ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ MÀY ĐAY MẠN TÍNH TỰ PHÁT KHÔNG ĐÁP ỨNG VỚI LIỀU CHUẨN BẰNG KHÁNG HISTAMIN ĐƯỜNG UỐNG LIỀU GẤP ĐÔI

Trần Thị Như Quỳnh1, , Nguyễn Lan Anh2, Trịnh Công Điển1, Lê Thị Hồng Thanh1
1 Học viện Quân y
2 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của cetirizine liều 20 mg/ngày ở người bệnh mày đay mạn tính tự phát không đáp ứng với kháng histamin liều chuẩn.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, theo dõi dọc trên 48 người bệnh mày đay mạn tính tự phát không đáp ứng với điều trị kháng histamin liều chuẩn. Người bệnh được điều trị cetirizine 20 mg/ngày trong 8 tuần. Hiệu quả đánh giá bằng mức độ ngứa, số lượng sẩn phù, điểm UAS-7 và chất lượng cuộc sống (CU-Q2oL). Tính an toàn được ghi nhận qua tác dụng không mong muốn.


Kết quả: Sau điều trị, các triệu chứng cải thiện rõ rệt. Điểm trung vị mức độ ngứa giảm từ 2,50 xuống 1,00; số lượng sẩn phù giảm từ 3,00 xuống 1,00; điểm UAS-7 giảm từ 38,50 xuống 14,00 (p < 0,001). Điểm CU-Q2oL giảm từ 107,00 xuống 46,50 (p < 0,001). Tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 27,1% sau 8 tuần; 48% người bệnh duy trì kiểm soát sau 4 tuần ngừng thuốc. Tác dụng không mong muốn chủ yếu nhẹ, thường gặp là buồn ngủ (12,5% sau 4 tuần, 6,3% sau 8 tuần). Không ghi nhận bất thường xét nghiệm có ý nghĩa lâm sàng. Mức độ ngứa và số lượng sẩn phù trước điều trị liên quan có ý nghĩa với đáp ứng (p < 0,05).


Kết luận: Cetirizine liều 20 mg/ngày là phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn ở người bệnh mày đay mạn tính tự phát không đáp ứng với liều chuẩn. Mức độ nặng của triệu chứng ban đầu có thể là yếu tố dự báo đáp ứng điều trị.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Thu NT. Kết quả điều trị mày đay mạn tính bằng kháng histamin H1 liều tăng dần tại một số cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Vinh. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;553(2):234–238.
2. Vân NH, Cường NP. Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh mày đay mạn tính bằng levocetirizin liều 10 mg. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108. 2022;18–23.
3. Kaplan AP. Chronic spontaneous urticaria: pathogenesis and treatment considerations. Allergy Asthma Immunol Res. 2017;9(6):477–482.
4. Nguyen MTT, Le MH, Vu MN và cộng sự. Clinical and quality of life improvement after bilastine treatment among patients with autoimmune chronic spontaneous urticaria. PLoS One. 2025;20(8):1–12.
5. Okubo Y, Shigoka Y, Yamazaki M và cộng sự. Double dose of cetirizine hydrochloride is effective for patients with urticaria resistant: a prospective randomized comparative study and assessment of quality of life. J Dermatol. 2013.
6. Sánchez J, Zakzuk J, Cardona R. Prediction of the efficacy of antihistamines in chronic spontaneous urticaria based on initial suppression of the histamine-induced wheal. J Investig Allergol Clin Immunol. 2016;26(3):177–184.
7. Xiao X, Xue P, Shi Y và cộng sự. The efficacy and safety of high-dose nonsedating antihistamines in chronic spontaneous urticaria: a systematic review and meta-analysis of randomized clinical trials. BMC Pharmacol Toxicol. 2023;24(1):1–14.
8. Zuberbier T, Abdul Latiff AH, Abuzakouk M và cộng sự. The international EAACI/GA²LEN/EuroGuiDerm/APAAACI guideline for the definition, classification, diagnosis and management of urticaria. Allergy. 2022;77(3):734–766.