6. Lê Anh Nam. Kết cục thai kỳ ở các trường hợp nhau bong non tại Bệnh viện Từ Dũ. Luận văn Thạc sĩ Y học. Đại học Y Dược TP.HCM.2018, 32-68.
7. Nguyễn Thị Mộng Tuyền. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng các trường hợp nhau bong non được chẩn đoán sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Từ Dũ. Luận văn chuyên khoa cấp II. Đại học Y dược TP.HCM.2019, 36-85
8. Kayani S. I., Walkinshaw S. A., Preston C. Pregnancy outcome in severe placental abruption. Bjog. 2003; 110(7):679-83.