ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ NGUYÊN NHÂN TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN MÁU Ở TRẺ EM TẠI KHOA SỐT XUẤT HUYẾT – HUYẾT HỌC BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tăng bạch cầu ái toan (BCAT) ở trẻ em là tình trạng có thể gặp trong nhiều bệnh lý khác nhau, từ nhiễm trùng, dị ứng đến các bệnh lý huyết học ác tính. Tuy nhiên, đặcđiểmlâmsàng,cận lâmsàng vànguyên nhâncủatăng BCATởtrẻemvẫn chưa được môtảđầyđủtrongthựchànhlâmsàng.
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nguyên nhân của tăng bạch cầu ái toan máu ở trẻ em.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 34 bệnh nhi từ 1 tháng đến 18 tuổi được ghi nhận tăng bạch cầu ái toan máu. Các biến số được thu thập gồm tuổi, giới, triệu chứng lâm sàng, tiền căn gia đình, mức độ tăng bạch cầu ái toan, thiếu máu, giảm tiểu cầu, xét nghiệm ký sinh trùng và đột biến gen liên quan bệnh lý ác tính. Số liệu được trình bày dưới dạng tần số, tỷ lệ phần trăm; so sánh các biến phân loại bằng phép kiểm Chi-square hoặc Fisher exact test; p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.
Kết quả: Tuổi trung vị của nhóm nghiên cứu là 5,8 tuổi (khoảng tứ phân vị: 2,1-10,4), nam chiếm 58,8%. Sang thương da là biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất (47,1%), tiếp theo là triệu chứng tiêu hóa (35,3%), hô hấp (26,5%), dấu hiệu thiếu máu (20,6%); 17,6% trường hợp không có triệu chứng và được phát hiện tình cờ. Tiền căn gia đình dị ứng ghi nhận ở 38,2% trường hợp. Tăng bạch cầu ái toan mức độ nhẹ, trung bình và nặng lần lượt là 44,1%, 35,3% và 20,6%. Thiếu máu gặp ở 29,4%, giảm tiểu cầu 8,8%, xét nghiệm ký sinh trùng dương tính 29,4% và đột biến gen liên quan bệnh lý ác tính 5,9%. Nguyên nhân thường gặp nhất là dị ứng (58,8%), tiếp theo là ký sinh trùng (29,4%), ác tính (8,8%) và chưa rõ nguyên nhân (2,9%). Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ tăng bạch cầu ái toan và nhóm nguyên nhân chung (p = 0,032). Khi phân tích riêng từng nhóm nguyên nhân, tỷ lệ nguyên nhân dị ứng giảm dần theo mức độ tăng bạch cầu ái toan (p = 0,021), trong khi nhóm ác tính tập trung nhiều hơn ở mức độ tăng nặng (p = 0,047).
Kết luận: Tăng bạch cầu ái toan ở trẻ em chủ yếu liên quan đến dị ứng và ký sinh trùng. Biểu hiện thường gặp là sang thương da và triệu chứng tiêu hóa. Trẻ có tăng bạch cầu ái toan mức độ nặng, kèm thiếu máu hoặc giảm tiểu cầu cần được đánh giá sâu hơn để loại trừ bệnh lý ác tính.
Từ khóa
Bạch cầu ái toan, dị ứng, ký sinh trùng, ác tính.
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Çetinkaya PG, Soyak Aytekin E, Esenboğa S, et al. Eosinophilia in children: characteristics, etiology and diagnostic algorithm. Eur J Pediatr. 2023;182(6):2789-2798.
3. Costagliola G, Di Marco S, Comberiati P, et al. Practical Approach to Children Presenting with Eosinophilia and Hypereosinophilia. Curr Pediatr Rev. 2020;16(2):81-88.
4. Gotlib J. World Health Organization-defined eosinophilic disorders: 2022 update on diagnosis, risk stratification, and management. Am J Hematol. 2022;97(1):129-148.
5. O’Connell EM, Nutman TB. Eosinophilia in infectious diseases. Immunol Allergy Clin North Am. 2015;35(3):493-522.
6. Schwartz C, Fulkerson PC. An approach to the evaluation of persistent hypereosinophilia in pediatric patients. Front Immunol. 2018;9:1944.
7. Simon D, Wardlaw A, Rothenberg ME. Organ-specific eosinophilic disorders of the skin, lung and gastrointestinal tract. J Allergy Clin Immunol. 2010;126(1):3-13.