TUỔI THỌ CATHETER TĨNH MẠCH NGOẠI VI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIÊM TĨNH MẠCH NGOẠI VI TẠI KHOA NHI – SƠ SINH 02 BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC NHA TRANG VÀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC ĐÀ NẴNG

Lê Tấn Lực1,
1 Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Nha Trang

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Đường truyền tĩnh mạch ngoại vi (Peripheral Intravenous Catheter – PIVC) là phương tiện thiết yếu trong điều trị Nhi – Sơ sinh để truyền dịch, thuốc và chế phẩm máu. Tuy nhiên, đặc điểm giải phẫu và sinh lý mạch máu của trẻ nhỏ khiến việc duy trì PIVC ổn định gặp nhiều khó khăn, dễ dẫn đến rút catheter sớm và các biến chứng như viêm tĩnh mạch. Nhiều nghiên cứu cho thấy tuổi thọ trung bình của PIVC ở trẻ em chỉ khoảng 29 – 48 giờ. Tại Việt Nam, dữ liệu về tuổi thọ PIVC và các yếu tố liên quan còn hạn chế, đặc biệt tại các bệnh viện đa khoa quốc tế. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tuổi thọ PIVC và các yếu tố liên quan tại khoa Nhi – Sơ sinh của hai bệnh viện thuộc hệ thống Vinmec.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đối tượng Trẻ sơ sinh và trẻ em có chỉ định nhập viện tại khoa Nhi – Sơ sinh có đặt ống thông tĩnh mạch từ tháng 08 đến tháng 12 năm 2025. Nghiên cứu thu thập được 844 mẫu, sử dụng phiếu thu thập dữ liệu có cấu trúc (structured data collection form/checklist) được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đây về tuổi thọ catheter tĩnh mạch ngoại vi ở trẻ em.


Kết quả: Trong 844 trẻ, PIVC >72 giờ chiếm 78,1%; ≤30 giờ 19,2%; >30 – ≤72 giờ 2,7%. Hồi quy cho thấy bệnh viện liên quan độc lập (AOR=1,49; p=0,016). Biến chứng tại chỗ mạnh nhất (AOR≈28; p<0,001); vị trí không thuận lợi tăng nguy cơ (COR=1,42); tĩnh mạch khó bảo vệ (AOR=0,56).


Kết luận: Tuổi thọ PIVC nhìn chung cao nhưng thất bại sớm vẫn đáng kể. Biến chứng tại chỗ là yếu tố quyết định, cùng ảnh hưởng của khác biệt bệnh viện và kinh nghiệm điều dưỡng. Cần chuẩn hóa quy trình, tăng đào tạo kỹ thuật, giảm thao tác/thuốc – dịch truyền không cần thiết và kiểm soát biến chứng để nâng an toàn.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Birhane E, Kidanu K, Kassa M, al. e. Lifespan and associated factors of peripheral intravenous Cannula among infants admitted in public hospitals of Mekelle City, Tigray, Ethiopia, 2016. BMC Nurs. 2017;16(1):1–8. doi:10.1186/s12912-017-0227-1.
2. Blanco-Mavillard I, Rodríguez-Calero M, Castro-Sánchez E, Bennasar-Veny M, de Pedro-Gómez JE, Parra-García G, et al. Peripheral venous catheter-related adverse events: a systematic review and meta-analysis. PLoS ONE. 2019;14(1):e0212206.
3. Helm RE, Klausner JD, Klemperer JD, Flint LM, E. H. Accepted but unacceptable: peripheral IV catheter failure. J Infus Nurs. 2015;38(3):189–203. doi:10.1097/NAN.0000000000000100.
4. Marsh N, Larsen EN, Genzel J, Kleidon T, Keogh S, CM. R. Peripheral intravenous catheter failure: A secondary analysis of risks from 11,830 catheters. J Hosp Med. 2021;16(7):402-9.
5. Owen VS, Rosgen BK, Cherak SJ, al. e. Adverse events associated with administration of vasopressor medications through a peripheral intravenous catheter: a systematic review and meta-analysis. Crit Care. 2021;25(1):1–12. doi:10.1186/s13054-021-03553-1.
6. Spas SK, SK. S. Venous access in neonates’. Int J Contemp Pediatr. 2018;5(4):1571. doi:10.18203/2349-3291.ijcp20182567.
7. Wallis MC, McGrail M, Webster J, al. e. Risk factors for peripheral intravenous catheter failure: a multivariate analysis of data from a randomized controlled trial. Infect Control Hosp Epidemiol. 2014;35(1):63–68. doi:10.1086/674398.
8. Webster J, Osborne S, Rickard CM, N. M. Clinically-indicated replacement versus routine replacement of peripheral venous catheters. Cochrane Database Syst Rev. 2019;(1):CD007798.