KẾT QUẢ XẠ PHẪU GAMMA KNIFE KIỂM SOÁT U BAO SỢI THẦN KINH VIII TỒN LƯU SAU PHẪU THUẬT

Nguyễn Thanh Nhật Tâm1,, Lê Minh Huân2, Phan Quang Sơn2, Huỳnh Tiền Đức2
1 Bệnh viện Thống Nhất
2 Bệnh viện Chợ Rẫy

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: U bao sợi thần kinh VIII (UBSTK VIII) là u lành tính tại góc cầu-tiểu não, thường được điều trị bằng phẫu thuật khi u lớn hoặc có triệu chứng chèn ép. Tuy nhiên, mô u có thể còn tồn lưu sau mổ, vì cần bảo tồn các cấu trúc chức năng như dây thần kinh mặt và ốc tai. Xạ phẫu Gamma Knife là phương pháp bổ trợ ít xâm lấn, giúp kiểm soát sự phát triển của u và hạn chế biến chứng thần kinh. Mặc dù có nhiều báo cáo quốc tế về hiệu quả của phương pháp này, dữ liệu trong nước về UBSTK VIII tồn lưu sau mổ vẫn còn hạn chế. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của xạ phẫu Gamma Knife trong kiểm soát u tồn lưu, góp phần tối ưu hóa chiến lược điều trị đa mô thức cho bệnh nhân. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả kiểm soát khối u và tính an toàn của xạ phẫu Gamma Knife ở bệnh nhân VIII (UBSTK VIII) tồn lưu sau phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 50 bệnh nhân UBSTK VIII tồn lưu sau phẫu thuật, được thu nhận trong giai đoạn 5/2022-12/2023 tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Tuổi trung vị nhóm nghiên cứu là 53 tuổi. Các trường hợp được lập kế hoạch xạ phẫu với liều theo khuyến nghị thực hành (liều ngoại biên thường 12 Gy, liều tối đa khoảng 24 Gy), sau đó theo dõi định kỳ bằng lâm sàng và MRI. Lịch theo dõi sau điều trị gồm các mốc 6, 12, 24 và 36 tháng; mỗi lần tái khám đều đánh giá diễn biến triệu chứng, biến chứng và thay đổi kích thước khối u. Kết quả: Trong nhóm nghiên cứu, thời gian trung bình từ phẫu thuật đến xạ phẫu là 9,6 ± 4,1 tháng; 82% bệnh nhân được xạ phẫu trong vòng 12 tháng đầu sau mổ. Trước điều trị, triệu chứng thường gặp gồm đau đầu (84%), giảm thính lực (70%), ù tai (30,61%), liệt mặt (28%) và mất thăng bằng (18%). Về hình ảnh học, u bên trái chiếm 72%, kích thước trung bình 27,9 ± 8,4 mm, thể tích trung bình 6,5 ± 6,4 cm³. Sau xạ phẫu, tỷ lệ kiểm soát u đạt 98% (u ổn định hoặc giảm kích thước), chỉ có 1 trường hợp (2%) tăng kích thước ở thời điểm 6 tháng. Về an toàn, ghi nhận 2 trường hợp đau dây V (4%), không ghi nhận trường hợp mới giảm thính lực hay liệt mặt sau điều trị; tỷ lệ sống còn tại thời điểm đánh giá đạt 100%. Kết luận: Xạ phẫu Gamma Knife là phương pháp điều trị bổ trợ hiệu quả và an toàn cho UBSTK VIII tồn lưu sau phẫu thuật, với tỷ lệ kiểm soát u cao, cải thiện lâm sàng tốt và tỷ lệ biến chứng nặng thấp. Kết quả này ủng hộ việc tích hợp Gamma Knife vào chiến lược điều trị đa mô thức nhằm tối ưu hóa kiểm soát bệnh và chất lượng sống cho người bệnh.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Pollock BE, Link MJ. Vestibular schwannoma radiosurgery after previous surgical resection or stereotactic radiosurgery. Prog Neurol Surg. 2008;21:163-8.
2. Huang MJ, Kano H, Mousavi SH, Niranjan A, Monaco EA, Arai Y, et al. Stereotactic radiosurgery for recurrent vestibular schwannoma after previous resection. J Neurosurg. 2017;126(5):1506-13.
3. Bailo M, Boari N, Gagliardi F, Franzin A, Piloni M, Spina A, et al. Gamma Knife radiosurgery for residual and recurrent vestibular schwannomas after previous surgery: clinical results in a series of 90 patients and review of the literature. World Neurosurg. 2017;98:60-72.
4. Vương Ngọc Dương, Mai Trọng Khoa, Kiều Đình Hùng. Đánh giá kết quả điều trị u dây thần kinh số VIII bằng dao Gamma quay tại trung tâm y học hạt nhân và ung bướu bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2012;16(4):126-130.
5. Võ Văn Nho, Võ Tấn Sơn. Phẫu thuật thần kinh. Nhà xuất bản Y học, 2013.
6. Gormley WB, Sekhar LN, Wright DC, Kamerer D, Schessel D. Acoustic neuromas: results of current surgical management. Neurosurgery. 1997;41(1):50-8; discussion 8-60.
7. Germano IM, Sheehan J, Parish J, Atkins T, Asher A, Hadjipanayis CG, et al. Congress of Neurological Surgeons systematic review and evidence-based guidelines on the role of radiosurgery and radiation therapy in the management of patients with vestibular schwannomas. Neurosurgery. 2018;82(2):E49-E51.
8. Goldbrunner R, Weller M, Regis J, Lund-Johansen M, Stavrinou P, Reuss D, et al. EANO guideline on the diagnosis and treatment of vestibular schwannoma. Neuro Oncol. 2020;22(1):31-45.