ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ LÂM SÀNG GIỮA CHO ĂN SỚM VÀ MUỘN QUA ĐƯỜNG MIỆNG SAU PHẪU THUẬT LẤY THAI DƯỚI GÂY TÊ TUỶ SỐNG

Đỗ Văn Lợi1, , Lưu Thị Như Ngọc2, Trần Thị Hồng Vân3, Nguyễn Thị Thanh4
1 Bệnh viện Đại học Phenikaa
2 Bệnh viện Phụ sản Trung ương
3 Bệnh viện Từ Dũ
4 Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả lâm sàng và cận lâm sàng của các sản phụ sau phẫu thuật lấy thai dưới gây tê tuỷ sống được cho ăn sớm hay muộn.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thuần tập tiến cứu trên 100 sản phụ (SP) đều được cho ăn thức ăn cháo thịt lỏng mềm, chia làm hai nhóm: Nhóm ăn muộn (nhóm M): Cho ăn theo thường quy của bệnh viện (thường sau mổ 8 giờ); Nhóm ăn sớm (nhóm S): Cho ăn sau 4 giờ phẫu thuật. Các biến số về kết quả lâm sàng (thời gian xuất hiện nhu động ruột trở lại, thời gian trung tiện, sự hài lòng của SP), các kết quả xét nghiệm (đường huyết và điện giải trước, sau mổ) được ghi lại.


Kết quả: Ở nhóm S, thời gian có nhu động ruột trở lại trung bình là 7,60 ± 2,98 giờ, trong khi ở nhóm M là 16,84 ± 1,95 giờ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Tương tự, thời gian trung đại tiện đầu tiên ở nhóm S (9,22 ± 3,62 giờ) ngắn hơn đáng kể so với nhóm M (18,05 ± 2,96 giờ) với p < 0,001. Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa về nồng độ đường máu và điện giải giữa hai nhóm tại các thời điểm trước mổ và sau ăn 2 giờ (p > 0,05). Mức độ hài lòng của SP không khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm S và M (p > 0,05).


Kết luận: Cho ăn sớm sau mổ lấy thai là một chiến lược an toàn và hiệu quả, giúp rút ngắn có ý nghĩa thời gian hồi phục nhu động ruột so với cho ăn muộn. Các chỉ số đường máu và điện giải duy trì ổn định cho thấy không xảy ra rối loạn chuyển hóa hay mất cân bằng điện giải sau mổ. Kết quả này ủng hộ việc áp dụng cho ăn sớm như một phần của chăm sóc chu phẫu góp phần thúc đẩy phục hồi sớm và nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Thanh Xuân, Lê Văn Dũng, Nguyễn Trung Hậu, cs. Đánh giá giảm đau đa mô thức trong việc áp dụng ERAS cho phẫu thuật lấy thai cấp tại bệnh viên Trung Ương Huế. Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung Ương Huế. 2024(87):5-10.
2. Dumas L, Lepage M, Bystrova K, et al. Influence of skin-to-skin contact and rooming-in on early mother-infant interaction: a randomized controlled trial. Clin Nurs Res. 2013;22(3):310-36.
3. Moore ER, Bergman N, Anderson GC, Medley N. Early skin-to-skin contact for mothers and their healthy newborn infants. Cochrane Database Syst Rev. 2016;11(11):CD003519.
4. Ogbadua AO, Agida TE, Akaba GO, et al. Early Versus Delayed Oral Feeding after Uncomplicated Cesarean Section under Spinal Anesthesia: A Randomized Controlled Trial. Niger J Surg. 2018;24(1):6-11.
5. Mariette C. Role of the nutritional support in the ERAS programme. J Visc Surg. 2015;152 Suppl 1:S18-20.
6. Aydin Y, Altunyurt S, Oge T, Sahin F. Early versus delayed oral feeding after cesarean delivery under different anesthetic methods--a randomized controlled trial anesthesia, feeding in cesarean delivery. Ginekol Pol. 2014;85(11):815-22.
7. Mawson AL, Bumrungphuet S, Manonai J. A randomized controlled trial comparing early versus late oral feeding after cesarean section under regional anesthesia. Int J Womens Health. 2019;11:519-25.
8. Barat S, Esmaeilzadeh S, Golsorkhtabaramiri M, et al. Women’s satisfaction in early versus delayed postcaesarean feeding: A one-blind randomized controlled trial study. Caspian J Intern Med. 2015;6(2):67-71.
9. Hu C, Fei K, Liu Y, et al. The Impact of Regular Diet Recovery on Postoperative Rehabilitation After Elective Cesarean Section. Matern Fetal Med. 2024;6(2):78-83.