NHỮNG CA LÂM SÀNG TÂN SẢN VẢY BỀ MẶT NHÃN CẦU TRÊN MÁY CHỤP CẮT LỚP CỐ KẾT QUANG HỌC PHẦN TRƯỚC

Đoàn Kim Thành1, Trần Thị Cẩm Thanh2, , Dương Nguyễn Việt Hương3, Dương Nguyễn Việt Hương2, Vũ Thị Việt Thu2, Trần Minh Trí2, Trần Công Anh1, Trương Tuyết Phương1
1 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
2 Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh
3 Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm trên hình chụp cắt lớp cố kết quang học phần trước (AS-OCT, Anterior Segment Optical Coherence Tomography) của loạt ca bệnh lý tân sản vảy bề mặt nhãn cầu (Ocular Surface Squamous Neoplasia, OSSN), với những mức độ loạn sản khác nhau được xác định bằng kết quả giải phẫu bệnh.


Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca (10 mắt trên 10 bệnh nhân) OSSN tại khoa Giác mạc, Bệnh viện mắt thành phố Hồ Chí Minh, trong tháng 01/2026.


Kết quả: Trong 10 ca nghiên cứu có 9/10 bệnh nhân là nam, tuổi trung bình là 62 tuổi (±16,16 tuổi), 7/10 ca làm việc ngoài trời, 4/10 ca đã từng phẫu thuật bề mặt nhãn cầu. Lý do đến khám phổ biến là cảm giác cộm (4/10 ca). Thị lực ≥5/10 ghi nhận ở 5/10 trường hợp. Tổn thương gặp chủ yếu ở mắt phải (8/10 ca) và nằm tại rìa kết–giác mạc (8/10 ca), dạng nhú (6/10 ca).


Trên ảnh AS-OCT, biểu mô dày lên, tăng quang (10/10 ca), có điểm chuyển đổi đột ngột giữa biểu mô bình thường sang bất thường (9/10 ca). Bất thường vùng phân tách giữa lớp biểu mô và dưới biểu mô trên AS-OCT gặp trong 6/10 ca tương ứng giải phẫu bệnh là loạn sản nặng (2 ca) và ung thư tế bào vảy (4 ca). Biến đổi bất thường lớp dưới biểu mô trên AS-OCT tương ứng giải phẫu bệnh là biến đổi quang sừng hoá (1 ca), mô viêm (1 ca), tế bào bất thường phá vỡ màng đáy xâm lấn lớp dưới biểu mô (3 ca).


Kết luận:


Quan sát những thay đổi trong lớp biểu mô, vùng phân tách, lớp dưới biểu mô trên ảnh chụp AS-OCT sẽ giúp gợi ý bản chất sang thương và mức độ loạn sản trong bệnh lý OSSN. Đây là công cụ không xâm lấm, cung cấp hình ảnh khách quan, giúp phẫu thuật viên có những bước chuẩn bị phù hợp cho cuộc phẫu thuật.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Mannis MJ, Holland EJ. Cornea. vol 2. Elsevier Health Sciences; 2021.
2. Thanh HCT. Ứng dụng đặc điểm lâm sàng kết hợp mô bệnh học để đánh giá nguy cơ ác tính bệnh tân sản tế bào vảy bề mặt nhãn cầu. Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh; 2023.
3. Yeoh CHY, Lee JJR, Lim BXH, et al. The Management of Ocular Surface Squamous Neoplasia (OSSN). Int J Mol Sci. Dec 31 2022;24(1)doi:10.3390/ijms24010713
4. Theotoka D, Wall S, Galor A, et al. The use of high resolution optical coherence tomography (HR-OCT) in the diagnosis of ocular surface masqueraders. The ocular surface. 2022;24:74-82.
5. Gündüz AK, Mirzayev I, Okcu Heper A, et al. Anterior segment optical coherence tomography in ocular surface tumours and simulating lesions. Eye (Lond). Apr 2023;37(5):925-937. doi:10.1038/s41433-022-02339-1
6. Shousha MA, Karp CL, Canto AP, et al. Diagnosis of ocular surface lesions using ultra-high-resolution optical coherence tomography. Ophthalmology. May 2013;120(5):883-91. doi:10.1016/j.ophtha.2012.10.025
7. Vempuluru VS, Jakati S, Godbole A, Mishra DK, Mohamed A, Kaliki S. Spectrum of AS-OCT features of ocular surface tumors and correlation of clinico-tomographic features with histopathology: a study of 70 lesions. Int Ophthalmol. Nov 2021;41(11):3571-3586. doi:10.1007/s10792-021-01939-2
8. Nanji AA, Sayyad FE, Galor A, Dubovy S, Karp CL. High-resolution optical coherence tomography as an adjunctive tool in the diagnosis of corneal and conjunctival pathology. The ocular surface. 2015;13(3):226-235