ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỨC ĐỘ HẠN CHẾ CHỨC NĂNG THEO THANG ĐIỂM ROLAND-MORRIS Ở NGƯỜI BỆNH ĐAU THẮT LƯNG MẠN TÍNH

Trần Trung Hiếu1, , Trần Thị Diệp1, Phạm Xuân Hiệp1
1 Đại học Quốc tế Hồng Bàng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mở đầu: Đau thắt lưng mạn tính là bệnh lý cơ xương khớp phổ biến, ảnh hưởng đáng kể đến khả năng lao động, sinh hoạt và chất lượng cuộc sống. Người bệnh không chỉ chịu đau kéo dài mà còn gặp khó khăn trong các hoạt động thường ngày như đi lại, cúi người, thay đổi tư thế hay tự chăm sóc cá nhân. Tình trạng đau kéo dài có thể dẫn đến giảm vận động, yếu cơ và gia tăng mức độ hạn chế chức năng. Đáng chú ý, cường độ đau không phải lúc nào cũng phản ánh đầy đủ mức độ ảnh hưởng đến khả năng vận động và sinh hoạt, do đó cần có công cụ đánh giá toàn diện hơn.


Thang điểm Roland–Morris được sử dụng rộng rãi nhằm đánh giá mức độ hạn chế chức năng trong đau thắt lưng mạn tính, giúp phản ánh rõ hơn tác động của bệnh lên đời sống người bệnh so với việc chỉ đo lường đau. Việc mô tả đặc điểm lâm sàng và mức độ hạn chế chức năng có ý nghĩa quan trọng trong định hướng điều trị, phục hồi chức năng và theo dõi hiệu quả can thiệp. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu sử dụng thang điểm này còn hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và mức độ hạn chế chức năng theo thang Roland–Morris ở người bệnh đau thắt lưng mạn tính.


Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá mức độ hạn chế chức năng theo thang điểm Roland–Morris ở người bệnh đau thắt lưng mạn tính. Đồng thời, xác định mối liên quan giữa điểm số Roland–Morris với một số đặc điểm lâm sàng của người bệnh.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên người bệnh ≥18 tuổi bị đau thắt lưng mạn tính trên 3 tháng, điều trị ngoại trú; loại trừ các bệnh lý cột sống nghiêm trọng. Dữ liệu thu thập bằng phỏng vấn với bộ câu hỏi gồm đặc điểm nhân khẩu học, lâm sàng và thang Roland–Morris. Các biến lâm sàng gồm vị trí đau, mức độ đau (NRS), đau khi đổi tư thế, thời điểm xuất hiện và đau lan chân. Hạn chế chức năng được đánh giá bằng Roland–Morris (0–24 điểm), điểm cao hơn phản ánh hạn chế nhiều hơn.


Kết quả: Người bệnh đau thắt lưng mạn tính chủ yếu ở độ tuổi trung niên – cao tuổi, với cường độ đau trung vị NRS là 6. Vị trí đau thường gặp nhất là hai bên (48,4%). Đau xuất hiện nhiều khi thay đổi tư thế, đặc biệt ở động tác đứng–ngồi (73%), nằm–ngồi (53,2%), ngồi–đứng (41,3%) và ngồi–nằm (32,5%); 42,1% có đau lan xuống chân.


Điểm Roland–Morris trung vị là 12, với 95,2% người bệnh có hạn chế chức năng. Điểm RMDQ tương quan dương yếu với tuổi (rs = 0,18; p = 0,05) và tương quan dương mạnh với cường độ đau (rs = 0,59; p < 0,01). Ngoài ra, RMDQ liên quan với đau khi thay đổi tư thế (ngồi–đứng, đứng–ngồi), thời điểm đau trong ngày (trưa, chiều) và đau lan xuống chân (p < 0,05).


Kết luận: Người bệnh đau thắt lưng mạn tính có mức độ hạn chế chức năng đáng kể trong sinh hoạt hằng ngày. Mức độ hạn chế này liên quan đến tuổi, cường độ đau, đau khi thay đổi tư thế, thời điểm xuất hiện đau trong ngày và tình trạng đau lan xuống chân. Thang điểm Roland–Morris là công cụ hữu ích để đánh giá mức độ hạn chế chức năng và hỗ trợ định hướng can thiệp phục hồi chức năng phù hợp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Farley, T., et al., Chronic low back pain: History, symptoms, pain mechanisms, and treatment. 2024. 14(7): p. 812.
2. Mattiuzzi, C., G. Lippi, and C. Bovo, Current epidemiology of low back pain. Journal of Hospital Management and Health Policy, 2020. 4.
3. Chuong, N.V., et al., Pain incidence, assessment, and management in Vietnam: a cross-sectional study of 12,136 respondents. Journal of Pain Research, 2019: p. 769-777.
4. Roland, M. and R. Morris, A study of the natural history of back pain. Part I: development of a reliable and sensitive measure of disability in low-back pain. Spine (Phila Pa 1976), 1983. 8(2): p. 141-4.
5. Brinkman, M., et al., Current use of PROMs and factors associated with their use in patients with nonspecific low back pain. 2019. 3(4): p. e10194.
6. Airaksinen, O., Chapter 4. European guidelines for the management of chronic nonspecific low back pain. Eur Spine J, 2006. 15(Suppl 2): p. S192-300.
7. Koes, B.W., M.W. van Tulder, and S. Thomas, Diagnosis and treatment of low back pain. Bmj, 2006. 332(7555): p. 1430-4.
8. Hancock, M.J., et al., Systematic review of tests to identify the disc, SIJ or facet joint as the source of low back pain. Eur Spine J, 2007. 16(10): p. 1539-50.