CÁC YẾU TỐ DỰ ĐOÁN ĐÁP ỨNG THÔNG KHÍ NẰM SẤP TRÊN BỆNH NHÂN CÓ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP TIẾN TRIỂN THEO DÕI BẰNG CẮT LỚP TRỞ KHÁNG LỒNG NGỰC

Nguyễn Thị Kiều Trinh1,2, Đỗ Ngọc Sơn3,, Trần Hữu Thông4, Bùi Thị Hương Giang1,3, Đinh Văn Trung1,5
1 Trường đại học Y Hà Nội
2 Khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện E
3 Trung tâm Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bạch Mai
4 Trung tâm cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai
5 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định các yếu tố dự đoán đáp ứng với thông khí tư thế nằm sấp ở bệnh nhân có hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) được theo dõi bằng cắt lớp trở kháng lồng ngực. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu quan sát tiến cứu trên 17 bệnh nhân ARDS nặng được thông khí nhân tạo năm sấp và đo EIT 24 lần. Các đặc điểm ban đầu và dữ liệu EIT được thu thập trước và sau nằm sấp. Bệnh nhân được phân loại là "đáp ứng" nếu P/F tăng > 20mmHg sau khi nằm sấp 6 giờ. Mối tương quan giữa các yếu tố ban đầu và đáp ứng lâm sàng được phân tích bằng các thuật toán kiểm định trên SPSS. Kết quả: 17 bệnh nhân ARDS nặng được tiến hành 24 lần thông khí nằm sấp và đo EIT có P/F trung bình 93,23; SOFA trung bình 11,76. Tuổi trung bình là 51,88 ± 22,34, nam giới chiếm 64,7% và có 35,3% bệnh nhân béo phì. 17 lần (70,8%) được phân loại là có đáp ứng với thông khí nằm sấp. Phân tích hồi quy logistic đơn biến cho thấy bệnh nhân có giảm thông khí vùng phổi sau (TVP) ban đầu có khả năng đáp ứng với nằm sấp cao gấp 11,67 lần (KTC 95%: 1,49 - 91,54; p = 0,019). Tương tự, tình trạng giảm thông khí vùng phổi phụ thuộc nhất (TVROI4) ban đầu cũng liên quan đáng kể đến đáp ứng (OR = 2,43; 95% CI: 0,997-5,91; p = 0,048). Trong khi đó, tỷ lệ A/P thấp có xu hướng dự báo đáp ứng tốt hơn (OR = 0,161; 95% CI: 0,023 - 1,128; p = 0,066), nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê, có thể do cỡ mẫu hạn chế. Phân tích tương quan cho thấy mô hình phân bố khí không đồng nhất mang tính tiên lượng này có liên quan đến các đặc điểm lâm sàng ban đầu, bao gồm BMI cao hơn (r = -0,453, p = 0,026) và điểm LIS cao hơn (r = 0,472, p = 0,02). Kết luận: Các chỉ số EIT ban đầu phản ánh sự phân bố khí không đồng nhất, cụ thể là tình trạng giảm TVP và tỷ lệ A/P > 1 là những yếu tố tiên lượng mạnh mẽ đáp ứng với thông khí nằm sấp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Guérin Claude, Reignier Jean, Richard Jean-Christophe, et al. Prone Positioning in Severe Acute Respiratory Distress Syndrome. New England Journal of Medicine. 2013;368(23):2159-2168. doi:10.1056/NEJMoa1214103.
2. Matthay M a., Arabi Y, Arroliga A c., et al. A New Global Definition of Acute Respiratory Distress Syndrome. In: D16. Advancing the science of ARDS and acute respiratory failure. American Thoracic Society International Conference Abstracts. American Thoracic Society; 2023:A6229-A6229. doi:10.1164/ajrccm-conference.2023.207.1_MeetingAbstracts.A6229.
3. Franchineau G, Jonkman AH, Piquilloud L, et al. Electrical Impedance Tomography to Monitor Hypoxemic Respiratory Failure. Am J Respir Crit Care Med. 2024;209(6):670-682. doi:10.1164/rccm.202306-1118CI.
4. Perier F, Tuffet S, Maraffi T, et al. Electrical impedance tomography to titrate positive end-expiratory pressure in COVID-19 acute respiratory distress syndrome. Critical Care. 2020;24(1):678. doi:10.1186/s13054-020-03414-3.
5. Bachmann MC, Morais C, Bugedo G, et al. Electrical impedance tomography in acute respiratory distress syndrome. Critical Care. 2018;22(1):263. doi:10.1186/s13054-018-2195-6.
6. Dilken O, Rezoagli E, Yartaş Dumanlı G, Ürkmez S, Demirkıran O, Dikmen Y. Effect of prone positioning on end-expiratory lung volume, strain and oxygenation change over time in COVID-19 acute respiratory distress syndrome: A prospective physiological study. Front Med (Lausanne). 2022;9:1056766. doi:10.3389/fmed.2022.1056766.
7. Mauri T, Leali M, Spinelli E, et al. Omics approach to chest electrical impedance tomography reveals physiological cluster of ARDS characterized by increased respiratory drive and effort. Ann Intensive Care. 2025;15:90. doi:10.1186/s13613-025-01514-3.