KẾT CỤC THAI KỲ CỦA CÁC SẢN PHỤ SONG THAI QUẢN LÝ THAI TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HẢI PHÒNG

Bùi Văn Hiếu1,2,3, , Nguyễn Thị Hoàng Trang2, Trần Ngọc Khánh2, Phạm Xuân Lộc3, Lê Minh Tâm1, Nguyễn Vũ Quốc Huy1
1 Trường Đại học Y Dược Huế
2 Trường Đại học Y - Dược Hải Phòng
3 Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả kết cục thai kỳ của các sản phụ song thai đến khám và quản lý thai tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thuần tập theo dõi dọc trên 100 thai phụ  song thai, tuổi thai khi vào nghiên cứu 14-24 tuần, tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng từ 2023 đến 2025 và siêu âm ngả âm đạo đo chiều dài cổ tử cung và góc cổ tử cung định kỳ ở các mốc 16, 18, 20, 22 và 24 tuần.

Kết quả: Độ tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất là < 35 tuổi (75%), phần lớn mang thai bằng hỗ trợ sinh sản (72%) và chủ yếu là song thai hai bánh nhau - hai buồng ối (85%). 51% trường hợp có dự phòng sinh non (khâu vòng cổ tử cung 20%, giảm co kết hợp nội tiết 17%, nội tiết đơn thuần 12%). Các bệnh lý phát sinh trong thai kỳ gồm dọa đẻ non, đa ối và tiền sản giật với tỷ lệ lần lượt là 51%, 17% và 7% trong đó tiền sản giật nặng có 4 ca (4%), chỉ có 1 trường hợp song thai 1 bánh rau có thai chậm tăng trưởng. Kết cục thai kỳ: tuổi thai trung bình khi sinh 35,83 ± 2,135 tuần, trong đó tỷ lệ sinh đủ tháng và sinh non muộn với tỷ lệ lần lượt là 67% và 21%, các kết cục xấu gồm có sinh non sớm <34 tuần (12%), tiền sản giật nặng (4%) và thai chết sau sinh (3%). Các yếu tố liên quan đến sinh non sớm gồm có chiều dài cổ tử cung < 31,9mm (OR=5.37, p<0.001), hình ảnh lỗ trong cổ tử cung (CTC) quý II (chữ Y, U) (OR=3.16, p=0.02).

Kết luận: Sinh non sớm là kết cục xấu hay gặp nhất ở sản phụ song thai. Trong đó các yếu tố về hình thái cổ tử cung có liên quan đến kết cục xấu này.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Mai Ngọc Ba, Giang TTL. Nghiên cứu một số biến chứng và kết quả thai kỳ ở các sản phụ song thai. Tạp chí Phụ sản. 2020;18(3):34-40.
2. Nguyễn Thùy Nhung, Vũ Văn Bạ, Vũ Thị Hà, Vương Thị Vui. KẾT QUẢ THAI NGHÉN CỦA SONG THAI MỘT BÁNH RAU, HAI BUỒNG ỐI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;537(1B).
3. Laine K, Murzakanova G, Sole KB, Pay AD, Heradstveit S, Räisänen S. Prevalence and risk of pre-eclampsia and gestational hypertension in twin pregnancies: a population-based register study. BMJ open. 2019;9(7):e029908.
4. Li S, Gao J, Liu J, Hu J, Chen X, He J, et al. Perinatal outcomes and risk factors for preterm birth in twin pregnancies in a Chinese population: a multi-center retrospective study. Frontiers in Medicine. 2021;8:657862.
5. Melamed N, Pittini A, Hiersch L, Yogev Y, Korzeniewski SS, Romero R, et al. Serial cervical length determination in twin pregnancies reveals 4 distinct patterns with prognostic significance for preterm birth. American journal of obstetrics and gynecology. 2016;215(4):476. e1-. e11.
6. Kuusela P, Jacobsson B, Hagberg H, Fadl H, Lindgren P, Wesström J, et al. Second trimester transvaginal ultrasound measurement of cervical length for prediction of preterm birth: a blinded prospective multicentre diagnostic accuracy study. BJOG: An International Journal of Obstetrics & Gynaecology. 2021;128(2):195-206.
7. Lazarov S, Lazarov L, Lazarov N. Complications of multiple pregnancies. Overwiew. 2016.