NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT CỤC THAI KỲ Ở THAI PHỤ THIỂU ỐI TẠI BỆNH VIỆN ĐỒNG NAI 2 NĂM 2025
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Bất thường về nước ối, bao gồm cả đa ối và thiểu ối, đều có thể làm tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong đối với mẹ và thai nhi. Trong đó, thiểu ối là yếu tố nguy cơ nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thai nhi và góp phần làm gia tăng khả năng đẻ khó hoặc cần phải mổ lấy thai. Thiểu ối được định nghĩa là tình trạng giảm thể tích nước ối so với tuổi thai.
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân và đánh giá kết cục thai kỳ ở sản phụ thiểu ối tại Bệnh viện Đồng Nai 2 từ năm 2025-2026.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 650 sản phụ trong đó có 77 sản phụ thiểu ối.
Kết quả: Tuổi mẹ trung bình 29,25 ± 5 tuổi với 82,5% phụ nữ tuổi 20-<35 tuổi; mang thai lần đầu (62,92%), chưa sanh lần nào (62,31%), cân nặng trước mang thai là 50kg; tăng cân bình thường chiếm 74,46%; ngôi chẩm chậu chiếm ưu thế 92%. Bề cao tử cung 29,45 ± 2,6cm. Vòng bụng 92,6 ± 6,0cm. Tim thai trung bình 141 ± 5,13 nhịp/phút. Ngôi đầu chiếm 95%, chỉ số ối trung bình 3,76 ± 1,24cm. Đường kính lưỡng đỉnh thai nhi là 8,88 ± 0,52cm. Chiều dài xương đùi là 6,93 ± 0,39cm. Mổ lấy thai là phương pháp sanh thường gặp của thiểu ối (90%). Sau mổ nước ối bình thường chiếm 89,27% và cân nặng trẻ sơ sinh trung bình là 2972,5 ± 500,17 gram; tình trạng bé lúc mang sinh có chỉ số Apgar tốt là 99,37%.
Kết luận: Các trường hợp thiểu ối đều có triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng trong giới hạn bình thường nhưng kết quả điều trị chủ yếu là phẫu thuật mổ lấy thai, không có trường hợp nào khởi phát chuyển dạ theo dõi sanh ngã âm đạo.
Từ khóa
Thiểu ối, mổ lấy thai
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Đỗ Tuấn Đạt, Thành Xuân Anh, Phan Thị Huyền Thương, Lương Hoàng Thành, Nguyễn Xuân Mỹ (2026), "Mức độ thiểu ối: các yếu tố liên quan và kết cục thai kỳ tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2024", Tạp chí Y học Cộng đồng, tr.67 (1).
3. Ninh Văn Minh, Hoàng Tiến Nam, Trần Thị Len (2013), "Thiểu ối ở thai trên 28 tuần, các yếu tố liên quan và phương pháp xử trí tại Bệnh viện Phụ sản Thái Bình", Tạp chí Y học thực hành, 874 (6), Tr. 90-1.
4. Lâm Đức Tâm, Nguyễn Vũ Quốc Huy (2014), "Đánh giá kết quả điều trị thiểu ối nhập viện tại Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ", Tạp chí phụ sản, 12 (3), Tr. 74-78.
5. Taylor Bynarowicz, Suzanne Jenkins, Anthony Shanks (2025), "Oligohydramnios", StatPearls.
6. F. G. Cunningham, K. J. Leveno, S. L. Bloom, J. S. Dashe, B. L. Hoffman, B. M. Casey, C. Y. Spong (2018), Williams Obstetrics 26th edition, (Physiology of labor), McGraw-Hill Education New York, pp.400-440.
7. Matiyas Asrat Shiferaw, Ananya Solomon, Sintayehu Getachew, Wondimu Gudu (2024), "Maternal and perinatal outcomes of oligohydramnios in late term and post term pregnancies at public hospitals in Ethiopia: a cross-sectional study", BMC Women's Health, 24 (1), pp.113.
8. Ann L Yaktine&Kathleen M Rasmussen (2010), "Weight gain during pregnancy: reexamining the guidelines".