NGHIÊN CỨU PHỐI HỢP PROPOFOL VÀ KETAMIN TRONG KHỞI MÊ ĐẶT MASK THANH QUẢN CHO PHẪU THUẬT BỎNG

Nguyễn Trung Phong1,2, Nguyễn Văn Quỳnh2, Trần Phi Hùng2, Võ Văn Hiển2,
1 Bệnh viện Quân y 211- Quân đoàn 34
2 Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác, Học viện Quân y

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả khởi mê đặt mask thanh quản bằng phối hợp propofol-ketamin trong phẫu thuật cắt hoại tử, ghép da ở bệnh nhân bỏng người lớn. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp lâm sàng, không đối chứng trên 30 bệnh nhân ≥ 18 tuổi, ASA I-III, được phẫu thuật cắt hoại tử bỏng, ghép da dưới gây mê toàn thân tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác. Khởi mê bằng phối hợp propofol-ketamin, đặt mask thanh quản và duy trì mê bằng propofol truyền tĩnh mạch. Đánh giá thời gian mất ý thức, thời gian đủ điều kiện đặt mask, điều kiện đặt mask thanh quản, biến đổi nhịp tim, huyết áp động mạch trung bình và các biến cố trong quá trình khởi mê. Kết quả: Thời gian mất ý thức trung bình 58,60 ± 9,40 giây, thời gian đủ điều kiện đặt mask thanh quản 179,30 ± 17,80 giây. Liều propofol khởi mê trung bình là 108,63 ± 28,78 mg, liều ketamin trung bình 44,70 ± 8,10 mg, kết hợp fentanyl 100 µg cho tất cả các trường hợp. Điều kiện đặt mask thanh quản tốt và rất tốt ở 100% trường hợp, tất cả đều đặt thành công ngay lần đầu, trong đó có 3 trường hợp cần bổ sung propofol để đạt điều kiện đặt mask thuận lợi. Nhịp tim và huyết áp giảm nhẹ sau khởi mê, tăng nhẹ sau đặt mask nhưng vẫn trong giới hạn sinh lý. Không ghi nhận trường hợp tụt huyết áp, nhịp tim chậm hoặc phải sử dụng thuốc vận mạch. Kết luận: Phối hợp propofol-ketamin trong khởi mê đặt mask thanh quản cho phẫu thuật cắt hoại tử, ghép da ở bệnh nhân bỏng giúp khởi mê nhanh, điều kiện đặt mask thuận lợi và duy trì huyết động ổn định. Phương pháp này an toàn và có thể áp dụng trong các phẫu thuật bỏng thời gian ngắn.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Tze Yong. Foo, Norhayati. Mohd Noor, Mohd Boniami. Yazid, et al. Ketamine-propofol (Ketofol) for procedural sedation and analgesia in children: a systematic review and meta-analysis. BMC Emergency Medicine. 2020: 20 (1): 81.
2. Lê Việt Anh, Phạm Quang Minh, Nguyễn Đức Phương. So sánh hiệu quả vô cảm giữa propofol và ketofol trong gây mê cho thủ thuật nội soi phế quản ống mềm trẻ em. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025: 546 (2): 202-206.
3. Dutt A, Joad AK and Sharma M. Induction for classic laryngeal mask airway insertion: Does low-dose fentanyl work? J Anaesthesiol Clin Pharmacol. 2012: 28 210-210.
4. James R. Miner, Johanna C. Moore, Erin J. Austad, et al. Randomized, double-blinded, clinical trial of propofol, 1: 1 propofol/ketamine, and 4: 1 propofol/ketamine for deep procedural sedation in the emergency department. Annals of emergency medicine. 2015: 65 (5): 479-488. e2.
5. Elaine Victoria. Willman, Gary. Andolfatto. A prospective evaluation of “ketofol”(ketamine/propofol combination) for procedural sedation and analgesia in the emergency department. Annals of emergency medicine. 2007: 49 (1): 23-30.
6. Henry. David, Joseph. Shipp. A randomized controlled trial of ketamine/propofol versus propofol alone for emergency department procedural sedation. Annals of emergency medicine. 2011: 57 (5): 435-441.
7. Blake DW, Dawson P, Donnan G, et al. Propofol induction for laryngeal mask airway insertion: dose requirement and cardiorespiratory effects. Anaesthesia & intensive care. 1992: 20 (4): 479-483.
8. Mary E. Molloy, Donal J. Buggy, Patrick Scanlon. Propofol or sevoflurane for laryngeal mask airway insertion. Canadian journal of anaesthesia. 1999: 46 (4): 322-326.
9. T. Goyagi, M. Tanaka, T Nishikawa. Fentanyl decreases propofol requirement for laryngeal mask airway insertion. Acta anaesthesiologica scandinavica. 2003: 47 (6): 771-774.