TỶ LỆ TÁI PHÁT VÀ HÓA ÁC CỦA U NHÚ ĐẢO NGƯỢC MŨI XOANG: 63 CA LÂM SÀNG

Lý Xuân Quang1,2, Nguyễn Văn Thành2,
1 Bộ môn Tai Mũi Họng - Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 Khoa Tai Mũi Họng - Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mở đầu: U nhú đảo ngược mũi xoang (Inverted Papilloma - IP) là một bệnh lý lành tính (0,5-4% tổng số các khối u vùng mũi xoang) nhưng có đặc điểm xâm lấn cục bộ phức tạp, tỷ lệ tái phát cao sau phẫu thuật (12-20%) và tiềm năng chuyển dạng ác tính thành ung thư biểu mô tế bào gai (SCC) (5-15%). Việc xác định chính xác vị trí chân bám và quản lý dài hạn là yếu tố then chốt để cải thiện tiên lượng. Mục tiêu: Tổng hợp các bằng chứng y văn cập nhật trong 10 năm gần đây về cơ chế tái phát và các yếu tố nguy cơ hoá ác của IP; (2) Khảo sát đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, hình ảnh học và kết quả điều trị trên 63 bệnh nhân (BN) tại Việt Nam. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang trên 63 BN được chẩn đoán và phẫu thuật điều trị IP từ năm 2019 đến 2025. Các biến số gồm: dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, đặc điểm hình ảnh (dày xương, vân não), vị trí giải phẫu và kết quả theo dõi. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 56,4; tỷ lệ nam/nữ là 1,4:1. Triệu chứng nghẹt mũi chiếm ưu thế (88,9%). Tỷ lệ tái phát chung là 17,46% (11/63 ca), thời gian tái phát dao động từ 6 tháng đến 30 năm. Các trường hợp tái phát sớm (<2 năm) thường do không xử lý triệt để chân bám trong lần phẫu thuật đầu. Tỷ lệ hoá ác là 1,58% (1/63 ca). Dấu hiệu dày xương khu trú trên CT-scan xuất hiện ở 61,9% BN và có giá trị định vị chân bám chính xác cao. Kết luận: U nhú đảo ngược mũi xoang tại Việt Nam có đặc điểm dịch tễ và lâm sàng tương đồng với y văn thế giới. Tỷ lệ tái phát 17,46% nhấn mạnh tầm quan trọng của phẫu thuật định hướng chân bám và vai trò của việc mài bỏ xương viêm. Hoá ác tuy hiếm gặp nhưng để lại hậu quả nặng nề, đòi hỏi quy trình theo dõi hậu phẫu nghiêm ngặt và kéo dài tối thiểu 5-10 năm.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Goudakos JK, Blioskas S, Nikolaou A, et al. Endoscopic resection of sinonasal inverted papilloma: systematic review and meta-analysis. Am J Rhinol Allergy. 2018;32(3):167-174.
2. Krouse JH. Development of a staging system for inverted papilloma. Laryngoscope. 2000;110(6):965-968.
3. Kim DY, Hong SL, Lee CH, et al. Inverted papilloma of the nasal cavity and paranasal sinuses: a Korean multicenter study. Laryngoscope. 2012;122(3):487-494.
4. Re M, Gioacchini FM, Bajraktari A, et al. Malignant transformation of sinonasal inverted papilloma and related genetic alterations: a systematic review. Eur Arch Otorhinolaryngol. 2017;274(8):2991-3000.
5. Lee DK, Chung SK, Dhong HJ, et al. Focal hyperostosis on CT of sinonasal inverted papilloma as a predictor of tumor origin. AJNR Am J Neuroradiol. 2007;28(4):618-621.
6. Kariya S, Makihara S, Naito T, et al. Attachment-oriented endoscopic surgical management for inverted papillomas in the nasal cavity and paranasal sinuses. Auris Nasus Larynx. 2019;46(5):748-753.
7. Jeon TY, Kim HJ, Chung SK, et al. Sinonasal inverted papilloma: value of convoluted cerebriform pattern on MR imaging. AJNR Am J Neuroradiol. 2008;29(8):1556-1560.
8. Mak W, Webb D, Al-Salihi S, et al. Sinonasal inverted papilloma recurrence rates and factors associated with recurrence: A retrospective review. Laryngoscope. 2018;128(12):2673-2679.